Du lịch môi trường - Pdf 88

LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch ngày nay đã trở thành một ngành kinh tế phát triển nhanh và chiếm vị trí
quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia. Việt Nam là một nước được biết đến
với các danh lam thắng cảnh nổi tiếng được thế giới công nhận là di sản văn hoá thế giới:
Vịnh Hạ Long, Phong Nha, Kẻ Bàng, Thánh Địa Mĩ Sơn, Cố Đô Huế, Phố Cổ Hội An,
Nhã Nhạc Cung Đình Huế, . . . Cùng với điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng. Nằm
trên bán đảo Đông dương ở Đông Nam Á, về đường thuỷ Việt Nam thuận tiện về địa lý là
điểm gặp giữa Thái BìnhDương và Ấn Độ Dương. Về đường bộ phía Bắc Việt Nam tiếp
giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa; phía tây tiếp giáp hai nước Lào và Campuchia;
phía Đông và Nam tiếp giáp biển Đông và Vịnh Thái Lan. Tổng chiều dài đường biển trên
đất liền của Việt Nam là trên 3. 730 km, thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ biển và du
lịch sinh thái như :Bãi Cháy- Hạ Long, biển Thiên Cầm- Hà Tĩnh, Cửa Lò- Nghệ An,
Vũng Tàu, Nha Trang- Khánh Hoà, biển Phan Thiết. . . Bên cạnh đó thì Việt Nam còn có
một hệ Sinh thái rừng nguyên sinh còn chưa được khai thác như Cúc Phương- Ninh Bình,
Pù Mát - Nghệ An, . . . Việt Nam đã và đang là điểm đến lý tưởng của bạn bè du khách
quốc tế. Để làm được điều đó thì Việt Nam dần đần đẩy mạnh đầu tư và nâng cấp hạ tầng
cơ sở du lịch ngày càng tốt hơn, hoàn thiện hơn. Một trong những biện pháp cơ bản để thu
hút khách du lịch là tạo ra các sản phẩm dịch vụ hấp dẫn đáp ứng nhu cầu và sở thích của
du khách, tuy nhiên nếu sản phẩm hấp dẫn nhưng môi trường du lịch kém thì không tạo
được nền tảng vững chắc cho sự phát triển của hoạt động du lịch. Môi trường du lịch ở
đây được hiểu như một khái niệm rộng gồm: môi trường tự nhiên và văn hoá du lịch.
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của ngành du lịch nước nhà, chúng ta đã làm
đươc khá nhiều việc, tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực cũng còn tồn tại nhiều vấn đề
cần phải giải quyết như nạn ô nhiễm môi trường tự nhiên tại các điểm du lịch, một số tệ
nạn ăn xin, trộm cắp, đeo bám khách mua hàng.. . vẫn chưa được giải quyết triệt để. Điều
này làm giảm hình ảnh của Việt Nam - một đất nước tươi đẹp và hiếu khách trong con mắt
du khách quốc tế.
Chính vì mục đích muốn truyền tải một phần nào đấy về tình hình môi trường du
lịch hiện nay ở Việt Nam. Đề tài xoay quanh vấn đề về bảo vệ môi trường du lịch hiện nay
ở nước ta, đã làm được gì và chưa làm được gì? Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế
Trang 1

quan tâm đến sự tồn tại và phát triển cuả môi trường tự nhiên bằng các biện pháp lâu dài.
Khi mà khoa học công nghệ ngày càng phát triển, sự ra đời của các loại máy móc thì mặt
trái của vấn đề ô nhiễm môi trường và suy thoái hệ sinh khí quyển ngày càng cao. Làm cho
tài nguyên du lịch ngày bị cạn kiệt, mất đi thẩm mĩ của nó. . . Loại hình du lịch sinh thái
thực chất là loại có quy mô không lớn, nhưng có tác dụng hoà nhập với môi trường tự
nhiên ở điểm du lịch, khu du lịch và nền văn hoá ở đó. Chính loại hình du lịch nay Tổ chức
Du lịch thế giới đã khẳng định đối với các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện
tại của du khách cùng người dân ổ vùng có du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng vv. . .
đồng thời chú trọng việc tôn tạo nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên du lịch để có điều
kiện phát triển hoạt động của du lịch trong tương lai.
Loại hình du lịch sinh thái có nhiệm vụ: bảo tồn tài nguyên của môi trường tự nhiên;
bảo đảm đối với du khách về các đặc điểm của môi trường tự nhiên mà họ đang chiêm
ngưỡng ;thu hút tích cực sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương trong việc quản lý
Trang 3
bảo vệ và phat triển du lịch đang triển khai thực hiện trong điểm du lịch, khu du lịch vv. . .
Qua các yêu cầu nhiệm vụ đề ra nói lên loại hinh du lịch sinh thái vừa bảo đảm sự hài lòng
đối vơí du khách ở mức độ cao để tạo lập sự hấp dẫn đối với họ, đồng thời qua du khách
quảng bá uy tín của điểm du lịch, khu du lịch. Từ đó ngành du lịch có điều kiện bảo đảm
và nâng cao hiệu quả của hoạt động du lich và cũng là cơ hội tăng thu nhập từ hoạt động
du lịch đối với các nhóm dân cư trong cộng đồng địa phương, cũng tức là có điều kiện
thuận lợi về xã hội hoá thu nhập từ du lịch. Cho đến nay vẫn chưa có sự xác định hoà hảo
về loại hình du lịch sinh thái. Loại hình du lịch này quả vẫn còn mới mẻ, mặc dù những
năm 1997-1998 Tổ chức Du lịch thế giới và Liên Hợp Quốc đã nêu một số quan điểm
chuyển mạnh sang loại hình du lịch sinh thái phù hợp với điều kiện mới của sự phát triển
du lịch. Nói chung du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào những hình thức truyền
thống sẵn có, nhưng có sự hoà nhập vào môi trường tự nhiên và nền văn hoá bản địa, du
khách có thêm những nhận thức về đặc điểm của môi trường tự nhiên, về nhưng nét đặc
thù vốn có văn hoá cổ điển, vùng, khu du lịch và có phần trách nhiệm tự giác để không xảy
ra những tổn thất, xâm hại đối với môi trường tự nhiên và nền văn hoá sở tại.
1. 1. 2. Phát triển bền vững trong du lịch.

triển tài nguyên, bảo tồn sinh thái, khống chế sự thay đổi của môi trường sinh thái đồng
thời bảo vệ duy trì cân bằng môi trường tự nhiên, đồng thời khôi phục những nguồn tài
nguyên đã bị huỷ hoại. Tức khi có mục tiêu phát triển một khu du lịch nào đó, chúng ta
phải xây dựng kế hoạch phát triển dựa trên những đặc trưng thế mạnh của khu vực đó,
đồng thời phải có quyết định đúng đẳn trong việc có ứng dụng những yếu tố trên.
Trang 5
1. 2. Các tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường.
Tác động của hoạt động du lịch đến môi trường sẽ có thể dẫn đến những hậu quả
làm thay đổi đặc điểm sử dụng tài nguyên, hay đặc tính của môi trường. Đầu tiên là tác
động đến tài nguyên thiên nhiên; phát triển du lịch và các hoạt động có liên quan góp phần
làm cho các tài nguyên thiên nhiên bị xuống cấp về mặt môi trường. Đó là hậu quả của
việc sử dụng đất đai, xây dựng các cơ sở dịch vụ du lịch và các hoạt động liên quan đến
việc vận hành và bảo dưỡng các công trình du lịch cần thiết để duy trì các hoạt động giải
trí cho du khách. Tác động về môi trưòng về hoạt động du lịch đối với tài nguyên thiên
nhiên được thể hiện một cách rõ nét nhất là những bộ phân: tài nguyên nước, tài nguyên
không khí, tài nguyên đất, tài nguyên sinh học. Tác động đến tài nguyên nước. Việc phát
triển cơ sở vật chất du lịch chủ yếu tập trung vào xây dựng các công trình dịch vụ phục vụ
nhu câù của du khách. Có thể phân loại các tác động về môi trườngcủa hoạt động này đối
với tài nguyên nước ra làm: tác động trước mắt và tác động lâu dài. Tác động trước mắt
được thể hiện ngay trong giai đoạn xây dựng, còn tác động lâu dài thường là do việc vận
hành và bảo dưỡng các công trình du lịch. Những tác động trước mắt bao gồm: việc thải
bừa bãi các vật liệu xây dựng, đất đá và các vật liệu nạo vét, đặc biệt là những nơi chặt phá
rừng ngập mặn, làm cho chất lượng nước giảm đi rât nhiều. Việc giải phóng mặt bằng và
san ủi đất để xây dựng các công trình và làm đường có thể sẽ gây ra xói mòn và sụt lở đất,
ảnh hưởng trực tếp đến chất lượng nước mặt. Các hoạt động trong quá trình xây dựng sẽ
làm ô nhiễm nguồn nớc, do việc vứt rác và đổ rác bừa bãi vào các nguồn nước, cũng như
thái một lượng xăng dầu nhất định trong quá trình vận hành các thiết bị xây dựng. Một số
tác động lâu dài bao gồm, đất bị sụt lở hoặc rác rưởi trôi dạt sẽ làm tăng thêm lượng bùn và
các chất cặn, vì thế mà chất lượng nguồn nước kém đi. Một hậu quả đáng kể là xói mòn,
nhiễm bẩn bởi nước thải, ô nhiễm nước mặt bởi rác rưởi và các thứ khác. Nước thải chưa

sự đi lại của xe, giẫm đạp lên cỏ, hái hoa quả bừa bãi, c hặt cây laeo núi ồ ạt vv. . . làm mất
dần nhiều loại động thực vật. Ở các khu bảo tồn thú hoang dã, hoạt động của các đoàn xe
và khách du lich cũng có ảnh hưởng xấu đến môi trường sống làm cho sự yên tĩnh bị mất
đi, các sinh vật phải thay đổi tập tính, trở nên sợ sệt, thậm chí nhiều con thú bị chết vì tai
nạn do con người gây ra.
Mặt khác du lịch cũng là yếu tố không nhỏ tác động đến cộng đồng dân cư sở tại.
Bởi vì du lịch là tổng thể của những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh do sự tác
động qua lại giữa khách du lịch, người kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng
đồng dân cư địa phương và thu hút kháhc du lịch. Các chủ thể này tác động qua lại lẫn
Trang 7
nhau trong mối quan hệ với các hoạt động du lịch mà du khách là trung tâm. Đối với công
đồng dân cư địa phương, du lịch là một cơ hội để tìm việc làm, tạo thu nhập; đồng thời họ
cũng là những nhân tố hấp dẫn khách du lịch bởi lòng hiếu khách và phong tục tập quán,
bản sắc văn hoá. Mặt khác, cộng đồng dân cư nơi khác đến du lich cũng chịu tác đông
nhiều chiều của hoạt động du lịch. Cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư cùng sinh
sống trên một lãnh thổ qua nhiều thế hệ và có những đặc điểm chung về sinh hoạt và văn
hoá truyền thống, sự dụng các nguồn tài nguyên, môi trường. Cộng đồng là nền tảng của
phát triển xã hội, cuôc sống của cộng đồng dựa trên viêc khai thác tài nguyên nơi mình
sinh sống cùng với việc phát triển các phong tục, tập quán riêng mang dậm bản sắc của
mỗi cộng đồng. Việc khai thác càng tăng trong sự phát triển chung, vì vậy tác động và ảnh
hưởng của nó ở các mức độ khác nhau đên cuộc sống cộng đồng dân cư cũng ngày một gia
tăng.
Tác động của du lịch lên cộng đồng có cả mặt tích cực và tiêu cực. Trong bài
viết này nhấn mạnh đến tác động không thuận. Trong một số các dự án phát triển
du lịch, người dân địa phương bị buôc phải rời khỏi nơi cư trú và rời bỏ các ngành nghề
truyền thống gắn bó với họ qua nhiều thế hệ. Cộng đồng dân cư địa phương sẽ không
được chia sẻ hoặc chia sẻ không thoả đáng lợi nhuận từ việc phát triển du lịch
Nếu như các nhà kinh doanh không tuân thủ theo nguyên tắc phát triển du lịch bền
vững. Những mâu thẫn xã hội sẽ được nay sinh giữa các thành viên của cộng đồng do có
sụ tranh chấp các lợi thế để có được nguồn thu tốt hơn từ du lịch. Điều này sẽ ảnh hưởng

bản địa, trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho phát
triển du lịch trong tương lai ". Phát triển du lịch bền vững là đáp ứng đầy đủ nhất, tiện
nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức hút du khách đến các vùng, điểm du lịch
ngày nay đồng thời bảo vệ và nâng cao chất lượng cho tương lai.
Sự phát triển với quy mô lớn và tốc độ nhanh, mạnh của nganh Du lịch Việt Nam
trong những năm gần đây (đặc biệt là cuối những năm của thế kỷ 20) đã và đang gây ra
những bất cập, những hạn chế về môi trường. Theo quan điểm chung, môi trường du lịch
được hiểu là các điều kiện, các điều kiện cac yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội va nhân văn
của từng vùng lãnh thổ cụ thể, mà trong đó các hoạt động du lịch tồn tại và phát triển. Rõ
ràng sự phát triển ngành Du lịch luôn có mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ với sự phát triển
kinh tế - xã hội chung của từng vùng và của cả nước, liên quan đến các công việc cụ thể,
các quá trình khai thác tài nguyên môi trường. Trên thực tế ở nước ta, tại rất nhiều vùng,
Trang 9
điểm du lịch truyền thống, nổi tiếng và có nhiều tiềm năng đã và đang phải chịu những áp
lực khá lớn từ phía các khía cạnh môi trường. Đặc biệt là những khu vực đó xuất hiện ngày
càng mạnh các hiện tượng, các quá trình ô nhiễm, sự xuống cấp nhanh chóng của điều kiện
môi trường kinh tế, xã hội và nhân văn, sự suy giảm tới mức báo động của nhiều dạng tài
nguyên, các yếu tố môi trường tự nhiên, sinh thái. . . Đứng trước một thực tế như vậy, để
có thể phát triển ngành kinh tế này thì những vần đề về môi trường cũng cần phải được đạt
ra và giải quyết một cách nghiêm túc, đầy đủ sao cho vừa phát triển , vừa khai thác với
hiểu quả cao nhất về du lịch nhưng lại phải đảm bảo sự phát triển lâu dài .
Trên cơ sở phương pháp tiếp cận nghiên cứu tổng hợp, áp dụng các tiêu chí, các
nguyên tắc và những giải pháp phát triển bền vững kinh tế xã hội chung, môi trường du
lịch nói riêng. Môi trường du lịch có hâp dẫn khách du lịch hay không trước tiên phải kể
đến các yếu tố tài nguyên du lịch. Khách du lịch đến mục đích của họ là tham quan, để
thoả mãn" con mắt" của họ. Khi mà đời sống của con người ngày càng tăng thì nhu cầu đi
du lịch của ngưòi ta càng cao. Quanh năm suốt tháng phải tiếp xúc với bụi bẩn, ồn ào của
chốn đô thị, những ngày nghỉ con người ta muón thoát khỏi cuộc sống bình thường đó, và
họ đi du lịch. Chỉ đến những nơi có thiên nhiên đẹp, trong lành. và yên tĩnh sẽ thoả mãn
được nhu cầu của họ. Chính vì điều đó, môi trường rất quan trọng trong kinh doanh du

sông, biển. . và các giá trị văn hoá nhân văn. Trong nhiều trường hợp, hoạt động du lịch tạo
nên những môi trường nhân tạo như công viên vui chơi giải trí, nhà bảo tàng, làng văn hoá.
. . trên cơ sở của một hoạc tập hợp các đạc tính của môi truờng tự nhiên như một hang
động, một quả đồi, một khúc sông, một khu rừng. . . hay một đền thờ, một quần thể di tích.
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại của nó gắn liền với môi trường, nên môi
trường du lịch có tác động qua lại với tất cả các yếu tố của môi trường chung. Sự suy giảm
của môi trường nói chung ở một khu vực đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du
lịch cũng như chất lượng của môi trường du lịch ở khu vực đó.
Hoạt động du lịch có thể gây tác động khác tới tài nguyên nước đặc biệt là các chất
thải, các chất gây ô nhiễm do các khách sạn nhà hàng, các hoạt động vận tải thuỷ và khách
du lịch tạo nên. Hiện nay ở nước ta , tình trạng rác thải bừa bãi tại các địa điểm du lịch, vui
chơi giải trí còn phổ biến, điều đó không những ảnh hưởng tới vệ sinh công cộng và môi
trường, mà còn gây cảm giác khó chịu cho du khách. Khi hoạt động du lịch nhộn nhịp lên,
thì khi đó cũng là điều đe doạ tới chất lượng không khí. Trước hết là ô nhiễm không khí do
giao thông vận tải. Tổ chức du lịch thế giới đã thống kê có khoản 37%-45% du khách tới
bằng đường bộ và khoảng 40%-45% du khách tới bằng máy bay. Không giống như đối với
Trang 11
ô tô, ô nhiễm từ máy bay ( trừ tiếng ồn ) ít khi được nhân thấy trực tiếp. Thế nhưng riêng
trong năm 1990, ngành hàng không đã tiêu thụ hết khoảng 176 triệu tấn xăng máy bay, từ
đó thải ra 550 triệu tấn khí nhà kính CO2 và 3, 5 triệu tấn ôxy nitơ, gây mưa axit và ô
nhiễm quang - hoá.
Không chỉ có không khí mà còn nhiều vấn đề khác như ô nhiễm tiếng ồn, lượng
nước thải mà sự phát triển du lịch còn tạo ra mối đe doạ tới các hệ sinh thái, như phá
những khu vực rừng ngập mặn để xây dựng cơ sở hạ tầng, làm mát hoạc chia cắt nơi cư
trú các loài sinh vật, khai thác bừa bãi các tài nguyên rừng, biển để sản xuất các sản phẩm
phục vụ cho khách du lịch như tiêu bản các thú rừng, hoa lan rừng, tắc kè, đồi mồi, san
hô. . . tại nhiều điểm du lịch của nước ta. Hàng năm tren thế giới có khoảng 200. 000 ha
rừng bị cháy, trên 500 loài thực vật Địa trung hải, cùng một số động vật biển quý hiếm
đang bị đe doạ tuyệt chủng. Hiện có rất nhiều chương trình, dự án của các nước và tổ chức
quốc tế đangg được tiến hành để cứu sự đa dạng sinh học tại nơi đây. Tuy du lịch mang lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status