TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
---------------------------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
“GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONG
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN”
SINH VI£N: NGUYỄN THỊ HOA
LỚP: A2-CN9
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: LÊ THỊ THANH
HÀ NỘI – 2003
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................................
CHƯƠNG I - KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG
VÀ DÀI HẠN..............................................................................................................................
I. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.........................................
3.2.1. Cho vay kinh doanh kỳ hạn.............................................................................................
II. KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN..................................................
CHƯƠNG 2 - ............................................................................................................................
I. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG............................................................
III. KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI
THƯƠNG TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI
HẠN...........................................................................................................................................
IV. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH CỦA VIETCOMBANK TRONG HOẠT ĐÔNG TÍN DỤNG
TRUNG VÀ DÀI HẠN..............................................................................................................
CHƯƠNG 3................................................................................................................................
I – NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÂN
HÀNG NGOẠI THƯƠNG........................................................................................................
hàng nước ngoài. Ngoài ra, có 7 công ty tài chính được thành lập và
tham gia vào thị trường tiền tệ và hệ thống tiết kiệm bưu điện trải rộng
khắp nơi.
1
Tạp chí Ngân hàng, số Xuân Quý Mùi, 1+2/2003, trang 50.
Nhìn tổng thể, ở Việt nam có một hệ thống ngân hàng đầy đủ các
thành phần kinh tế với mạng lưới rộng lớn, phân bổ ở các tỉnh và thành
phố, đủ năng lực để đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Tuy nhiên, so với các nước trên thế giới và thậm chí trong khu vực thì
các ngân hàng thương mại của Việt nam chưa thể là các ngân hàng
mạnh. Khả năng cạnh tranh còn yếu với số vốn điều lệ rất thấp. Trong
khi đó tại các nước khu vực, các ngân hàng trung bình có số vốn điều
lệ lớn gấp nhiều lần các ngân hàng Việt nam cộng lại. Việc bố trí mạng
lưới chi nhánh của các ngân hàng Việt nam còn chưa hợp lý, nhất là ở
các địa phương có nhu cầu dịch vụ ngân hàng thấp dẫn đến việc cạnh
tranh không lành mạnh. Đối với lĩnh vực cho vay, nhất là cho vay trung
và dài hạn là mục tiêu của hầu như tất cả các ngân hàng thương mại, thì
cuộc cạnh tranh này càng khốc liệt hơn.
Từ thực tiễn đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao khả
năng cạnh tranh của Ngân hàng Ngoại thương trong hoạt động tín dụng
trung dài hạn”, với mục tiêu chính là nghiên cứu khả năng cạnh tranh
trong hoạt động tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng Ngoại thương
Việt nam và đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh của Ngân hàng trong hoạt động này. Với những vấn đề
được nghiên cứu, tôi hy vọng rằng các ngân hàng thương mại nói
chung và Ngân hàng Ngoại thương Việt nam nói riêng sẽ nâng cao
được khả năng cạnh tranh của mình trong hoạt động tín dụng trung và
dài hạn, một phần rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng góp phần
vào sự phát triển của Ngân hàng, cũng như sự phát triển bền vững của
nền kinh tế. Mặc dù đã cố gắng tối đa khi nghiên cứu nhưng do sự hạn
đình và cá nhân bằng các khoản vay tiêu dùng…. Hoạt động cho vay của
ngân hàng không chỉ là việc chuyển một tài sản của ngân hàng cho một
người/tổ chức nào đó mà chính là việc tạo ra tiền mới. Hoạt động tín dụng
không hiệu quả do chất lượng tín dụng không tốt và quản lý tín dụng
không tốt là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những thất bại của các
ngân hàng và khủng hoảng ngân hàng trên thế giới. Tuy hiện nay tiêu chí
mới của các tổ chức tài chính thế giới không lấy một ngân hàng chỉ “đi
vay để cho vay” làm một ngân hàng điển hình mà khuyến khích phát triển
mô hình ngân hàng đa năng, nhưng tín dụng vẫn là một nghiệp vụ vô
cùng quan trọng không thể thiếu để phân biệt ngân hàng với các tổ chức
tài chính khác.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của ngành ngân hàng, các sản
phẩm dịch vụ ngày càng được đa dạng nhằm đáp ứng đầy đủ được các
nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng. Cùng với sự thay đổi không
ngừng của ngành tài chính, các loại hình cho vay cũng được mở rộng và
đổi mới. Có rất nhiều tiêu thức để phân loại các loại hình tín dụng nhưng
không có loại nào là đặc biệt thoả đáng và chính xác. Dưới đây là một số
loại hình tín dụng được phân biệt dựa trên những tiêu thức khác nhau
nhằm làm rõ sự đa dạng của hoạt động này.
2. Phân loại tín dụng
2.1. Căn cứ vào thời hạn của hợp đồng tín dụng
2.1.1. Tín dụng ngắn hạn
Là loại tín dụng có thời hạn không quá 1 năm. Loại tín dụng này
được dùng cho các kế hoạch có tính thời điểm và thường xuyên. Tại Việt
nam hiện nay hoạt động tín dụng ngắn hạn phát triển rất mạnh. Các ngân
hàng cấp tín dụng cho các công ty xuất nhập khẩu bán/mua hàng hoá. Tín
dụng có thể được cấp dựa trên tài khoản công ty mở tại ngân hàng. Tuỳ
thuộc chất lượng khách hàng mà tín dụng này sẽ được cấp nhiều hay ít, và
tỉ lệ ký qũy cao hay thấp, hoặc miễn ký quỹ.
2.1.2. Tín dụng trung và dài hạn
Về thực chất, bảo lãnh không phải là tín dụng thuần tuý. Ngân
hàng đứng ra bảo lãnh cho khách hàng trong giao dịch mua chịu với công
ty nước ngoài hay vay của ngân hàng nước ngoài, đóng thuế cho nhà
nước hay trong các hợp đồng đấu thầu. Việc này đồng nghĩa với việc
ngân hàng cấp cho khách hàng một khoản tín dụng, khi đến thời hạn
thanh toán, nếu khách hàng chưa hoặc không có khả năng chi trả thì ngân
hàng là người đứng ra trả hộ. Với dịch vụ này, ngân hàng thu của khách
hàng phải trả khoản phí bảo lãnh tính trên phần trăm của số tiền được bảo
lãnh. Do tính rủi ro cao nên các ngân hàng thường phải dựa vào uy tín của
khách hàng cũng như việc kiểm tra chặt chẽ tình hình tài chính của khách
hàng để quyết định có cấp tín dụng bảo lãnh hay không. Loại hình này
cũng áp dụng rất rộng rãi tại các ngân hàng Việt nam.
2.2.4. Đồng tài trợ
Với những hợp đồng tín dụng có giá trị lớn (của những dự án
lớn của quốc gia/công ty) mà một ngân hàng không thể đảm nhận,
phương thức đồng tài trợ (hay liên kết tín dụng) thường được áp dụng.
Theo phương thức này, một số ngân hàng cùng tham gia cho vay với một
ngân hàng đứng ra làm ngân hàng đầu mối giao dịch với khách hàng bằng
các điều khoản đã được thoả thuận giữa các ngân hàng với nhau. Tại Việt
nam, các dự án mang tầm cỡ quốc gia như Dự án Khí điện đạm Cà Mau,
Đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn…. đều được các ngân hàng thương
mại lớn cùng ký kết hợp đồng đồng tài trợ. Có những hợp đồng có cả các
ngân hàng lớn của nước ngoài tham gia. Ngân hàng đứng ra làm đầu mối
thường là Ngân hàng Ngoại thương Việt nam và Ngân hàng Công thương
Việt nam.
2.2.5. Leasing
Leasing (thuê mua) là phương thức mà nhờ đó một doanh nghiệp
có thể có được tài sản có giá trị lớn như các cấu kiện nhà máy, thiết bị và
xe cộ… mà không cần phải xuất vốn. Thay vì mua đứt các tài sản đó,
hạn, cho vay luân chuyển, cho vay theo dự án, cho vay hỗ trợ mua lại
công ty giúp cho các hãng kinh doanh có một lượng vốn lớn hơn rất nhiều
và ổn định, tạo điều kiện phát triển cho các hãng. Đây là nghiệp vụ có tỉ
trọng lớn nhất trong hoạt động cho vay của các ngân hàng Việt nam.
2.3.2. Cho vay tiêu dùng và cho vay bất động sản
Lý do tồn tại mạnh mẽ của loại hình tín dụng này là tâm lý gửi tiền
của dân chúng: người ta hy vọng khi gửi tiền vào một ngân hàng thì sẽ có
khả năng vay lại tiền từ chính ngân hàng đó lúc cần. Tiền huy động từ tiết
kiệm trong dân cư hiện nay là nguồn vốn quan trọng và sinh lợi cao cho
ngân hàng, vì vậy các ngân hàng không nề hà cho vay khoản mục này.
Tuy nhiên, tình hình tài chính của các cá nhân và hộ gia đình không ổn
định chắc chắn, khiến cho chi phí và rủi ro đối với ngân hàng cũng rất
cao. Ngoài ra, cho vay tiêu dùng chịu tác động của chu kỳ kinh doanh nên
một đặc điểm quan trọng của tín dụng tiêu dùng là lãi suất áp dụng rất
cao. Cho vay mua nhà thế chấp hay cho vay tín chấp, cho vay theo thẻ tín
dụng là những hình thức phổ biến của loại tín dụng này.
Tuy nhiên, tại Việt nam hiện nay các ngân hàng chưa phát triển
loại hình cho vay này, nhất là tại các ngân hàng thương mại nhà nước.
Hiện nay tại Vietcombank đã có phòng Cho vay Ngắn hạn (cho vay tiêu
dùng), khách hàng chủ yếu là cán bộ công nhân viên của Ngân hàng, các
hộ kinh doanh và các hộ gia đình, cá nhân. Việc cho vay đòi hỏi phải có
tài sản thế chấp và chỉ được vay theo một tỉ lệ thấp hơn giá trị thực của tài
sản thế chấp (thường bằng 80%). Tuy nhiên, điều kiện về tài sản thế chấp
rõ ràng là gây khó khăn, bởi các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu đất
đai, công ty…. Do vậy loại hình cho vay này chưa được các ngân hàng
Việt nam phát huy hết tác dụng của nó.
3. Các loại hình cho vay trung và dài hạn của các Ngân hàng
Thương mại
Theo cách phân chia một cách khoa học về phương thức cho vay
hỏi phải có tài sản thế chấp hay điều kiện bảo lãnh ngặt nghèo. Cho vay
theo số dư có thể gồm các hình thức sau:
3.2.1. Cho vay kinh doanh kỳ hạn
Các hãng kinh doanh sử dụng khoản vay này cho các hoạt động
đầu tư trung và dài hạn: mua thiết bị, xây dựng công trình… Khách hàng
xin vay trọn gói dựa trên chi phí dự tính của dự án và sẽ thanh toán khoản
vay làm nhiều lần. Như vậy, dòng thu nhập trong tương lai của dự án là
cơ sở của việc thanh toán khoản vay. Các khoản vay kỳ hạn đòi hỏi phải
có bảo đảm bằng tài sản cố định thuộc sở hữu của người vay. Do mức độ
rủi ro lớn trong suốt quá trình thực hiện dự án mà các cán bộ tín dụng
phải cân nhắn cẩn thận các yếu tố: (1) trình độ quản lý của hãng, (2)chất
lượng hệ thống kế toán và kiểm toán hãng đang sử dụng, (3) tình hình tài
chính của hãng trong qua khứ, (4) cam đoan không thế chấp tài sản cho
các chủ nợ khác, (5) bảo hiểm tài sản của hãng có thoả đáng hay không,
(6) rủi ro công nghệ đối với hãng, (7) độ dài khoảng thời gian trước khi
dự án thu được lợi nhuận, (8) các xu hướng của nhu cầu thị trường và, (9)
trạng thái tài sản ròng của hãng.
3.2.2. Cho vay dự án dài hạn
Cho vay dự án dài hạn là loại hình cho vay kinh doanh có mức độ
rủi ro cao nhất. Khoản tín dụng này được dùng để tài trợ cho việc xây
dựng các tài sản cố định có thể mang lại thu nhập trong tương lai có quy
mô lớn. Các tài sản cố định trên có thể là các công trình mang tính chiến
lược quốc gia. Vì quy mô lớn và tính rủi ro cao của loại hình này mà ngân
hàng thường đòi hỏi phải có bảo lãnh, theo đó ngân hàng có thể thu hồi
khoản vay từ tổ chức bảo lãnh khi khách hàng không có hoặc không đủ
khả năng trả nợ. Đồng thời, việc cho vay đòi hỏi sự tham gia của một số
tổ chức tài chính khác nhằm chia sẻ rủi ro. Cũng có trường hợp các khoản
tín dụng trên có thể được thực hiện không cần có bảo lãnh nhưng mức lãi
suất áp dụng sẽ cao hơn nhiều và đòi hỏi có tài sản thế chấp cho tới khi dự
án kết thúc.
ngoài thường lựa chọn vay vốn tại ngân hàng liên doanh hay chi
nhánh của ngân hàng nước ngoài.
Sản phẩm đơn điệu do ngân hàng chỉ cho vay theo dự án mà không
tính đến nhu cầu của khách hàng. Điều này gây khó khăn cho
doanh nghiệp trong khâu xin vay.
Chịu sức ép nhiều mặt của các đối thủ cạnh tranh trong khối ngân
hàng và các tổ chức tài chính khác.
Từ vị thế là người chủ trên thị trường và trong mối quan hệ với
khách hàng, hiện nay ngân hàng phải mời chào các doanh nghiệp
vay nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động được (đây là
điều tất yếu trong nền kinh tế thị trường).
Công cụ chủ yếu được sử dụng trong cạnh tranh ngày nay là cạnh
tranh bằng lãi suất. Điều này làm giảm tính hiệu quả của công tác
tín dụng, bởi lãi suất được tính toán trên nhiều cơ sở, trong đó rủi
ro là yếu tố quan trọng.
II. KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN
1. KHÁI NIỆM:
“ Cạnh tranh là hoạt động liên quan đến hai hoặc các công ty, trong đó mỗi
công ty cố gắng thuyết phục mọi người thích mua hàng hoá của công ty mình
hơm là hàng hoá của công ty khác.” – Collins Cobuild English Dictionary.
Theo kinh tế học, cạnh tranh là sự tranh giành thị trường (khách
hàng) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp. Như vậy, một nền
kinh tế thị trường luôn đòi hỏi phải có cạnh tranh mà cạnh tranh theo
nghĩa là tranh giành thị phần chỉ có trong khuôn khổ của kinh tế thị
trường. Cạnh tranh được phân chia thành 2 loại: cạnh tranh hoàn hảo
và cạnh tranh không hoàn hảo. Thị trường có cạnh trạnh hoàn hảo là thị
trường có quá nhiều người bán và người mua cùng một hàng hoá đồng
nhất đến mức không ai có thể ảnh hưởng đến giá cả thị trường. Nếu có
2
Managerial Economics, Keat Paul G.
3
Micheal Porter, “Competitive strategies”, 1985
2. CẠNH TRANH GIỮA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1.HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỂ HIỆN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1.1.
Tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn
Đây là chỉ tiêu cho biết rõ nét nhất về kết quả cho vay trung và dài
hạn của ngân hàng. Giá trị của các khoản cho vay phản ánh phần nào khả
năng thu hút khách hàng của ngân hàng cũng như cho biết ngân hàng có
khoản vốn huy động mạnh đến thế nào mới có thể cung ứng một cách đầy
đủ cho những khoản vay trên. Kết hợp với chỉ tiêu thị phần, khối lượng
của dư nợ tín dụng trung và dài hạn khẳng định vị trí của ngân hàng trên thị
trường.
2.1.2. Thị phần
Các ngân hàng cạnh tranh với nhau mà một trong những kết quả của
cuộc cạnh tranh đó được phản ánh trên thị phần của mỗi ngân hàng. Lẽ tất
nhiên, không phải ngân hàng nào có thị phần lớn hơn sẽ tập trung được
nhiều ảnh hưởng về mình nhưng điều này cũng cho thấy vị thế và sự ổn
định của ngân hàng này trên thị trường. Vì vậy, thị phần luôn là một mục
tiêu được các nhà quản trị ngân hàng quan tâm để đạt được lớn hơn so với
các đối thủ cạnh tranh khác.
2.1.3. Chất lượng khách hàng
Chỉ cần nhìn vào các khách hàng của một ngân hàng, người ta đã có
biết được phần nào khả năng thu hồi nợ của ngân hàng và qua đó biết
được hoạt động cho vay của ngân hàng có đáng tin cậy không. Một ngân
hàng có nguồn thông tin tốt về khách hàng mới có thể bảo đảm về khả
chỉ tiêu nói trên. Chỉ có như vậy chỗ đứng của ngân hàng trên thị trường
mới có thể được phản ánh một cách chính xác và đầy đủ, chi tiết, cung
cấp cho chúng ta những nhận xét thấu đáo hơn về hoạt động của một ngân
hàng trong tương lai.
2.2. CÁC CÔNG CỤ CẠNH TRANH
2.2.1. Cạnh tranh bằng lãi suất
Dẫn đầu về giá có lẽ là chiến lược rõ ràng nhất, trong đó công ty cố
gắng trở thành một nhà sản xuất có giá thấp trong toàn ngành. Đối với các
ngành sản xuất khác, đây có thể là một trong những chiến lược hiệu quả
nhất và giá cả có thể được sử dụng như một yếu tố cơ bản đánh giá trình
độ cạnh tranh của công ty. Tuy nhiên, ngành ngân hàng có những đặc
trưng riêng nên đòi hỏi phải có những phân tích khác. Dữ liệu về giá của
các giao dịch đơn lẻ có thể có ích và cần thiết cho các ngành khác nhưng
rất ít thông tin loại này phù hợp với ngân hàng.
Cạnh tranh bằng lãi suất hiện nay đang được sử dụng một cách mạnh
mẽ ở Việt Nam theo 2 khía cạnh: lãi suất huy động vốn và lãi suất cho
vay. Lãi suất huy động được tăng lên nhằm thu hút thêm nhiều vốn cho
ngân hàng, tạo cho ngân hàng một cơ sở vững chắc trong các hoạt động
tài chính khác. Trong khi đó các ngân hàng cạnh tranh bằng việc hạ lãi
suất cho vay. Việc một ngân hàng thực hiện chính sách dẫn đầu về giá
nhằm có lợi nhuận thu được từ việc thu hút được nhiều khách hàng tỏ ra
không mấy hiệu quả trong môi trường cạnh tranh trong ngành ngân hàng.
Cho dù lãi suất cho vay thấp nhằm kích cầu tín dụng trung và dài hạn
trong thời điểm vốn huy động bị ứ đọng không cho vay được, đồng thời
tạo cơ hội cho các dự án được thực hiện với chi phí rẻ hơn, có thể tạo đà
cho sự phát triển của nền kinh tế nhưng lại có những tác hại nghiêm trọng
tới khả năng hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng Ngoại thương trong
năm 2002 (tháng 8) đã phải tăng lãi suất huy động lên 0.66-0.68%/tháng,
và cả 3 ngân hàng thương mại quốc doanh là Ngân hàng Đầu tư, Ngân
như sau: uy tín của ngân hàng, năng lực của bộ máy lãnh đạo, nguồn vốn
tự có và huy động được, hệ thống thu thập và xử lý thông tin, khả năng
phân tích rủi ro, chất lượng nguồn nhân lực, công nghệ ngân hàng và đổi
mới công nghệ, và công tác quản trị chiến lược.
Uy tín của một tổ chức tài chính có lẽ là tài sản quan trọng nhất và
cũng là tài sản vô hình nhất của nó, một loại tài sản có thể phân biệt được
những đối thủ thành công nhất trong ngành dịch vụ tài chính so với những
người còn lại. Nó là sản phẩm của những thành tích tích luỹ được trong
quá khứ của một tổ chức. Uy tín có thể nâng cao từ nhiều nguồn khác
nhau nhưng nói chung là được rút ra từ một khả năng và chuyên môn cụ
thể mà thị trường đánh giá cao và bản thân tổ chức đó đã phát triển trong
một thời gian.
Uy tín của một ngân hàng thường được quyết định qua nhận xét của
những khách hàng đã sử dụng dịch vụ ngân hàng. Một khi ngân hàng đã
tạo được vị trí trong lòng khách hàng, điều này sẽ là một lợi thế cho ngân
hàng trong việc quảng cáo và bán sản phẩm mới. Thị trường của ngân
hàng rộng lớn và phức tạp với rất nhiều kênh thông tin dày đặc cũng có
tính 2 mặt của nó. Nếu ngân hàng hoạt động tốt và phục vụ khách hàng
tận tình chu đáo, điểm tốt mà ngân hàng thu được sẽ lan rộng nhanh
chóng. Nhưng khi ngân hàng sơ sót thì danh tiếng của ngân hàng còn bị
hạ thấp nhanh chóng hơn. Trên thị trường tín dụng trung và dài hạn, uy
tín của ngân hàng giúp cho khách hàng có những lựa chọn tốt nhất để
quyết định vay vốn đầu tư.
2.1.2.3. Bộ máy lãnh đạo, khả năng quản tri điều hành
Không phải ngân hàng nào cũng có nhiều lợi thế như địa điểm,
nguồn vốn tự có… để có thể phát huy thành một lợi thế cạnh tranh của
mình. Vậy trong trường hợp này, các ngân hàng trên làm thế nào để có
thể tiếp tục tồn tại và phát triển giữa những lực lượng hùng hậu khác?
Một trong những chiếc chìa khoá của sự thành công chính là năng lực
sáng tạo và điều hành của bộ máy lãnh đạo ngân hàng. Sức mạnh của bộ
các Tcty cũng có phần ảnh hưởng không nhỏ của cung cách giao tiếp của
cán bộ lãnh đạo ngân hàng nào đã gây thiện cảm cho họ.
3.2.4. Khả năng phân tích rủi ro
Các tổ chức tài chính tự tài trợ cho mình bằng cách tạo lập ra các
tài sản tài chính do người khác nắm giữ. Những trường hợp dễ nhận thấy
nhất là tài khoản tiền gửi của khách hàng, giao dịch liên ngân hàng, và
phát hành chứng chỉ tiền gửi cũng như cổ phiếu. Do đó các tài sản cũng
được xếp loại từ các tài sản có lãi suất thấp và tính lỏng cao cho tới tài sản
có lãi suất cao và tính lỏng thấp . Mỗi loại có một loại rủi ro đặc trưng.
Trong bối cảnh này, chất lượng của một ngân hàng (khả năng phân tích
rủi ro) là một yếu tố quyết định quan trọng đến khả năng ngân hàng có thể
bán các sản phẩm tài chính của mình cho người khác với chi phí thấp nhất
có thể.
3.2.5. Nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động được
Trong những năm gần đây, các tổ chức tài chính và các bộ phận
của chúng đã bắt đầu có sự chú ý ngày càng tăng đối với việc sử dụng