Installation Art (Nghệ thuật sắp đặt)
có từ bao giờ? Nghệ thuật sắp đặt luôn chống lại sự định nghĩa do tính nhất thời của các
triển lãm sắp đặt, và bởi vì nó bị ảnh hưởng từ đa dạng các trào lưu nghệ thuật có
từ trước, từ Vị lai (Futurism, 1090- 1944) đến Dada, từ Assemblage (nghệ thuật
phối hợp, từ 1953 đến nay) đến Minimalism (nghệ thuật giảm thiểu, 1961- 1976).
Dù sao, hình thức nghệ thuật này, trong mọi biểu hiện của nó, khám phá sâu rộng
sự chú trọng đến không gian và thời gian của bản thân nó cũng như xung quanh nó
để đạt mục tiêu cuối cùng là cung cấp cho sự tiêu dùng nghệ thuật. Một nghệ sĩ sử
dụng một không gian sắp đặt như một nơi bị chiếm dụng tạm thời, phá bỏ mọi
ranh giới của sự chiếm hữu và thách thức đồng thời khuấy động một cuộc đối
thoại giữa chính không gian, trong đó bao gồm cả công chúng thưởng ngoạn, và
nội dung của nghệ thuật. Nghệ thuật sắp đặt có đặc trưng của địa điểm và thường
bao gồm những vật thể hoặc hiệu ứng được tạo ra và kết hợp thành một thể thống
nhất. Các nghệ sỹ giải quyết những chủ đề mà họ quan tâm và xâu chuỗi chúng
một cách phù hợp với những yếu tố nào đó qua tác phẩm sắp đặt của họ. Và bởi vì
như vậy, đây là một hình thức nghệ thuật mang tính xã hội rất cao. Nghệ thuật này
bắt đầu manh nha và phát triển mạnh ở Anh, Mỹ từ đầu thập niên 70, thế kỷ trước.
Nghệ thuật sắp đặt thường được triển lãm trong khuôn khổ gallery, và đó không
phải là một gallery nghệ thuật điển hình, bởi vì nó ít có giá trị thương mại. Nghệ
thuật sắp đặt phải được trưng bày và sau đó bị dỡ bỏ, chỉ lưu giữ lại những tài liệu
về nó.
Cho đến nay, nghệ thuật này đã trở thành một trong những dòng nghệ thuật
chủ lưu của đời sống đương đại. Nó không chỉ diễn ra trong các triển lãm, gallery
mà còn được phát triển trong sự kết hợp với điêu khắc để tạo nên những không
gian nghệ thuật ngoài trời rộng lớn, hoành tráng, đôi khi trở thành một biểu tượng
của thành phố. Có thể lấy một ví dụ điển hình: tác phẩm Sky Stations của nghệ sĩ
người Mỹ J.M.Fisher hiện là một điểm chiêm ngưỡng khi tới trung tâm thành phố
Kansas, thủ phủ bang Misouri, Mỹ. Những tác phẩm điêu khắc được dựng trên cột
Nhật Bản năm 1954, với tinh thần coi nghệ thuật là hành động, đã tạo ra những tác
phẩm có tính diễn tiến theo thời gian. Tác phẩm Challenging Mud của Kazuo
Shiraga thực hiện năm 1955 và Breaking Through Many Screens of Paper (1956)
của Saburo Murakami đã lấy quá trình diễn ra trong xưởng của họa sĩ người Mỹ
Jackson Pollock làm điểm bắt đầu và chúng chuẩn bị cho Happenings (trào lưu
nghệ thuật Hành động) trở thành hiện thực. Sau triển lãm đầu tiên, những nghệ sỹ
thành viên của Gutai đã đốt hết các tác phẩm của họ. Trong những năm sau đó, tuy
nhiên, họ đã học được cách sử dụng phương tiện cùng với sự lưu giữ tài liệu một
cách hiểu biết hơn. Thời kỳ tiền sử này làm cho gương mặt Nghệ thuật trình diễn
trở nên hoàn thiện hơn. Tác phẩm 4 phút 33 giây im lặng của John Cage (1952) đã
đặt tiêu chuẩn cho những thách thức không đổi về thời gian và nội dung mà chúng
đã trở thành căn bản của Nghệ thuật trình diễn. Thập kỷ 1960 và 1970 đã chứng
kiến sự xuất hiện của Happenings, trào lưu nghệ thuật đã đặt hành động lên phía
trước. Bên cạnh đó, trào lưu Body art (nghệ thuật từ thân thể), cộng hưởng mạnh
mẽ với nghệ thuật phụ nữ, đã đưa thân thể người trở thành địa điểm, chủ đề, và di
tích của tác phẩm.
Nghệ thuật trình diễn đã thể hiện chủ nghĩa nhạo báng thiếu thận trọng của
những nghệ sỹ như Paul McCarthy và Hermann Nitsch, niềm vui cuồng nhiệt của
những nghệ sỹ như Carolee Schneeman và Anna Halprin, và tuyệt vời nhất, sự
kiểm chứng về nguồn gốc sự sợ hãi trong niềm tin và rủi ro của Chris Burden và
Abramovic và Ulay. Tác phẩm Rhythm O (1974) của Abramovic, trong đó cô ngồi
thụ động suốt 6 tiếng đồng hồ trong khi khán giả được quyền tự do tác động vào
cô với hàng loạt các dụng cụ gây đau đớn cũng như đem lại sự dễ chịu cho cô, kết
dính một cách hiển nhiên và thông minh đến những vấn đề phụ nữ. Tác phẩm
Shoot (1971) của Burden, trong đó người nghệ sỹ bị bắn vào cánh tay, gợi nên sự
bất lực của một đất nước đang nhìn thấy lớp công dân trẻ của nó đang bị lãng phí
trong chiến tranh Việt Nam. Một người thanh niên trẻ và khỏe mạnh tự bắn vào
anh ta, núp dưới cái gọi là nghệ thuật, là một hành động cực kỳ phù phiếm, có lẽ
đó là sự tuyệt vọng tột đỉnh, nhưng nó đặt ra những câu hỏi về những giá trị được
ưu ái nhất của nền văn hóa.