Đ
Đề tài:
LUẬ
giá c
ẬN V
cả và
....
VĂN T
các k
b
........, Thán
TỐT
kiểu ch
giúp cho công ty định được giá bán hợp lý, nhằm đạt được mục tiêu của công ty
là: tối đa hoá lợi nhuận, dẫn đầu về tỷ phần thị trường.
Công ty Ngọc Bích đã nhanh chóng thay đổi để thích nghi với nền kinh tế
mở cửa. Họ đã nhận thức được vai trò của gía, áp dụng thành công những chiến
lược giá “ Hớt phần ngon” và “ chiến lựơc siêu giá” để đạt được kết quả thành
công rực rỡ.
Bằng phương pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp, nhằm mục tiêu trang bị
thêm những kiến thức về giá cho sinh viên và giúp cho các doanh nghiệp có thể
đưa ra các quyết định lựa chọn chiến lược giá hợp lý em đã chọn đề tài này.
Cơ cấu của đề tài gồm 2 chương:
Chương I : Lý luận chung về giá cả và các kiểu chiến lược giá cơ bản
Chương II : Thực trạng tình hình kinh doanh của công ty Ngọc Bích và
các chiến lược giá được công ty sử dụng .
líp 41c – marketing - 2 -
Do những hạn chế về trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tế,
cho nên không tránh khỏi những sai sót nhất định. Em xin chân thành cảm ơn
sự quan tâm giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của thày giáo, Thạc sỹ Nguyễn
Trung Kiên và cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ hợp tác của ông Ngô Ngọc Bích –
giám đốc công ty Ngọc Bích, Ông Nguyễn Văn Quyến – giám đốc công ty
Mai Hoa để em hoàn thành đề án môn học chuyên ngành marketing.
Những quyết định về giá luôn giữ vai trò quan trọng và phức tạp nhất mà một công
ty phải đối mặt khi soạn thảo các hoạt động marketing của mình.”(Thầy Vũ Minh
Đức)
2. Các đặc trưng của giá cả
Những đặc trưng cơ bản của giá cả gồm:
“Giá cả thị trường thì lấy giá trị thị trường làm cơ sở hay giá cả thị trường
được hình thành trên cơ sở giá thị trường. Trong đó giá trị thị trường được coi là
giá trị trung bình hay mức hao phí lao động xã hội được bình quân hoá cho một đơn
líp 41c – marketing - 5 -
vị sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ; mặt khác, trong một số trường hợp gía trị
thị trường là giá trị cá biệt của những hàng hoá chiếm tuyệt đại bộ phận trên thị
trường.
Giá thị trường được hình thành trong quan hệ mua bán và được hai bên cung cầu
chấp nhận, nó thể hiện mối quan hệ trực tiếp trong hành vi giữa người mua và
người bán và sự thừa nhận trực tiếp từ thị trường về những sản phẩm được đưa ra
trao đổi.
Giá cả là công cụ để giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa
người mua và người bán. Bởi vì đối với người mua thì giá cả là các căn cứ trực tiếp
giữa cái được và cái mất khi họ muốn sử dụng hay chiếm hữu nó, còn đối với
người bán, giá cả là căn cứ trực tiếp đến doanh thu hoặc thu nhập.”(Thầy Vũ Minh
Đức)
3. Vai trò của giá cả
Với tư cách là một công cụ và là bộ phận trong chính sách marketing-mix
của doanh nghiệp, giá cả đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai các hoạt
động và đạt tới những mục tiêu nhất định. Hơn thế nữa , trong điều kiện thị trường
có sức mua bán hạn chế thì giá cả là công cụ cạnh tranh quan trọng. Giá cả cũng là
một trong những yếu tố linh động nhất của hệ thống marketing-mix, trong đó giá cả
có thể thay đổi nhanh chóng, không giống như các tính chất của sản phẩm và
những cam kết của kênh.
Đối với nhà doanh nghiệp, giá cả là yếu tố quyết định về mức độ lẫn khả
a. Các mục tiêu marketing của doanh nghiệp
Các mục tiêu marketing đóng vai trò định hướng trong việc xác định vai trò và
nhiệm vụ của giá cả . Giá chỉ trở thành một công cụ marketing hữu hiệu nếu nó
phục vụ đắc lực cho chiến lược về thị trường mục tiêu và định vị hàng hoá mà
doanh nghiệp đã lựa chọn . Vì vậy , chiến lược giá phần lớn là do quyết định trước
đó về các chiến lược định vị hàng hoá trên thị trường chi phối . Một doanh nghiệp
thường theo đuổi một trong các mục tiêu sau :
Tối đa hoá lợi nhuận hiện hành
Dẫn đầu về tỷ phần thị trường
Dẫn đầu về chất lượng sản phẩm
An toàn sống sót
Các mục tiêu khác
Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận hiện hành thì khi các doanh nghệp nhận thấy
rằng môi trường kinh doanh cho phép họ thực hiện được mục tiêu tài chính , họ sẽ
cố gắng ấn định giá theo xu hướng mức giá đó đem lại doanh thu và lợi nhuận tối
đa .
Với mục tiêu dẫn đến tỷ phần thị trường thì doanh nghiệp thường đặt mức giá
theo xu hướng giá thấp nhất cho phép kỳ vọng đạt được quy mô thị trường cao
nhất.
Với mục tiêu dẫn đầu về chất lượng thì khi doanh nghiệp trở thành người dẫn
đầu về chất lượng sản phẩm trên thị trường mục tiêu , doanh nghiệp sẽ đặt một mức
giá cao để gây ảnh hưởng tới sự cảm nhận của khách hạng về chất lượng của hàng
hoá.
líp 41c – marketing - 8 -
Với mục tiêu an toàn sống sót, các công ty chọn mục tiêu này nếu họ đang gặp
khăn do cạnh tranh quá quyết liệt hoặc nhu cầu thị trường thay đổi quá đột ngột
công ty không đối phó kịp. Để duy trì được hoạt động king doanh ở mức bình
thường và đảm bảo quay vòng hàng tồn kho, công ty phải chủ động cắt giảm giá và
định một mức giá bán thấp.
b. Hệ thống marketing – mix
các chiều hướng khác nhau đến sự hình thành giá và sự quản trị giá của doanh
nghiệp .
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến giá chủ yếu :
Cầu thị trường và khách hàng: nhu cầu và mong muốn của khách hàng về
những sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp có , khả năng thanh toán của họ gắn
với những nhóm hàng hoá nhất định . Mà cầu thị trường còn bao gồm cả các yếu tố
thuộc về tâm lý và hành vi tiêu dùng.
Yếu tố khách hàng mà điển hình là yếu tố tâm lý của khách hàng : những
nhận thức của khách hàng về giá trong nhiều trường hợp chịu ảnh hưởng của yếu tố
tâm lý. Nó thể hiện rất rõ trong trường hợp những hàng hoá phi vật chất hoặc
những hàng hoá mà sự hiểu biết của khách hàng về sản phẩm, nhãn hiệu và giá của
đối thủ cạnh tranh còn nhiều hạn chế.
Yếu tố cạnh tranh và thị trường: Mặc dù cầu thị trường quy định trần và chi
phí của doanh nghiệp quy định sàn của giá, song khi định giá bán sản phẩm của
líp 41c – marketing - 10 -
mình, các doanh nghiệp không thể bỏ qua các thông tin về giá thành, giá cả và các
phản ứng về giá của đối thủ cạnh tranh. Với người mua giá tham khảo mà họ sử
dụng để đánh giá mức giá của doanh nghiệp trước hết là giá của sản phẩm và nhãn
hiệu cạnh tranh. Trong trường hợp này thật khó có thể bán được sản phẩm với giá
cao hơn một khi khách hàng có được thông tin là tồn tại một sản phẩm tương tự
đang được bán với giá rẻ hơn. Tương quan so sánh giữa giá thành của doanh
nghiệp và của các đối thủ cạnh tranh sẽ liên quan đến lợi thế hay bất lợi của doanh
nghiệp.
Thị trường cạnh tranh bao gồm những dạng thị trường cơ bản sau: thị trường
độc quyền thuần tuý, thị trường cạnh tranh có độc quyền, thị trường độc quyền
nhóm.
Khi doanh nghiệp hoạt động ở trong thị trường nào đi nữa thì cũng đều phải
cân nhắc và nghiên cứu kỹ đặc điểm của thị từng loại thị trường để có thể đưa ra
quyết định về giá cho thích hợp.
Tóm lại các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động tới sự hình thành giá có
dịch vụ nhất định mà doanh nghiệp đang cung ứng trên thị trường.Theo đó doanh
nghiệp thiết lập các chính sách giá thường theo chủng loại sản phẩm, sản phẩm mới
nếu có và theo phân biệt giá.
Khi thị trường có sức mua thấp thì việc thiết lập các chính sách giá đặc biệt
rất quan trọng. Các chính sách giá hợp lý sẽ làm tăng được sức mua và điều quan
trọng hơn hết là mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp.
Xác định
nhiệm
vụ
cho mức
giá
Xác định
cầu thị
trường
mục tiêu
Xác định
chi phí
sản xuất
sản
phẩm
Phân
tích giá
và hàng
hoá của
đối thủ
cạnh
tranh
Lựa
chọn các
mô hình
giá bán duy nhất cho sản phẩm mà cần phải xây dựng cho mình những chiến lược
líp 41c – marketing - 13 -
giá để có thể thích ứng một cách nhanh chóng với thay đổi của các yếu tố bên ngoài
và bên trong ảnh hưởng đến giá.
1. Xác định giá cho sản phẩm mới
Mỗi khi đưa ra thị trường một sản phẩm mới, thì việc quan trọng là định giá cho
sản phẩm mới đó. Đây là một công việc cực kỳ quan trọng, nó gắn với giai đoạn
đầu của chu kỳ sống sản phẩm, và nó có vai trò rất lớn cho việc chu kỳ sống sản
phẩm dài hay ngắn.Tuỳ thuộc và sản phẩm mới của doanh nghiệp đưa vào thị
trường như thế nào mà doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai chiến lược về
giá sau:
a. Chiến lược “hớt phần ngon”
Khi áp dụng chiến lược định giá “ hớt phần ngon” thì doanh nghiệp thường
đưa ra mức giá bán sản phẩm ở mức cao nhất có thể đạt được, ở những giai đoạn
thị trường mà người mua sẵn sàng chấp nhận sản phẩm mới đó.
Nhưng khi mức tiêu thụ giảm xuống thì doanh nghiệp lại giảm giá xuống để
thu hút nhóm khách hàng vốn đã nhạy cảm vềgiá. Với phương pháp này, doanh
nghiệp có sản phẩm mới đã thu hút được phần tối đa về doanh thu ở các đoạn thị
trường khác nhau. Muốn đạt được mục tiêu như vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải
nghiên cứu và xem xét rất kỹ về đặc tính của sản phẩm mới, các nguồn lực của
mình, cầu thị trường về sản phẩm mới và khả năng chấp nhận của khách hàng về
mức giá đặt ra của công ty.
Chiến lược “hớt phần ngon” chỉ có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp sau:
Mức cầu về sản phẩm mới khá cao.
Giá thành đơn vị sản phẩm khi sản xuất nhỏ không quá cao để khi cộng với
các chi phí bốc rỡ, vận chuyển, bảo quản… không làm cho phần lợi nhuận của công
ty còn lại quá nhỏ hoặc không còn.