MỘT SỐ HƯỚNG DẪN ÔN THI ĐẠI HỌC
(PHẦN 9) X. TRỌNG ÂM Ở TỪ 2 ÂM TIẾT, 3 ÂM TIẾT VÀ NHIỀU
HƠN 3 ÂM TIẾT
1. MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA VỀ TRỌNG ÂM
- “Mức độ của lực mà bằng lực đó người nói phát âm ra một âm thanh
hoặc âm tiết được gọi là trọng âm của nó” (Daniel Joné. 1909: 141)
- “Trọng âm là sự phát âm của một từ hoặc một âm tiết với nhiều lực hơn
so với các từ hoặc các âm tiết xung quanh. Một từ hoặc âm tiết được đánh
dấu trọng âm được phát âm bằng cách sử dụng nhiều khí từ phổi hơn”
(Richard, J. C et al. 1992: 355)
2. BẢN CHẤT CỦA TRỌNG ÂM TỪ
Các âm tiết mang trọng âm trong từ đều có một đặc điểm chung: Sự
nổi bật (prominence). Có 4 yếu tố làm nên sự nổi bật đó:
(i) Độ lớn (loudness) : Các âm tiết mang trọng âm được phát âm lớn hơn các
âm tiết không mang trọng âm.
(ii) Độ dài (length) : Các âm tiết mang trọng âm được kéo dài khi phát âm
hơn các âm tiết không mang trọng âm.
(iii) Độ cao (pitch) : Các âm tiết mang trọng âm được phát âm ở độ cao
hơn.
(iv) Độ khác biệt (quality) : Các âm tiết mang trọng âm chứa đựng một
nguyên âm khác biệt về chất với các nguyên âm trong các âm tiết không
mang trọng âm còn lại.
Ví dụ: father /’fɑðə/ , canal /kə’næl/ , disagree /dɪsə’ɡrɪ:/ , indication
/,ɪndɪ’keɪʃn/ , representative /,reprɪ’zentətɪv/
3. CÁC CẤP ĐỘ CỦA TRỌNG ÂM
- Tất cả những nguyên âm ngắn và dài đều là những nguyên âm
mạnh và tất cả đều xuất hiện trong những âm tiết mạnh, có trọng âm.
- Những nguyên âm yếu chỉ nằm trong các âm tiết yếu, không có
trọng âm. Những nguyên âm ngắn /ɪ/ và /υ/ cũng có thể xuất hiện trong
âm tiết yếu. Nguyên âm yếu thứ ba, mà thực tế là nguyên âm phổ biến
nhất trong phát âm Tiếng Anh, là /ə/.
- Tóm lại, âm tiết mạnh (có chứa nguyên âm mạnh) là âm tiết có thể
có trọng âm, còn âm tiết yếu (có chứa nguyên âm yếu, tạm thời hiểu
nhanh là có 3-/ɪ/-/υ/-/ə/) là âm tiết không có trọng âm-không được nhấn
âm. Các quy tắc dưới đây có đề cập đến các khái niệm này.
5. MỘT SỐ QUY TẮC ĐÁNH TRỌNG ÂM
a. Từ hai âm tiết (Two-syllable words)
Đối với từ có hai âm tiết, trọng âm có thể rơi vào hoặc âm tiết đầu
hoặc âm tiết thứ hai.
- Đối với động từ, tính từ, trạng từ và giới từ có quy luật cơ bản như sau:
nếu âm tiết thứ hai có chứa nguyên âm dài hoặc nguyên âm kép (ngoại
trừ əʊ) thì trọng âm rơi vào âm tiết thứ hai. Ví dụ: arrive [ə'raɪv] (v),
attract[ə'trækt] (v), correct[kə'rekt] (a), perfect['pɜ:fɪkt] (a), alone[ə'ləʊn]
(adv), inside[ɪn'saɪd] (prep)…
- Ngược lại, nếu âm tiết thứ hai có chứa nguyên âm ngắn hoặc nguyên
âm kép əʊ, hoặc được kết thúc bằng một phụ âm thì trọng âm rơi vào âm
tiết đầu.
Ví dụ: open ['əʊpən] (v), borrow ['bɒrəʊ] (v), lovely ['lʌvlɪ] (a), sorry
['sɒrɪ] (a), rather ['rɑ:ðə] (adv)
- Đối với danh từ, nếu âm tiết thứ hai có chứa nguyên âm ngắn thì trọng
âm rơi vào âm tiết đầu. Ví dụ: money ['mʌnɪ], product ['prɒdʌkt], larynx
['lærɪŋks] … Và ngược lại, nếu âm tiết thứ hai có chứa nguyên âm
dài hoặc nguyên âm kép thì trọng âm rơi vào âm tiết thứ hai.
ese(Portugese, Japanese), -ique(unique), -ette(cigarette, laundrette), -
esque(picturesque), -eer(mountaineer), -ality(personality), -
oo (bamboo), -oon (balloon), -mental (fundamental).
Ngoại lệ: CENtigrade, COMrade, DEcade ; COffee, comMITtee,
ENgine, PEdigree; CUkoo; TEAspoon
(ii) Phụ tố không làm thay đổi trọng âm chính của từ gốc. Ví dụ: pleasant
['plezənt], unpleasant [n'plezənt], market ['m:kt], marketing
['m:ktŋ].
*Các phụ tố không làm ảnh hưởng đến trọng âm câu: -able, -age, -
al, -en, -ful, -ing, -ish, -less, -ment, -ous, -er, -or, -ise/-ize, -hood, -like,
-ship, -ness; -en, dis, -im, -in, -un, -non, -over, -re.
(iii) Sự có mặt của phụ tố làm thay đổi vị trí của trọng âm chính của từ gốc.
Ví dụ: magnet ['mægnt], magnetic [mæg'netk].
*Trong các từ có các hậu tố dưới đây, trọng âm được đặt ở âm tiết
ngay trước hậu tố:
-ian (musician), - id (stupid), -ible (possible), -ish (foolish), -
ive (native), -ous(advantageous), -ial(ly) (proverbial, equatorial), -
ic (climatic), -ity (ability, tranquility), -ual, -tion, -sion, -ical; -ia, -iar, -
ior, -ular; -ience, -ient, -iance, -iant, -iency; -ious, -eous; -uous; -itive, -
logy, -graphy.