Tài liệu Cách chữa bệnh Viêm Xoang bằng Y học cổ truyền - Pdf 92

Cách chữa bệnh Viêm Xoang
bằng Y học cổ truyền

Theo y học cổ truyền, viêm xoang mãn tính là một dạng hư hỏa. Do đó,
điều trị viêm xoang không chỉ nhằm giải quyết việc viêm nhiễm tại chỗ mà chủ
yếu là phải bổ âm để tàng dương.
TRIỆU CHỨNG
Viêm xoang là tình trạng viêm nhiễm ở một hoặc nhiều khoang rỗng nằm
trong khối xương mặt có liên quan chặt chẽ đến hốc mũi. Về mặt bệnh học, người
ta phân biệt các xoang làm hai nhóm. Nhóm xoang trước gồm xoang trán, xoang
hàm và xoang sàng trước, có các lỗ thông đổ ra khe mũi giữa. Nhóm xoang sau
gồm các xoang sàng sau và xoang bướm, có lỗ thông ra khe mũi trên. Mặt trước
của xoang bướm còn có hai lỗ nhỏ thông xuống vòm họng.

Bình thường, những chất xuất tiết sinh lý hoặc bệnh lý trong xoang được
tháo ra ngoài thông qua lỗ thông mũi xoang. Khi ta bị cảm cúm, các xoang trở nên
viêm tắc, phù nề và ngăn trở khả năng thông tháo dịch nhầy ra mũi. Điều này dẫn
đến sung huyết mạch máu xoang và nhiễm trùng xoang. Do đó cảm cúm hoặc
viêm mũi dị ứng kéo dài nếu không được điều trị thích hợp sẽ dễ dẫn đến viêm
xoang, nhất là những trường hợp mũi có cấu tạo bất thường.
Hai dấu hiệu chủ yếu của viêm xoang là đau nhức và tăng tiết dịch mũi.
Nhức đầu, căng nặng đầu từng cơn hoặc thường xuyên xảy ra ở vùng xoang bị
viêm. Dịch tiết chạy xuống họng hoặc ra mũi. Dịch mũi thường đặc, vàng hoặc
xanh, đôi khi có cả máu, chứ không trong và loãng như dịch mũi ở chứng cảm
cúm thông thường.
ĐIỀU TRỊ
Việc điều trị viêm xoang mãn tính phải nhằm vào hai yêu cầu: Bổ thận âm
và Nạp khí về thận. Đối với những trường hợp viêm xoang cấp, hoặc khi có những
triệu chứng sưng nhức khó chịu hay bội nhiễm do phong nhiệt cần giải tỏa gấp, có
thể dùng thêm các biện pháp tiêu viêm, tiêu độc hoặc khu phong bài nùng. Tuy
nhiên, những phương dược điều trị triệu chứng chỉ là phụ và tạm thời. Bệnh kéo

bệnh mãn tính khác khiến cơ thể suy nhược, ăn kém, thở yếu, hay mệt..., biểu hiện
của cả khí huyết âm dương đều kém. Những trường hợp này nếu bổ khí không
khéo có thể làm tăng khí nghịch, nếu bổ âm đơn thuần có thể làm ngưng trệ Tỳ Vị;
Mà khi Tỳ Vị đã trệ thì thuốc gì cũng khó được chuyển hóa. Do đó cần sử dụng
thêm các vị thuốc cam, ôn như nhân sâm, hoàng kỳ, bạch truật, can khương để tiếp
dương xen kẽ với bổ âm. Với cách điều trị này, khi âm đã vượng lên một phần thì
dương cũng tiến được nửa phần. Từng bước nâng lên mà vẫn bảo đảm không làm
chênh lệch thái quá sự cân bằng giữa âm và dương. Bàn về cách tiếp dương trong
bổ âm, Hải Thượng Lãn Ông đã ghi lại một phương thuốc rất có giá trị là "Bổ âm
tiếp phương dương".
Thục địa 120g,
bố chính sâm 60g,
bạch truật 40g.
can khương 12g (sao đen tẩm đồng tiện),
bạch thược 20g (sao đen tẩm đồng tiện),
Đây là một thang đại dược, phân lượng lớn, sắc đặc chia làm nhiều lần
uống trong ngày. Thục địa là vị chủ lực để bổ âm. Điểm đặc biệt của phương
thang bổ âm này là gồm cả Sâm, Khương, Truật để bổ Tỳ Vị bằng cách sao đen và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status