Đề tài " DU LỊCH MÔI
TRƯỜNG "
1
LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch ngày nay đã trở thành một ngành kinh tế phát triển nhanh và chiếm vị
trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia. Việt Nam là một nước được
biết đến với các danh lam thắng cảnh nổi tiếng được thế giới công nhận là di sản văn
hoá thế giới: Vịnh Hạ Long, Phong Nha, Kẻ Bàng, Thánh Địa Mĩ Sơn, Cố Đô Huế,
Phố Cổ Hội An, Nhã Nhạc Cung Đình Huế, . . . Cùng với điều kiện tự nhiên phong
phú và đa dạng. Nằm trên bán đảo Đông dương ở Đông Nam Á, về đường thuỷ Việt
Nam thuận tiện về địa lý là điểm gặp giữa Thái BìnhDương và Ấn Độ Dương. Về
đường bộ phía Bắc Việt Nam tiếp giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa; phía tây
tiếp giáp hai nước Lào và Campuchia; phía Đông và Nam tiếp giáp biển Đông và
Vịnh Thái Lan. Tổng chiều dài đường biển trên đất liền của Việt Nam là trên 3. 730
km, thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ biển và du lịch sinh thái như :Bãi Cháy- Hạ
Long, biển Thiên Cầm- Hà Tĩnh, Cửa Lò- Nghệ An, Vũng Tàu, Nha Trang- Khánh
Hoà, biển Phan Thiết. . . Bên cạnh đó thì Việt Nam còn có một hệ Sinh thái rừng
nguyên sinh còn chưa được khai thác như Cúc Phương- Ninh Bình, Pù Mát - Nghệ
An, . . . Việt Nam đã và đang là điểm đến lý tưởng của bạn bè du khách quốc tế. Để
làm được điều đó thì Việt Nam dần đần đẩy mạnh đầu tư và nâng cấp hạ tầng cơ sở
du lịch ngày càng tốt hơn, hoàn thiện hơn. Một trong những biện pháp cơ bản để thu
hút khách du lịch là tạo ra các sản phẩm dịch vụ hấp dẫn đáp ứng nhu cầu và sở thích
của du khách, tuy nhiên nếu sản phẩm hấp dẫn nhưng môi trường du lịch kém thì
không tạo được nền tảng vững chắc cho sự phát triển của hoạt động du lịch. Môi
trường du lịch ở đây được hiểu như một khái niệm rộng gồm: môi trường tự nhiên và
văn hoá du lịch. Trong những năm qua cùng với sự phát triển của ngành du lịch nước
nhà, chúng ta đã làm đươc khá nhiều việc, tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DU LỊCH MÔI TRƯỜNG
1.1. Khái niệm chung về du lịch và môi trường
Như chúng ta đã biết rằng để phát triển du lịch thì điều kiện đầu tiên không thể
thiếu là tài nguyên thiên nhiên. Trong đó thì môi trường tự nhiên như môi trường
nước, không khí, đất đai đồi núi là yếu tố chính nhằm đem đến sự thoả mãn cho du
khách du lịch. Theo luật bảo vệ môi trường của nước ta công bố ngày10/1/1994: Môi
trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với
nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển
của con người và thiên nhiên. Khi du lịch ngày càng phát triển thì đồng nghĩa với tác
động không nhỏ đến môi trường tự nhiên như suy thoái đât đai, nguồn nước, cảnh
quan tự nhiên sẽ bị phá vỡ, dần dần thì vẻ đẹp tự nhiên của nó sẽ không còn nữa và
thay vào đó là các hệ thống xử lý rác thải mà thôi.
1. 1. 1. Du lịch sinh thái (hay con gọi là du lịch tự nhiên) đây là loại hình du
lịch ngày càng được ưa chuộng và phát triển với tốc độ nhanh trên phạm vi toàn thế
giới. Theo định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái thế giới (Ecotorism society):
"Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là nơi bảo tồn
môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương". Cùng với khai thác tài
nguyên du lịch thì con người phải quan tâm đến sự tồn tại và phát triển cuả môi
trường tự nhiên bằng các biện pháp lâu dài. Khi mà khoa học công nghệ ngày càng
phát triển, sự ra đời của các loại máy móc thì mặt trái của vấn đề ô nhiễm môi trường
và suy thoái hệ sinh khí quyển ngày càng cao. Làm cho tài nguyên du lịch ngày bị
cạn kiệt, mất đi thẩm mĩ của nó. . . Loại hình du lịch sinh thái thực chất là loại có quy
mô không lớn, nhưng có tác dụng hoà nhập với môi trường tự nhiên ở điểm du lịch,
khu du lịch và nền văn hoá ở đó. Chính loại hình du lịch nay Tổ chức Du lịch thế
giới đã khẳng định đối với các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của
du khách cùng người dân ổ vùng có du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng vv. . . đồng
thời chú trọng việc tôn tạo nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên du lịch để có điều
kiện phát triển hoạt động của du lịch trong tương lai.
bằng trong phân bố các tầng lớp giàu nghèo trong xã hội. Bền vững về môi trường
5
thể hiện ổ sự sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi
trường xã hội, phục vụ nhu cầu các thế hệ hiện tại mà vẫn để lại cho các thế hệ tương
lai nhưng tài nguyên và điều kiên môi trường cần thiết cho sự phát triển của họ.
Ngày nay song song với việc phát triển du lịch là đi đôi với việc tàn phá môi trường
tự nhiên xung quanh. Những việc phá hoại môi trường này chỉ đem lại cho quốc gia
và doanh nghiệp một chút ít lợi ích trước mắt, còn về lâu dài đây chính là mối nguy
hại đe doạ đến sự sống còn của môi trường, từ năm 1990 ý nghĩa của việc phát triển
du lịch môi trường, một xu thế phát triển lâu dài đã được biết tới. Cho nên chủ
trương của Tổng cục du lịch Việt Nam hiên nay khuyến khích các doanh nghiệp kinh
doanh lữ hành tập trung vào phát triển du lịch bền vững hay còn gọi "du lịch sinh
thái ", " du lịch xanh". Ở đây hàm hai ý nghĩa, một là khái niệm về tính" liên tục",
hai là khái niệm về tính" bảo tồn ". Để làm được điều đó thì phải có chiến lược lâu
dài về việc bảo vệ môi trường xã hội nói chung và môi trường du lịch nói riêng.
Nhưng trên thực tế cho thấy, phát triển bền vững đòi hỏi phải bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên cho sản xuất lương thực, chất đốt trong khi vẫn mở rộng sản xuất để đáp ứng
nhu cầu của số dân tăng nhanh, hay ngày càng nhiều công trình kiến trúc mọc lên
ngay khu bảo tồn thiên nhiên thì thật là mâu thuẫn. Khi mà diện tích đất hoang dã,
đất không thích hợp cho con người sử dụng tiếp tục tăng, thu hẹp địa bàn cư trú của
các loài hoang dã. Các rừng nhiệt đới, hệ sinh thái, rạng san hô, rừng ngập mặn ven
biển, các bãi biển và nhiều địa bàn cư trú duy nhất khác đang bị phá huỷ dẫn đến
nguy cơ diệt chủng của một số loài.
Tóm lại, phát triển du lịch môi trường bao gồm các yếu tố như sau: khai thác
và phát triển tài nguyên, bảo tồn sinh thái, khống chế sự thay đổi của môi trường sinh
thái đồng thời bảo vệ duy trì cân bằng môi trường tự nhiên, đồng thời khôi phục
những nguồn tài nguyên đã bị huỷ hoại. Tức khi có mục tiêu phát triển một khu du
lịch nào đó, chúng ta phải xây dựng kế hoạch phát triển dựa trên những đặc trưng thế
mạnh của khu vực đó, đồng thời phải có quyết định đúng đẳn trong việc có ứng dụng
những yếu tố trên.
qua phà ) đổ các chất lỏng. . .
7
Thứ hai là tác động đến tài nguyên không khí. Bụi và các chất gây ô nhiễm
không khí xuất hiện chủ yếu là do hoạt động giao thông, do sản xuất và sử dụng năng
lượng. Tăng cường sử dụng giao thông cơ giới là nguyên nhân đáng kể gây nên bụi
bặm và ô nhiễm không khí. Trạng thái ồn ào phát sinh do việc tăng cường sử dụng
các phương tiện ồn ào như thuyền, phà gắn máy, xe máy. . . cũng như hoạt động của
du khách tại các điểm dịch vụ du lịch như ở các sàn nhảy. . . tạo nên hậu quả trước
mắt và lâu dài. Tiếp theo phải kể đến đó là tác động đến tài nguyên đất, khi một số
khu vực tự nhiên có giá trị như bãi tắm, cánh rừng xanh trong nhiều trường hợp bị
ngăn lại không cho dân địa phương vào vì chúng trở thành tài sẳn riêng của khách
sạn hoặc tư nhân kinh doanh ngành du lịch. Phát triển du lịch kéo theo việc xây dựng
kết cấu hạ tầng khách sạn và các công trình dịch vụ du lịch. Điều này tất yếu dẫn đến
việc xâm lấn những diện tích đất trước đây trồng trọt và chăn nuôi. Đây là bước
chuyển đổi dạng sử dụng đất với hiệu quả sử dụng cao hơn, nhưng lại làm giảm đi
quỹ đất nông nghiệp. Tác động đến tài nguyên sinh vật như : ô nhiễm môi trường
sống, cùng với việc mất đi cảnh quan tự nhiên, những khu đất trồng trọt và chăn nuôi
là nguyên nhân làm cho một số loài thực vật và động vật dần dần bị mất nơi cư trú.
Một số hoạt động thái quá của du khách như chặt cây, bể cành, săn bắn chim thú tại
những khu rừng tự nhiên cũng là nguyên nhân làm giảm sút cả số lượng và chất
lượng sinh vật trong phạm vi khu du lịch. Trong môi trường bảo tồn dã thú, việc vứt
rác bừa bãi gây tác động trực tiếp đến cuộc sống trước mắt cũng như lâu dài của các
loaì động vật; nhiều khi còn ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên phục vụ cũng
như du khách đến khu du lịch bởi các dịch bệnh phát sinh từ các chất thải không
được xử lý. Hoạt động của du khách có tác động lớn đến các hệ sinh thái. Các hoạt
động du lịch dưới nước như nhặt sò. ốc, khai thác san hô làm đồ lưu niệm, đi trên bãi
đá ngầm, đứng trên bãi san hô và thả neo tại những bãi san hô, nơi sinh sống của các
loại sinh vật dưới nước cũng sễ bị huỷ hoại. Các khu rừng nguyên sinh đặc biệt dễ bị
tổn thương khi có nhiều du khách. Những hoạt động như sự đi lại của xe, giẫm đạp
lên cỏ, hái hoa quả bừa bãi, c hặt cây laeo núi ồ ạt vv. . . làm mất dần nhiều loại động
này sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ gắn bó đặc trưng cho cuộc sống truyền thống của
cộng đồng. Bên cạnh đó, các lối sống mới được khách du nhập sẽ có tác động nhiều
mặt đến cộng đồng nhất là giới trẻ. Các xung đột mới có thể nảy sinh và gây ra chia
9
rẽ cộng đồng. Truyền thống văn hoá của địa phương có thể sẽ bị thương mại hoá để
đáp ứng nhu cầu của du khách. Đã có người cảnh báo những hiệu ứng như vậy và gọi
là sự xâm lăng văn hoá, thông qua hoạt động du khách không được quản lý tốt.
Ngoài ra, chất lượng cuộc sống cộng đồng cũng có thể bị ảnh hưởng do giá cả sinh
hoạt tăng vì cầu tăng vượt khả năng cung.
Những tác động không thuận lợi nói trên sẽ là những nguyên nhân gây ra xung
đột du lịch và kết quả là quá trình phát triển du lịch không bền vững và sẽ không đem
lại hiệu quả kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường như mong muốn. Ngay cả khi
không xảy ra xung đột giữa cộng đồng và phát triển du lịch nhưng nếu thiếu kiểm
soát và không có sự tham gia tích cực của cộng đồng thì sự suy thoái môi trường tự
nhiên và các thay đổi giá trị văn hoá sẽ làm mất dần tính hấp dẫn của các sản phẩm
du lịch. Để loại trừ được những tác động ngược chiều của sự phat triển du lịch đối
với cộng đồng dân cư và ngược lại, rất cần phát triển du lịch bền vững. Mục tiêu của
phát triển du lịch bền vững là đem lại lợi ích cho cộng đồng và phát triển du lịch bền
vững chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cộng đồng. Để phát triển du
lịch bền vững cần có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên để thoả mãn các nhu
cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ của con người trong khi vẫn duy trì được sự phát
triển lâu dài cho thế hệ mai sau.
Nhưng chung quy thi khi nói đến con người và tổng thể mối quan hệ giữa nó
và con người thì chúng ta phải quan tâm đến cả hai khía cạnh, tích cực và tiêu cực
mà các yếu tố đem lại. Sự sống của con người chỉ có thể duy trì khi sống trong môi
trường không khí trong lành, có cây xanh và tính cộng sinh giữa các loài mà thôi.
Cũng như du lịch và các yếu tố liên quan đến nó như khách du lịch, Cộng đồng dân
cư, nhà cung cấp, chính quyền nhân dân sở tại. Tất cả đều nhằm mục đích phát triển
ngành du lịch, ngành được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói.
1. 3 Nhận định chung về phát triển du lịch bền vững từ góc độ môi trường.
họ là tham quan, để thoả mãn" con mắt" của họ. Khi mà đời sống của con người
ngày càng tăng thì nhu cầu đi du lịch của ngưòi ta càng cao. Quanh năm suốt tháng
phải tiếp xúc với bụi bẩn, ồn ào của chốn đô thị, những ngày nghỉ con người ta
muón thoát khỏi cuộc sống bình thường đó, và họ đi du lịch. Chỉ đến những nơi có
thiên nhiên đẹp, trong lành. và yên tĩnh sẽ thoả mãn được nhu cầu của họ. Chính vì
11
điều đó, môi trường rất quan trọng trong kinh doanh du lịch. Sự suy giảm về trữ
lượng và chất lượng của các tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa cơ bản đối với cuộc
sống của con người như: đất đai, nước, rừng, thuỷ sản, khoáng sản và các dạng tài
nguyên năng lượng. Sự suy thoái này trong thập kỷ 21 có khả năng dẫn tới tình trạng
thiếu thốn nghiêm trọng về lương thực, hay về các nhu câu cần thiết của con người
nói chung. Ô nhiễm môi trường sống của con người với tốc độ nhanh và phạm vi lớn
hơn trước. Không khí, nước, đất đai, cac đô thị, khu công nghiệp, vùng ven biển, đại
dương ngày càng bị ô nhiễm, ảnh hưởng xấu đến không chỉ ngành du lịch, mà còn
nguy hai hơn đó là sức khoẻ, đời sống của con người cũng như sự suy tồn và phát
triển của các sinh vật khác trên trái đất. Để phần nào khắc phục được những bất cập
trên thì cần đảm bảo sự cân đối hài hoà giữa phát triênr du lịch với các kế hoạch, các
phương án quy hoạch phát triển các ngành kinh tế khác theo một nội dung thống nhất
trong phat triển kinh tế xã hội chung của từng vùng, nghiên cứu và cho toàn lãnh thổ
của đất nước. Trong nguyên tắc này cần chú ý tới việc xem xét tỷ trọng của ngành du
lịch, đánh giá thực trạng cũng như dự kiến khả năng phát triển trên quan điểm kiểm
soát, khống chế chung, xuất phát từ khía cạnh quản lý khai thác hợp lý nguồn tài
nguyên và môi trường du lịch.
Du lịch và môi trường có mối quan hệ rất gắn bó với nhau, cũng như mối
quan hệ giữa con người và môi trường. Môi trường cung cấp nơi cư trú và các điều
kiện cho cuộc sống con người và muôn loài sinh vật; môi trường cũng là nơi tiếp
nhận, lưu trữ và xử lý những gì mà con người và các sinh vật khác thải ra. Chừng
nào còn giữ được sự cân bằng giữa các quá trình đó thì sự sống trong thiên nhiên và
cuộc soóng của con người vẫn có thể tiếp tục duy trì bình thường. Nhưng nếu sự
cân bằng đó bị phá vỡ mà chủ yếu do con người gây ra, thì việc duy trì sự sống và
- hoá.
Không chỉ có không khí mà còn nhiều vấn đề khác như ô nhiễm tiếng ồn,
lượng nước thải mà sự phát triển du lịch còn tạo ra mối đe doạ tới các hệ sinh thái,
như phá những khu vực rừng ngập mặn để xây dựng cơ sở hạ tầng, làm mát hoạc
chia cắt nơi cư trú các loài sinh vật, khai thác bừa bãi các tài nguyên rừng, biển để
sản xuất các sản phẩm phục vụ cho khách du lịch như tiêu bản các thú rừng, hoa lan
rừng, tắc kè, đồi mồi, san hô. . . tại nhiều điểm du lịch của nước ta. Hàng năm tren
13
thế giới có khoảng 200. 000 ha rừng bị cháy, trên 500 loài thực vật Địa trung hải,
cùng một số động vật biển quý hiếm đang bị đe doạ tuyệt chủng. Hiện có rất nhiều
chương trình, dự án của các nước và tổ chức quốc tế đangg được tiến hành để cứu sự
đa dạng sinh học tại nơi đây. Tuy du lịch mang lại lợi ích kinh tế _ xã hội to lớn
nhưng các tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường càng ngày càng trở nên
rõ rệt hơn. Các quốc gia đều nhận thấy mối nguy hại này và đã ban hành nhiều văn
bản pháp luật để ngăn ngừa và hạn chế tác động tiêuu cực của du lịch đối với môi
trường, cả môi trường tự nhiên, nhân tạo và các đối tượng ý nghĩa về lịch sử, văn
hoá, khảo cổ học. Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên
quan đến bảo vệ môii trường, bản sắc văn hoá và thần phong mĩ tục trong hoạt động
du lịch. Ngoài Luật bảo vệ môi trường, Luật bảo vệ và phat triển rừng, Luật tài
nguyên nước có các quy định chung, trong chương 2 của pháp lệnh du lịch có 6 điều
về bảo vệ, tồn tạo, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch để phát triển du
lịch bền vững, có quy định nghiêm cấm mọi hoạt động du lịch làm ảnh hưởng xấu tới
môi trường. Ngoài ra, còn có mọt số nghị định và chỉ thị của chính phủ về việc bảo
đảm trật tự trị an, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm tại các cơ sở lưu trú, các địa
điểm du lịch, mà còn nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch . Vấn đề cấp
bách hiện nay là phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, vì thực tế
đây là một trong các khâu yếu nhất, đặc biệt thể hiện rõ tại các cơ sở và địa điểm du
lịch.