Vai trò của các chất phụ gia trong quá trình lưu hóa cao su
Nguồn: vinachem.com.vn
Mỗi năm ngành công nghiệp cao su trên thế giới tiêu thụ khoảng 2 đến 2,5 triệu
tấn chất độn chức năng, trong đó có khoảng 600 đến 700 nghìn tấn là các khoáng
công nghiệp (chủ yếu là muội than đen).
Người ta trộn cao su nguyên liệu (chất đàn hồi - elastomer, polyme vô định
hình) với các thành phần khác để tạo thành một tổ hợp (compound), sau đó đem
lưu hóa để tạo thành cao su. Vì có tính đàn hồi nên sản phẩm cao su có thể giãn
dài gấp vài lần so với độ dài gốc và có thể trở lại với dạng gốc mà không bị biến
dạng. Ngoài ra, cao su còn làm triệt tiêu năng lượng do tính nhớt đàn hồi và rất
bền dưới tác động của lực động hoặc tĩnh. Cao su còn có khả năng chịu mài mòn
cao hơn thép, không thấm nước và không khí, không bị trương nở trong dung môi
và ăn mòn hóa học.
Các chất đàn hồi thương mại gồm có polyisopren (hoặc cao su tự nhiên -
CSTN), một số loại cao su tổng hợp (như cao su isopren tổng hợp, cao su
polybutađien, cao su styren-propylen, cao su etylenpropylenđien, cao su butyl, cao
su dẻo nhiệt và cao su nitryl).
CSTN là mủ cây cao su qua chế biến. Do vậy, cao su thô nguyên chất có tính
chất vật lý thay đổi theo nhiệt độ và dễ dàng bị oxy hóa bởi các chất oxy hóa, thậm
chí với cả không khí.
Cao su tổng hợp được sản xuất bằng quá trình ngưng tụ hoặc trùng hợp (polyme
hóa) một số hyđrocacbon chưa no. Cao su tổng hợp thương mại chủ yếu gồm có
cao su neopren, buna, butyl và các loại cao su đặc biệt khác.
Hầu hết các loại cao su đều phải trải qua quá trình lưu hóa để thay đổi cấu trúc
và ổn định nhiệt.
Để quá trình lưu hóa thuận lợi, các hóa chất gồm có chất lưu hóa, chất xúc tác
và chất xúc tiến được bổ sung trong quá trình chế biến cùng với các chất phụ gia
khác như chất dẻo hóa, chất chống oxy hóa, chất chống ozon hóa, các chất tạo màu
và chất độn chức năng.
ngăn chặn các quá trình này trong chế biến cao su. Bổ sung chất chống sém (như
MgO, axit salixylic, axit benzoic, axit axetylsalixylic, anhyđrit phtalic, N-nitroso-
điphenylamin hoặc axit stearic) ở nồng độ 0,2-1% sẽ kéo dãn thời gian bắt đầu
cháy cao su mà không làm giảm tốc độ của quá trình lưu hóa. Các chất này đặc
biệt được chỉ định dùng khi các chất xúc tác hiệu quả cao gây ra quá trình lưu hóa
sớm ngay trong quá trình trộn và cán luyện.
Về mặt hóa học, magiê oxit nung kiềm tính có chức năng và hoạt tính như một
chất nhận axit, chất lưu hóa, chất ổn định, và chất lưu hóa đối với các loại cao su
và elastomer.
Chất độn, chất hãm cháy và chất tạo màu
Chất độn gia cường làm tăng độ cứng của hợp phần không lưu hóa và cải thiện
các tính chất của cao su lưu hóa, làm tăng độ bền kéo, chống mài mòn, chống rách,
và làm tăng độ cứng của cao su. Chất độn gia cường có khả năng thay đổi mạnh
độ nhớt và các tính chất của cao su lưu hóa khi tăng hàm lượng độn, trong khi chất
độn không hoạt tính như canxi cacbonat nghiền (GCC) và kaolanh không có các
tính chất này, thậm chí còn làm giảm bớt tính chất cơ lý của cao su lưu hóa.
Hiện nay, có hai loại chất độn gia cường thương mại chủ yếu là muội than và
silic oxit. Muội than là vật liệu có thể tạo ra tương tác hóa học bề mặt màng đặc
trưng hữu cơ với elastomer. Ngược lại, silic oxit là chất có tương tác hóa học bề
mặt màng đặc trưng vô cơ với elastomer, vì vậy về mặt hóa hoc, chất độn silic oxit
có thể được xử lý với hợp chất silan để thành cao su. Các chất độn này có sẵn với
cỡ hạt sơ cấp 100 anstrom.
Các chất độn khoáng trơ chủ yếu được sử dụng trong ngành công nghiệp cao su
là bột đá, bột nhẹ, kaolanh, đất sét, talc, mica, và các loại khoáng khác như
điatomit, felspat, nephelin xienit, thạch cao, pyrophylit, zeolit, v.v...
Người ta còn dùng một số chất độn trong xử lý cao su với tác dụng làm chất
hãm cháy, chất chống khói và một số chức năng khác (ví dụ, nhôm trihyđrat
(ATH), kẽm borat, antimoni oxit, v.v...).
Một số khoáng và hóa chất được bổ sung vào tổ hợp phối liệu cao su (không
chứa muội than) để tạo màu cho cao su như titan đioxit, sắt oxit, kẽm oxit, litopon