CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả
nghiệp vụ khai thác vốn tại chi nhánh Ngân
Hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Láng Hạ
và chọ đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả nghiệp vụ khai thác vốn
tại chi nhánh Ngân Hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Láng Hạ.”
I / Tính cấp thiết của đề tài.
Thực hiện nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và nghị
quyết đạt hội VII Đảng bộ thành phố Hà Nội về phát triển kinh tế nisc ta theo
theo hướng CNH HĐH, duy trì nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm từ
9 10% hàng năm Việt Nam cần huy động vốn lớn chiếm từ 25 30% GDP.
Trong đó nguồn ngân hàng đóng vai trò to lớn đáp ứng nhu cầu về vốn của
nền kinh tế.
Nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa có sự điều tiết của nhà nướ, nhu cầu về vốn là rất lớn để thực hiện công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Vì vậy vấn đề cần thít đặt ra là, một mặt ra
sức tận khai mọi nguồn vốn có thể có trong nước đến mức cao nhất, coi đây là
nguồn vốn có tính chất cơ bản cho sự phát triển, mặt khác thu hút một cách có
hiệu quả nguồn vốn từ nước ngoài để bổ xung cho việc thiếu hụt của nguồn
vốn trong nước.
Để tồn tại và phát triển Ngân hàng nông nghiệp Láng Hạ phải có chiến
lược phát triển nguồn vốn có sức hấp dẫn và phong phú đủ sức cạnh tranh trên
thị trường, trước tình hình đó đề tài đã được lựa chọn nghiên cứu.
II/ Mục đích nghiên cứu.
+ Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ khai thác vốn.
+ Phân tích thực trạng nghiệp vụ khai thác vốn tại ngân hàng nông
nghiệp Láng Hạ và có định hướng cho những năm tới.
+ Nêu lên những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao khả năng đáp
ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế của các ngân hàng thương mại nói chung
và ngân hàng nông nghiệp nói riêng, trong mối quan hệ hài hoà với các
phương thức tạo vốn khác.
III/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
1/ Đối tượng nghiên cứu.
Ngiên cứu những nội dung chủ yếu của nghiệp vụ khai thác vốn tại chi
hàng thương mại
I/ Khái niệm cơ bản về vốn
1/ Vốn hiện vật .
Vốn hiện vật là các hàng hoá đã được sản xuất và được sử dụng đẻ sản
xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác có lợi hơn.
Vốn hiện vật bao gồm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nghuyên nhiên vật
liệu dự trữ do quá trình sản xuất và kinh doanh. Vốn hiện vật và đất đai gộp
lại tạo nên tài sản hữu hình của doanh nghiệp. Chúng là của cải hoặc tài sản
bởi vì chúng có tính lâu bền. Chúng là hữu hình bởi vì chúng là hàng hoá hiện
vật có thể sờ thấy được. Lao động kết hợp với tài sản sẽ tạo ta các sản phẩm
cầnthiết cho xã hội.
2/ Vốn nhân lực
Vốn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà một người lao động
tích luỹ được. Nó được đánh giá cao vì có tiềm năng đem lại thu nhập trong
tương lai. Cũng như vốn vật chất, vốn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá
khứ với mực đích tạo ra thu nhập trong tương lai.
3/ Vốn tài chính
Vốn tài chính không phải là tài sản hữu hình. Nó không thể trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ mặc dù chúng được sử
dụng để mua các yếu tố dùng để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ.
Như vậy sự kết hợp hài hoà giữa vốn nhân lực, vốn vật chất và vốn tài
chính giúp cho các doanh nghiệp tiến hành sản xuất ra những sản phẩm cần
thiết cho xã hội. Bất cứ một quá trình sản xuất nào cũng cần phải có vốn. Vốn
là khâu mắt xích quan trọng đầu tiên của một quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hoá .
Vốn tài chính được thể hiện dưới các hình thức tiền tệ. Tiền tệ trong tuỹ
nghiệp vụ của Ngân hàng, tiền tồn quỹ tại các đơn vị và các tổ chức kinh tế,
tiền tiết kiệm trong dân cư. Nguồn vốn này rất phong phú và đa dạng nhưng
chúng ta chưa khai thác hết để phục vụ cho việc phát triển kinh tế.
II/ Vốn và các hình thức tạo vốn của ngân hàng thưong mại trong nền
của vốn tự có sẽ quyết định đến năng lực và ưu thế phát triển của NH. Về bản
chất, vốn tự có là một bộ phận của tài sản nợ, mà mỗi thành phần của nó gắn
liền với một loại nghiệp vụ nhất định.
Vốn tự có của NHTM gồm những thành phần cơ bản sau:
- Vố cơ bản là vốn pháp định - vốn điều lệ. Trong đó mức vốn pháp
định là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập Ngân hàng do pháp luật quy
ddịnh. Khác với vốn pháp định, vốn điều lệ lại là vốn do các cổ đông đóng
góp và được ghi vào trong điều lệ hoạt động của Ngân hàng và theo quy định
tối thiểu phải bằng vốn pháp định. Đối với các Ngân hàng tư Ngân hàngân,
đây là vốn sở hữu riêng của doanh nghiệp và được hìNgân hàng thàNgân
hàng sau một quá trìNgân hàng tích tụ tập trung vốn lại, đối với các Ngân
hàng quốc doanh được phép hoạt động trên cơ sở vốn ban đầu do ngân sách
cấp. Vốn điều lệ của các Ngân hàng cổ phần do các cổ đông đóng góp dưới
hình thức mua cổ phiếu, còn với Ngân hàng liên doanhlà sự góp vốn từ các
bên liên doanh.
- Vố tự có bổ sung: Vốn của các NHTM không ngừng được tăng lên
theo thời gian nhờ có nguồn vốn bổ sung. Vố tự có bổ sung bao gồm:
+ Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, có mục đích tăng cường vốn tự có
ban đầu.
+ Quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ.
+ Ngoài các quỹ trên, vốn tự có bổ sung còn bao gồm phần lợi nhuận
chưa phân bổ hoặc các quỹ nghiệp vụ khác như: Quỹ phát triển kỹ thuật
nghiệp vụ Ngân hàng, quỹ phúc lợi, khen thưởng, khấu hao...
2.2. Vốn huy động.
Vốn lưu động là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ
các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông quá quá trình thực hiện
các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán các nghiệp vụ kinh doanh khác và được
làm vốn để kinh doanh.
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau,
lúc nào nhưng không được sử dụng vào các công cụ thanh toán để chi trả cho
người khác.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về
thời hạn gửi và có rút tiền, có mức lãi suất cao hơn với tiền gửi không kỳ hạn.
- Các nguồn huy động khác:
Bên cạnh phương thức nhận tiền gửi, các Ngân hàng Thương mại còn
phát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu. Thực chát các nghiệp vụ này là
Ngân hàng huy động vốn tiền tệ bằng việc phát hành chứng từ có giá. Trong
đó, chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định, trái phiếu
là loại phiếu nợ trung và dài hạn. Hai loại phiếu này được Ngân hàng phát
hành từng đợt, tuỳ theo mục đích với sự chấp nhận của Ngân hàng trung ương
hoặc hội đồng chứng khoán quốc gia.
Tổng huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi trái
phiếu Ngân hàng, các Ngân hàng Thương mại phải trả lãi suất cao hơn so với
lãi suất huy động.Nhgiệp vụ này cjỉ được tiến hành khi Ngân hàng thiếu vốn
mà vốn tự có và vốn huy động không đủ trang trải. Như vậy, khi huy động
vốn dưới hình thức này, cac Ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định
về khối lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động, khi
đã huy động đủ khối lượng theo dự kiến các ngân hàng sẽ dừng việc huy động
(bán) kỳ phiếu, trái phiếu.
Tóm lại vốn huy động là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh
của các NHTM. Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn
vốn của Ngân hàng, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng, NHTM tuân thủ theo quy luật về mức vốn huy động tối đa không
được vượt quá 20 lần vốn tự có, đồng thời mở tài khoản tiền gửu tại NHNN
để duy trì ở đó khối lượng bắt buộc. Song nếu một Ngân hàng kinh doanh tiền
tệ có hiệu qảu thì không những nguồn lợi của Ngân hàng được tăng lên mà
còn làm cho uy tín của nó trên thị trường cũng tăng theo, chính vì thế nguồn
vốn huy động vào Ngân hàng ngày càng tăng theo, mở rộng quy mô hoạt
động để phục vụ cho phát triển kinh tế.
nức trong từng thời kỳ.
Vốn vay Ngân hàng nhà nức là quan hệ trực tiếp giữa các NHTM nằm
trong sự điều tiết của chính sách tiền tệ. Khi Ngân hàng nhà nước sử dụng
công cụ thị trường mở mua bán các trái phiếu, kỳ phiếu ngắn hạn, hệ thống
ngân hàng Thương mại phải chịu sự kiểm soát gắt gao của Ngân hàng nhà
nước.
2.4. Vốn khác.
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM cũng tạo được một
khoản vốn trong thanh toán: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản
tiền gửi séc bảo chi, sséc định mức và các khoản tiền phong toả do Ngân hàng
chấp nhận hối phiếu Thương mại . Các khoản tiền tạm thời được trích khỏi tài
khoản này nhập vào tài khoản khác chờ sử dụng, nên được coi là tiền nhàn
rỗi.
Thông qua nghiệp vụ đại lý, NHTM cũng thu hút được một lượng vốn
đáng kể trong quá trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho tổ chức tín
dụng khác, nhận vận chuyển cho một kách hàng hoặc một dự án đầu tư. Do
việc phát tiến được thực hiện theo tiến độ công việc, nên Ngân hàng còn có
thể sử dụng tạm thời tồn khoản đó vào kinh doanh.
3. Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
3.1. Vốn là cơ sở để Ngân hàng Thương mại tổ chức mọi hoạt động
kinh doanh.
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh
được thì phải có vốn, bởi vì vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết đinhj
khả năng kinh doanh. Riêng đối với Ngân hàng, vốn là cơ sở để Ngân hàng tổ
chức mọi hoạt động kinh doanh của mình. Nói cách khác, NHTM không có
vốn thì không thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh. Bởi vì dặc trưng của
Ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là phương tiện
kinh doanh chủ yếu của NHTM. Ngân hàng là đơn vị tổ chức kinh doanh loại
hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và trên thị
trường chưngs khoán (thị trường vốn dài hạn). Những Ngân hàng nhiều vốn
thời, với khả năng vốn là điều kiện thuận lợi đối với Ngân hàng trong việc mở
rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối
lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định
mức lãi suất vừa phải trả cho khách hàng. Điề đó sẽ thu hút ngày càng nhiều
khách hàng, doanh số hoạt động của Ngân hàng sẽ tăng nhanh chóng và Ngân
hàng có nhiều thuận lợi trong kinh doanh. Đây cũng là điều kiện bổ sung
thêm vốn tự có của Ngân hàng, tăng cường cơ sở vật chất và quy mô hoạt
động của Ngân hàng trên mọi lĩnh vực.
Đồng thời, vốn ngân hàng lớn sẽ giúp cho Ngân hàng có đủ khả năng
tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần là cho
vay mà còn mở rộng hình thức liên doanh, liên kết, kinh doanh trên thị trường
chứng khoán. Chính các hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp phần phân
tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm vốn cho Ngân hàng đồng
thoì tăng sức cạnh tranh của Ngân hàng trên thị trường.
4. Các hình thức tạo vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trường.
Các NHTM làm nhiệm vụ vay tiền (hầu hết từ những gửi tiền) và cho
vay hoặc đầu tư với mục đích hưởng lợi qua lãi suất. Đây là công việc của
một trung gian tài chính, đóng vai trò giữa người có vốn và người cần vốn.
Quá trình tạo lập vốn của các NHTM được thực hiện dưới các hình thức sau:
4.1. Tạo vốn qua huy động tiền gửi không kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi mà chủ nhân của nó có thể rút tiền hoặc trả tiền cho
bên thứ ba bằng cáhc phát hành séc hoặc công cụ thanh toán không dùng tiền
mặt khác.
Đối với khách hàng, việc dễ dàng chuyển nhượng được xem như là
một yếu tố quan trọng, còn việc hưởng lãi đối với số vốn dùng vào mục đích
giao dịch chỉ là thứ yếu. Do vây, loại tiền gửi này được mệnh danh là tiền gửi
theo yêu càu không đem lại lãi suất cụ thể. ở Việt Nam tiềng gửi thuộc loại
này được thể hiện dưới các hình thức như tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của
các tổ chức kinh tế và tài khoản tiền gửi cá nhân. Do tỷ trọng thanh toán
không dùng tiền mặt ở Việt Nam còn quá thấp, để khuyến khích việc thực
hàng. Trên thực tế, tỷ trọng huy động vốn bằng hình thức phát hành kỳ phiếu
Ngân hàng chiếm một tỷ lệ tương đối so với các hình thức huy động khác.
+ tiền gửi Ngân hàng.
Từ lâu tiền gửi tiết kiệm đã được coi là công cụ huy động vốn truyền
thống của các NHTM. Vốn huy động từ các tài khoản tiết kiệm chiếm một tỷ
trọng đáng kể trong tiền gửi Ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm bao gồnm các loại
sau: loại không kỳ hạn, có kỳ hạn và có kỳ hạn dài.
- Tiền gửi không kỳ hạn.
Thực chất đay là khoản tiền gửi tiết kiệm thông thường. Đối với khoản
tiền gửi này, chủ tài khoản có thể rút tiền ra bất ú lúc nào mà không phải báo
trước nhưng chỉ được rút bằng tiền mặt và người gửi tiền được hưởng lãi suất.
Tuy nhiên, số dư tài khoản này thường không lớn, nhưng có ưu điểm lớn hơn
so với các tài khoản tiền gửi giao dịch ở chỗ số dư này ít biến động. Chính vì
vậy, đối vối loại tiền gửi này, các NHTM thường trả lãi giống như tiền gửi
không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế. NHTM cần tạo điều kiện mở rộng khai
thác khoản vốn này.
- Tiết kiệm có kỳ hạn.
Các NHTM thường huy động tiết kiệm với kỳ hạn từ 3 tháng đến 1
năm. Về nguyên tắc, một khi khách hàng đã gửi tiền vào tài khoản này, thì
không được rút ra (cả gốc và lãi) trừ khi đã hết hạn tiền gửi. Để tăng sức cạnh
tranh trong thu hút tiền gửi, một số NHTM đã cho phép khách hàng rút tiền
trước hạn, một phần trong tiền lãi là khách hàng được hưởng đã bị khấu
trừ(có thể Ngân hàng không được trả lãi trong một thời điểm nào đó hoạc
khách hàng chỉ được hưởng mức lãi suất không kỳ hạn cho khoản thời gian
khách hàng gửi tiền).
- Tiết kiệm dài hạn: So với các loại hình tiết kiệm khác, đối với tài
khoản này, bất cứ lúc nào chủ tài khoản cũng có thể gửi tiền vào tài khoản
này với số lượng không hạn chế nhưng chỉ được rút ra khi đến hạn. Đây là
loại hình tiết kiệm mà Ngân hàng cần tận dụng nhằm tạo ra nguồn vốn có tính
chất ổn định cao phục vụ cho hoạt động cấp tín dụng dài hạn của mình.
trong công tác điều hành kinh doanh.
+ Vay từ các tổ chức tín dụng khác: Đó là khoản vay thông thườn mà
các NHTM vay lẫn nhau trên thị trường tiền tệ.
Tuy nhiên, các NHTM thường sử dụng tới hai giải pháp trên trong các
trường hợp sau:
- Thứ nhất, Các Ngân hàng thườn chỉ vay từ các Ngân hàng nhà nước
khi không còn giải pháp nào khác nhằm tránh việc sử dụng tối đa hạn ức chiết
khấu, mà qua đó có thể gây sự chú ý của Ngân hàng nhà nước.
- Thứ hai, khi một khách hàng tốt trả một khoản nợ cũ và yêu cầu vay
tiếp một khoản khác mà bị từ chối vì Ngân hàng đang gặp khó khăn về vốn
thì có thể Ngân hàng sẽ mất vĩnh viễn khách hàng đó vào tay các đối thủ cạnh
tranh.
4.5. Tạo vốn qua phát hành trái phiếu.
Trái phiếu Ngân hàng là một công cụ dài hạn trên thị trường vốn dưới
hình thức giấy nhận nợ do các tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn,
trong đó cam kết trả lãi và gốc cho người mua hoặc người sở hữu trong một
thời gian cố định. Về phía người mua trái phiếu Ngân hàng là giấy chứng
nhận giấy đầu tư vốn và quyền được hưởng thu nhập của người mua trên số
tiền mua trái phiếu của Ngân hàng.
Thực chất, hình thức tạo vốn dã giúp cho các Ngân hàng Thương mại
chủ độg trong việc huy động vốnđể thực hiện các dự án đâù tư dài hạn và vốn
này có tính chất ổn định cao về thời gian sử dụng và lãi suất.
Theo kinh nghiệm tại Đức, trái phiếu Ngân hàng được phát hành với
mức lãi suất cố định và mức lãi suất này được xác định theo mưc lãi suất trên
thị trường vốn tại thời điểm phát hành. Hầu hết các trái phiếu Ngân hàng đều
được đưa vào các giao dịch chính thức hay giao dịch tự do trên một hay nhiều
sở giao dịch chứng khoán Đức. Do đó những người đầu tư vào trái phiếu
Ngân hàng có thể thu hồi vốn vào bất cứ lúc nào. Chính vì vậy, điều đó không
chỉ tạo điều kiện cho Ngân hàng trong việc thu hút vốn mà còn thuận lợi cho
cả khách hàng.
phát triển đến năm 2010 và các năm tiếp theo mà Đảng và Nhà nước đã đặt
ra.
1. Tạo điều kiện gia tăng tích luỹ cho nền kinh tế, thu hút các khoản
vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, làm gia tăng dầu tư cho nền kinh tế.
Tích luỹ và tiêu dùng là hai hoạt động đối lập nhau, đều có nguồn gốc
từ thu nhập. Ngoài yếu tố quy mô của thu nhập, tiêu dùng trước tiên phụthuộc
vào nhu cầu cuộc sống và kế đến lựi ích của tích luỹ. Mục đích cuối cùng của
tích luỹ là tiêu dùng cho tương lai.
Tích luỹ của công chúng có thể tồn tại dưới các hoạt động của tài sản
nợ của NHTM. Đó là các khoản tiết kiệm hoặccác khoản đầu tư vào trái phiếu
Ngân hàng. Một khi hiệu quả hoạt động của Ngân hàng cao, lãi suất huy động
thoả đáng thì tích luỹ của công chúng qua Ngân hàng sẽ gia tăng do lợi ích
của tích luỹ so với lợi ích của tiêu dùng. Bên canh yếu tố lãi suất có tính chất
kích thích, chất lượng hoạt động của NHTM: thanh toán chi trả nhanh, đảm
bảo thuận tiện an toàn thì không những tích luỹ của cong chúng tập trung vào
Ngân hàng mà các khoản vốn này là nguồn vốn giúp cho Ngân hàng thực hiện
các khoản mục đầu ra bên tài sản có tạo nên đầu tư cho kinh tế.
2. Tạo điều kiện chuyển tải một cách tối ưu vốn tích luỹ thành vốn đầu
tư cuối cùng cho nền kinh tế.
NHTM tạo đềi kiện và môi trường thích hợp cho đầu tư tài chính trực
tiếp. NHTM tham gia vào quá trình phát hành chứng khoán cho thị trường, và
trở thành cầu nối trực tiếp giữa người thừa vốn và người thiếu vốn trên thị
trường.
Chủ động thu hút vốn tích luỹ và vốn chi tiêu có tính chất nhà rỗi trong
nền kinh tế và hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Khi nền kinh tế có nhu cầu
vốn đầu tư, hiệu quả các vốn đầu ra cao và an toàn thì ngân hàng chủ động
tăng huy động vốn và ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, Ngân hàng sẽ giảm
các khoản huy động hoặc chuyển vốn đầu tư sang cho vay tiêu dùng. Chủ
động điều tiết và phân phối vốn đầu tư trong nền kinh tế. Ngân hàng sẽ đầu tư
vốn vào những ngành nghề phát triển và thu hút vốn đầu tư đối với những
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng nong nghiệp)
là doanh nghiệp nhà nước, kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng
đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước,
làm uỷ thác các nguồn vốn trung và dài hạn, ngắn hạn của chính phủ, các tổ
chức kinh tế, xã hội, cá nhân trong và ngoài nước, thực hiện tín dụng tài trợ
chủ yéu cho nông nghiệp và nông thôn. Ngân hàng nông nghiệp được thành
lập theo Quyết định số 400 - Công ty ngày 14/11/1990 của Chủ tịch hội đồng
bộ trưởng (nay là Thủ tướng chính phủ).m nông nghiệp là một pháp nhân bao
gồm hội sở (trung tâm điều hành), các chi nhánh, văn phòng đại diện được
Nhà nước cấp vốn lần đầu 200 tỷ đồng vốn điều lệ (tương đương 30 triệu
USD), tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh và những
cam kết của mình, có bản tông rkết tài sản và con dấu riêng, hoạt động trong
khuôn khổ pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính.
Trước những khó khăn chung của nền kinh tế những năm đầu thập kỷ
90, Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam khi mới thành lập đã phải đối đầu với
nhiều gia khó, phải “gồng mình”trước những thua lỗ trong hoạt động kinh
doanh. Nhưng khi nền kinh tế đất nước đã ổn định và phát triển, đặc biệt kể từ
năm 1995, Ngân hàng nông nghiệp đã không ngừng vươn lên khẳng định vị
trí của mình, hoạt động luôn có lãi và có sự tăng trưởng mạnh. Đứng trước
những nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế, nhu cầu sử dụng vốn và các
dịch vụ Ngân hàng của các doanh nghiệp ngày càng tăng, bên cạnh đó nhằm
mở rộng mạng lưới hoạt động đa dạng hoá các nghiệp vụ Ngân hàng, nâng
cao uy tín hiệu quả hoạt động của mình và nhận thấy vị trí trụ sở 24 Lnág Hạ
có nhiều thuận lợi. Ngày 18/03/1997 Ban lãnh đạo Ngân hàng nông nghiệp
Việt Nam đã quyết định thành lập chi nhánh mới trực thuộc trung tâm điều
hành Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam tại địa điểm này, chi nhánh Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (NHNN&PTNT) Láng Hạ được
hình thành trên tiền đề đó.
Với tư cách là một chi nhánh trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp Việt
Nam (NHNN&PTNT) Láng Hạ là một đại diện uỷ quyền của Ngân hàng
đã phải chứng tỏ mình trước không ít những thuận lợi và thách thức, khó
khăn.
Ngành Ngân hàng nói chung và Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn nói riêng thực hiện chấn chỉnh hoạt động tín dụng Ngân hàng nhằm
nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng thương mại và
uy tín của ngành. Uy tín của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam được nâng cao hơn có tác dụng tích cực tới công tac thu hút khách
hàng và đa dạng hoá hoạt động của Ngân hàng nông nghiệp Láng hạ.
Là một chi nhánh mới được thành lập, tuy còn bỡ ngỡ non trẻ trong
hoạt động, nhưng Ngân hàng có thể tranh thủ kế thừa, học hỏi những kinh
nghiệm rút ra từ những thành công thất bại của các NHTM khác. Thêm nữa,
Ngân hàng có trụ sở đặt tại vị trí hết sức thuận tiện, trên một đại bàn sôi động,
có điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động, các nghiệp vụ kinh doanh và
dich vụ một cách đa dạng. Mặt khác, các nguồn huy động từ tiền gửi của các
Ban giám
đốc
Phòng tổ
chức hành
Phòn kinh
doanh
Phòng
thanh toán
quốc tế
Phòngkế
toán và ngân
quỹ
tổ chức tín dụng và tiết kiệm từ dân cư là rất phong phú giups cho Ngân hàng
có khả năng đáp ứng tối đa nhu cầu của doanh nghiệp cũng như dân cư.
Bên canh đó, trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, Ngân
hàng luôn nhận được sự chỉ đạo, giúp đỡ có hiệu quả và rất kịp thời từ
tệ... diễn ra sôi động, gay gắt làm cho việc tìm kiếmm khách hàng hết sức khó
khăn. Chi nhánh Láng hạ chưa tạo được niềm tin lớn đối với các Ngân hàng
đối tác nước ngoài, gây cho họ tâm lý đắn đo, nghi ngờ khi giao dịch với
Ngân hàng.
Một thực tế tồn tại hiện nay là trong khi các doanh nghiệp đang hết sức
cần vốn để mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh thì tại các Ngân hàng lại
xảy ra tình trạng ứ đọng vốn lớn mà không giải ngân được. Tình trạng thiểu
phát kéo dài trong năm 1999 mặc dù Ngân hàng nông nghiệp đã 5 lần hạ lãi
suất trần cho vay từ 1,2%/tháng xuống còn 0,85%/tháng nhằm thực hiện chủ
trương kích cầu của chính phủ, nhưng do nền kinh tế vẫn chưa thoát khỏi ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tẹ khu vực nên nhìn chung các
doanh nghiệp thiếu các dự án khả thi và do vậy việc thẩm định và cho vay trở
nên khó khăn gây ứ đọng vốn cho Ngân hàng.
Bên cạnh đó, quy mô hoạt động của chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp
Láng hạ còn hạn chế, đội ngũ cán bộ của Ngân hàng còn chưa cập nhật cả
trong cũng như ngoại ngữ cho giao dịch với bạn bè quốc tế.
II. Thực trạng nghiệp vụ khai thác vốn tại chi nhánh Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Láng hạ.
1. Các hình thức khai thác vốn được áp dụng tại chi nhánh Ngân hàng
nông nghiệp Láng hạ.
Ngay từ khi thành lập Ngân hàng nông nghiệp Láng hạ đã phát triển
nguồn vốn của mình để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Bằng các
biện pháp và chính sách cụ thể, nguồn vốn của Ngân hàng nông nghiệp Láng
hạ ngày càng gia tăng với khối lượng năm sau cao hơn năm trước.
Để đạt được kết quả đó Ngân hàng nông nghiệp Láng hạ đã áp dụng
những hình thức sau:
* Huy động bằng hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm.
Tiết kiệm là hình thức huy động được các Ngân hàng Thương mại áp
dụng từ lâu với các thời hạn và mức lãi suất quy định cho từng thời hạn đó.
Trong hình thức huy động này có rất nhiều thể thức được áp dụng.
những tiện lợi trong thanh toán phục vụ chi trả cho các giao dịch mua bán,
loại tiền gửi không kỳ hạn này chỉ có một ưu thế là lãi suất thấp nó tạo điều
kiện cho Ngân hàng giảm được laĩ suất đầu vào và trên cơ sở đó tạo điều kiện
thuận lợi cho Ngân hàng có khả năng cạnh tranh trên thương trường.
Ở Việt Nam, theo Nghị định 91/CP của thủ tướng chính phủ ngày
25/11/1993 và quyết định 22/QĐ - NH ngày 21/2/1994 của thống đốc Ngân
hàng nhà nước Việt Nam, mọi cá nhân đều có quyền mở tài khoản thanh toán
ở Ngân hàng và được sử dụng séc chi trả.
Ngoài ra mới đây chính phủ mới ban hành nghị điịnh 30/CP ngày
9/5/1996 về quy chế phát hành và sử dụng séc có sửa đổi một số quy định về
séc. Đông thời ngân hàng nhà nước có thông tư 07/TT - NH ngày 27/12/1996
hướng ddaanx viưệc thực hiện quy chế này. Tuy vậy, muốn mọi cá nhân trong
nền kinh tế chấp nhận và sử dụng séc còn lại cả một vấn đề khác kèm theo.
2. Thực trạng nghiệp vụ kai thác vốn tại Ngân hàng nông nghiệp Láng
hạ.
2.1. Tổ chức tạo vốn của chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp láng Hạ.
Sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ hình
thành thị trường tài chính, các trung gian tài chính mà trước hết là các NHTM.
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chyển đổi sang cơ chế thị trường
và toàn bộ hệ thống Ngân hàng ở nước ta cũng đang vận động đổi mới theo
hướng hình thành và phát triển các NHTM và các trung gian tài chính khác.
NHNN Láng Hạ chuyên kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ Ngân hàng,
tuy còn non trẻ nhưng là một Ngân hàng quốc doanh hoạt động trên địa bàn
rộng lớn, đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế. Tính đến cuối
năm 2000 chi nhánh đã thu hút được 3500 tài khoản tiền gửi và 60.000 khách
hàng gửi tiền tiết kiệm. Mặc dù Ngân hàng nhà nước nhiều lần điều chỉnh
giảm mức lãi suất huy động nhưng tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng
vẫn tăng mạnh. Đến 31/12/2000 đạt 2000 tỷ tăng 70% so với cuối năm 1999.
Đạt được 143% kế hoạch đề ra.
Trong đó nguồn vốn huy động từ dân cư đạt 540 tỷ chiếm 27%. Tiền