Trước kia hội Đền Hùng mở trong ba ngày từ
mồng 8 đến mồng 10, ngày mồng mười là ngày
chính hội và cũng là ngày giã hội. Thời vua Lê
Thánh Tông ngày Giỗ Tổ đã trở thành quốc lễ.
Đên thời vua Tự Đức triều Nguyễn việc này tiếp
tục duy trì, theo lệ Chính hội 5 năm một lần chủ
tế là quan Thượng thư bộ lễ, thường hội năm lẻ
tuần phủ Phú Thọ làm đồng chủ trì, chủ tế. Lễ
được cử hành vào sáng mồng 10, về dự có tri
huyện Lâm Thao, Phù Ninh làm bồi tế và các
chức dịch Tổng lý các xã.
T
ỗ
g
h
g
Hội Đền Hùng có nhiều hoạt động văn hóa trong đó có các hoạt động phục vụ việc lễ và
những trò vui giải trí phục vụ người dự hội. Khi xưa trong lễ hội có diễn xướng mô
phỏng lại cảnh sinh hoạt thời dựng nước như cảnh đi săn, rước voi, chạy địch, rước lúa
Thần (trò Trám- Tứ Xã), rước chúa gái ( Ngọc Hoa)... Không chỉ có xã sở tại Hy Cương
làm giỗ mà nhiều xã khác ở Lâm Thao, Phù Ninh cũng thờ Hùng Vương, vợ con tướng
lĩnh Vua Hùng cũng mở hội tại làng và rước kiệu về Đền
Hùng. Xưa này có đến mấy chục cỗ kiệu được rước từ đình
làng các xã đến chầu ở Đền Hùng. Kiệu được xếp hàng ở
chân núi để chấm giải. Kiệu nào được giải nhất lần sau được
rước lên Đền Thượng. Một đám rước như vậy được các
làng, xã tổ chức rất công phu gồm ba kiệu đi liền nhau. Cỗ
kiệu đầu đầy hương hoa, đèn nến, trầu cau, bình nước, nậm
rượu. Cỗ kiệu thứ hai rước bài vị thánh có lọng vàng che. C
đã làm cho lễ hội Đền Hùng mang
thêm một sắc thái mới.Hội Đền Hùng
năm nay ngoài các sinh hoạt văn hóa
văn nghệ trò diễn dân gian, đặc sắc
của vùng Đất Tổ như: hát xoan, đánh
trống đồng, đâm đuống, biểu diễn
ức, Hùng Lô, Chu Hóa, Cao Mại, Sơn
Vi cò có biểu diễn nghệ thuật của đoàn chèo và kịch nói Phú Thọ với các vở: Thánh
khổng lồ và chàng thợ đúc, Mai An Tiêm, Thầy khóa làng tôi, các trích đoạn chèo hay,
các vở kịch ngắn, kịch vui đặc sắc; chiếu phim video màn ảnh 100 inch của Công ty điệ
ảnh băng hình, hội trại văn hóa của 12 huyện, thị, thành và 6 ngành thông tin cổ động của
các tỉnh miền Bắc do Cục VHTT cơ sở tổ chức, 4 đoàn văn công TW được Bộ VHTT
điều động phục vụ đồng bào ở Việt Trì và Đền Hùng; đốt cây bông, thả đèn trời ở khu
trung tâm lễ hội; về hoạt động thể thao có bắn nỏ, cờ tướng cờ người, thi đấu bóng
chuyền, giãi vô địch của tỉnh Phú Thọ, giải vật dân tộc toàn quốc do ủy ban thể thao VN
tổ chức...
cồng chiêng, cờ người, rước kiệu của các xã Kim D
n
V
ề Phú Thọ trong những ngày hội làng và nhất là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, khách thập phương
được chứng kiến những cảnh sinh hoạt văn hóa dân gian phong phú, hấp dẫn. Nổi bật là hình thức
diễn tấu trống đồng - một biểu hiện rực rỡ của nền văn mình nông nghiệp thời các Vua Hùng dựng
nước.
Ngày xưa trống đồng được cất giữ trong các gia
đình lang đạo Mường và chỉ đem ra đánh vào dịp
tùng để chỉ âm thanh phát ra khi
đánh vào núm mặt trời ở giữa, có thể hình dung tiết tấu sinh
động của lối đánh trống trong lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vươn
Có lúc
Cái thay đổi âm sắc bằng cách đảo ngược âm sắc
chinh và tùng.
Như vậy ta thấy phần
Con chỉ đánh chinh và tùng một cách
đều đặn, đơn giản. Phần Cái đi đảo phách. Cứ 3 nhịp 1 /4 thì
Cái với Con lại cùng chập ở nhịp thứ 4, tạo nên những chu
kỳ đều đặn mang tính trường canh. Khi Cái chuyển "bài" t
ra một màu sắc và không khí mới thì tất cả các Con đều
chuyển theo, các nghệ nhân thường giã nặng tay hơn, do đó
lực độ mạnh hơn. Không khí rộn ràng, linh hoạt hẳn lên.
Hãy tạm gọi những chỗ Cái và Con cùng đánh là phần "xô" để kết thúc một "vế", thì ở vế
Cái thường đi cùng tiết tấu với Con và làm hiệu để tiếp vào vế 2 chẳng hạn.
Tùng chinh tùng chinh (Vế 1)
Rồi đến Tùng tùng tùng chinh ( vế 2)
Cũng có khi vế 2 được nhắc lại hai lần rồi mới quay lại vế 1, tuỳ theo sự ngẫu hứng của
nghệ nhân. Cũng có khi nghệ nhân đánh đánh 7 nhịp rồi mới cho
Cái và Con gặp nhau ở
nhịp thứ 8.
Nghệ thuật diễn tấu trống đồng của đồng bào Mường trong lễ hội Giổ Tổ Hùng Vương
gắn liền với một ý thức cộng đồng có tổ chức rõ ràng. Tuy không biết chính xác lối diễn
tấu trống đồng của người Lạc Việt từ buổi bình minh lịch sử, song dựa trên những sinh
hoạt dân gian truyền thống của đồng bào Mường ở vùng đất Tổ hiện nay, chúng ta biết
chắc rằng từ ngàn xưa cha ông mình đã có những sinh hoạt trống đồng phong phú. ở vùng Đất Tổ có rất nhiều hội làng được tổ chức vào mùa xuân. Các tròn diễn về thần
Gần đến ngày hội, dân làng đến trang trí phòng ở cho cô gái sau đó để cô ở một mình
tách hẳn với gia đình. Mọi việc ăn uống sinh hoạt có các cô gái khác phục vụ. Ngày rước
Chúa gái, dân làng tổ chức trò diễn "Bách nghệ khôi hài" để mong cho Chúa gái được
vui. Theo các cụ kể lại thì đó là tục của làng diễn lại sự tích công chúa Ngọc Hoa. Sau
khi kết hôn với Sơn Tinh nàng lại trở về với bố mẹ đẻ ở vùng này, lâu không trở về với
chồng vì thế Tản Viên phải đến đón vợ. Vì thương nhớ cha mẹ, Ngọc Hoa buồn nên nhân
dân đã phải làm trò "khôi hài" để nàng vui. Người con gái lấy chồng sau đó lại trở về nhà
mình một thời gian đó là phong tục có từ thời Hùng Vương khi xã hội phụ quyền đã hình
thành nhưng vẫn còn tàn dư của xã hội mẫu quyền. Điều này không chỉ được thể hiện ở
hội làng, ở các trò diễn, mà nó còn là thực tế trong đám cưới ở một địa phương ở Phú
Thọ. ở đám cưới của người Mường huyện Thanh Sơn, Yên Lập trong đêm tân hôn, cô
dâu ngủ chung với bạn bè tới dự rồi sớm hôm sau trở về nhà mình một thời gian, sau đó
mới về nhà chồng. Trong một thời gian ở nhà mình thường khi nhà trai cođ việc hoặc
ngày rằm, ngày tiệc cô dâu mới về nhà chồng, nhưng chỉ về vào buổi tối, sớm hôm sau lại
về nhà mình. Từ lễ cưới đến xin về (có nơi gọi là lễ lại mặt) thời gian không quy định, có
thể vài ba ngày, có thể một thời gian khá dài khi cô dâu có thai mới làm lễ xin về. Lễ này
cũng được tổ chức long trọng vui vẻ, sau đó bà con trong họ, bạn bè của cô dâu giúp cô
dâu mang của hồi môn về nhà chồng.