Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài : Một số giải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng trung, dài hạn tại Ngân
hàng Công thương Phúc Yên
3 Lời nói đầu
Theo tinh thần nghị quyết đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam
tháng 12 năm 1986, những năm qua, nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển dần
từ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường
có sự quản lí, điều tiết của Nhà nước. Đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được
những thành tựu công nghiệp hoá rất quan trọng: Trong tổng GDP, tỷ trọng nông
lâm nghiệp, thuỷ sản là 23%, tỷ trọng công nghiệp xây dựng là 38% và tỷ trọng
dịch vụ là 39%.
Trên lộ trình mở cửa, tự do hoá thương mại với sự kiện ký kết Hiệp định
thương mại Việt-Mỹ và không đánh thuế hàng xuất nhập khẩu sắp tới hứa hẹn
nhiều cơ hội cũng như thách thức lớn cho Việt Nam. Trước những sức ép cạnh
5
CHƯƠNG I:
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TRUNG, DÀI HẠN CỦA NHTM
1. Hoạt động tín dụng trung dài hạn của NHTM
1.1. Hoạt động cơ bản của NHTM
Khái niệm Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại được định nghĩa là loại hình tổ chức tài chính cung
cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là nhận gửi, cho
vay và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất
kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Như vậy, hoạt động của ngân hàng thương mại có thể khái quát thành 3
nghiệp vụ chính là:
* Tạo lập nguồn vốn:
Cũng như bất kỳ một doanh nghiệp nào, để có thể hoạt động được thì cần
phải có vốn. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại hình thành từ hai nguồn chủ
yếu:
- Nguồn vốn chủ sở hữu hình thành từ nguồn vốn pháp định và vốn bổ xung:
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng (được pháp luật cho phép) chủ ngân hàng phải có
một lượng vốn nhất định. Đây là lượng vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài,
hình thành nên các trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn hình thành và
nghiệp vụ hình thành từ loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng
lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. 6
+ Vốn pháp định là khoản vốn bắt buộc phải có trước khi đi vào hoạt động.
ngân hàng. Nguồn hình thành các quỹ này là từ thu nhập của ngân hàng. Tuy
nhiên, khả năng sử dụng các quỹ này vào hoạt động kinh doanh tuỳ thuộc vào
mục đích sử dụng quỹ.
+ Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành vốn cổ phần:
Các khoản vay trung, dài hạn của ngân hàng thương mại mà có khả năng
chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận vốn sở hữu của
ngân hàng do nguồn này có một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư
vào nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn.
Nguồn vốn chủ sở hữu Ngân hàng là rất quan trọng đối với quá trình hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, đóng vai trò sống còn trong việc
duy trì các hoạt động thường xuyên và đảm bảo cho ngân hàng phát triển lâu dài.
Nguồn vốn chủ sở hữu đóng vai trò là một tấm đệm để chống rủi ro phá sản vì
vốn này giúp trang trải những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ cho tới khi các
vấn đề được giải quyết và đưa ngân hàng trở lại hoạt động sinh lời. Vốn này cũng
là điều kiện bắt buộc để ngân hàng có thể huy động tiền gửi chỉ với tỷ lệ quy định.
Vốn càng lớn thì càng tạo niềm tin cho công chúng vào sự đảm bảo đối với chủ
nợ về sức mạnh tài chính của ngân hàng. Và hơn thế, vốn cung cấp năng lực tài
chính cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những
trương trình và thiết bị mới - điều kiện sống còn cho ngân hàng trong xu thế phát
triển như vũ bão của xã hội.
- Nguồn vốn thứ hai là nguồn huy động vốn nhàn rỗi từ xã hội:
Thu hút vốn nhàn rỗi trong xã hội là nhiệm vụ hàng đầu của nghiệp vụ tạo
lập nguồn vốn và là chức năng cơ bản của Ngân hàng thương mại. Phương thức
này tạo ta nguồn vốn chủ lực cho ngân hàng thương mại. Ngân hàng không thể
tồn tại nếu không huy động nguồn vốn này. 8
Các Ngân hàng thương mại thường huy động vốn dưới nhiều hình thức
như nhận tiền gửi (tiền gửi giao dịch, tiền gửi tiết kiệm), phát hành trái phiếu (tín
- Nguồn thứ ba là vốn đi vay: Đôi khi cần thiết, ngân hàng thường phải vay
mượn thêm. Các ngân hàng thường đi vay ở NHNN, vay các tổ chức tín dụng
khác hoặc vay trên thị trường vốn. Các khoản vay này nhằm giải quyết nhu cầu
cấp bách trong chi trả của ngân hàng thương mại nên thường phải chịu những chi
phí lớn hoặc ràng buộc nhất định.
- NHTM còn có thể tận dụng các nguồn vốn khác như: vốn uỷ thác của các
tổ chức tín dụng lớn, các tổ chức tín dụng nước ngoài, nguồn vốn phát sinh trong
quá trình thanh toán giữa các ngân hàng, các nguồn khác là các khoản nợ như
thuế chưa nộp hay lương chưa phải trả…. Tuy nhiên nguồn vốn này thường
không ổn định và không phải ngân hàng nào cũng có điều kiện sử dụng.
* Sử dụng vốn:
Hoạt động của ngân hàng là hình thức hoạt động tư duy hướng lợi nhuận,
do đó các khoản vốn của ngân hàng phải được sử dụng một cách có hiệu quả, đem
lại lợi nhuận cao nhất. Với nhu cầu xã hội ngày càng cao thì việc sử dụng vốn
ngày càng được đa dạng phong phú hơn. Hiện nay, các ngân hàng thương mại có
hướng sử dụng vốn chủ yếu là:
- Cho vay:
Tín dụng là chức năng kinh tế hàng đầu của ngân hàng, là hình thức sử
dụng vốn quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong toàn bộ tài sản có của
ngân hàng thương mại, đây là các tài sản mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng
thương mại nên chất lượng các khoản vay giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại
và phát triển của ngân hàng. 10
Để quản lý các khoản cho vay người ta thường phân loại chúng dựa trên
nhiều tiêu thức khác nhau. Nếu căn cứ vào thời hạn cho vay thì có thể phân loại
thành các hình thức: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn.
+ Cho vay ngắn hạn: Đây là loại cho vay truyền thống, nhằm bổ xung sự
thiếu hụt tạm thời vốn lưu động cho các doanh nghiệp và cho vay tiêu dùng. Cụ
nhất định gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Nếu dự trữ qúa lớn xẽ gây lãng phí vốn,
ngược lại thì xẽ không đủ khả năng thanh toán cho khách hàng gây mất uy tín đối
với khách hàng và có thể còn dẫn đến đổ vỡ ngân hàng. Do đó để đảm bảo khoản
dự trữ an toàn là hết sức khó khăn. Hiện nay, sự xuất hiện thị trường liên ngân
hàng đã giúp cho các ngân hàng giảm bớt khó khăn trong tính toán việc dự trữ của
mình.
* Các hoạt động trung gian:
Các hoạt động trung gian gồm có các nghiệp vụ thanh toán tiền hàng, quản
lý tài sản, dịch vụ chứng khoán, cung cấp thông tin tư vấn, ... những nghiệp vụ
thực hiện sự uỷ thác của khách hàng. Trong giai đoạn hiện nay cũng như sau này,
với sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường thì các hoạt động trung gian càng
đóng vai trò quan trọng. Xu hướng loại hình dịch vụ trung gian sẽ chiếm tỷ trọng
lớn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại trong tương lai.
1.2. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại:
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng nói riêng và các
tổ chức trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản,
tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất . Tín
dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng (còn được gọi là tín dụng
ngân hàng). 12
1.2.1. Khái niệm:
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân
hàng) và bên đi vay (các cá nhân và thành phần kinh tế); trong đó bên cho vay
chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định kèm
theo các điều kiện bảo đảm thoả thuận giữa hai bên, bên đi vay có trách nhiệm
hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán.
vậy tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là đòn bẩy trong việc thúc đẩy
kinh tế phát triển.
Trong quá trình sản xuất, tín dụng trung, dài hạn như là một nguồn hình
thành vốn cố định, là nguồn bổ xung vốn thiếu hụt cho các hoạt động cải tạo, đổi
mới, thay thế trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng ngân
hàng góp phần thúc đẩy quá trình ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ để đẩy
nhanh quá trình tái sản xuất xã hội.
- Tín dụng trung dài hạn là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế và góp
phần tăng trưởng kinh tế cho các ngành kinh tế mũi nhọn:
Bằng việc sử dụng lãi suất ưu đãi đối với những ngành kinh tế mũi nhọn
cũng như các ngành kinh tế khác cần thiết cho quốc kế dân sinh, tín dụng ngân
hàng giúp những ngành kinh tế này phát triển. Tín dụng hình thức này thay thế
cho hình thức cấp vốn ngân sách nhà nước. Vì đặc trưng của tín dụng là hoàn trả
cả vốn lẫn lãi giúp cho các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hơn là được
cấp ngân sách, do không hoàn trả nên người sử dụng thường không quan tâm tới
việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này. 14
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế và góp phần tạo
nên một cơ cấu kinh tế hợp lý:
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là yếu tố tất yếu của môi
trường hoạt động của các doanh nghiệp. Để thắng đối thủ cạnh tranh đạt hiệu qủa
kinh tế cao nhất, các doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm thị trường mới và thực
hiện các biện pháp như ứng dụng các thành tựu khoa học hay áp dụng công nghệ
mới để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Muốn thực hiện được điều
này thì doanh nghiệp cần phải có nguồn vốn đầu tư lớn mà tín dụng ngân hàng
chính là nguồn tài trợ cho những nhu cầu này.
Bên cạnh đó, việc di chuyển hoạt động kinh doanh từ ngành này sang
ngành khác hay đầu tư vào một ngành mới đòi hỏi lượng vốn rất lớn. Tín dụng
các thành phần kinh tế góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
- Tín dụng ngân hàng có vai trò kiểm soát nền kinh tế:
Từ chức năng dẫn chuyển và phân phối vốn tiền tệ, tín dụng ngân hàng có
thể kiểm soát được hoạt động kinh tế trong quá trình huy động mọi nguồn vốn
nhàn rỗi để cho vay. Thông qua việc huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư
và từ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế cùng công tác thanh toán cho khách
hàng, ngân hàng có thể đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm, tình hình sản xuất
cũng như khả năng chi trả của khách hàng thông qua sự biến động của các số dư
trên các tài khoản. Trong quá trình cho vay, với mục tiêu "tối đa hoá lợi nhuân và
tối thiệu hoá rủi ro" ngân hàng phải thường xuyên phân tích khả năng tài chính
của khách hàng, thường xuyên giám sát, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh
của họ để có thể điều chỉnh, tác động kịp thời khi cần thiết. Xét trên tầm vĩ mô,
ngân hàng có khả năng tập hợp được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đồng thời đóng góp những ý kiến để điều chỉnh kịp thời khi có sự mất cân
đối trong cơ cấu kinh tế. 16 2. Tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại:
Theo khái niệm trên, tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng thương mại là
các khoản cho vay của ngân hàng có thời hạn từ 20 đến 60 tháng nhưng không
vượt quá thời gian khấu hao cần thiết của tài sản hình thành từ vốn vay.
2.1 Đặc điểm tín dụng trung, dài hạn:
- Mục đích vay vốn tín dụng trung, dài hạn:
Mục đích vay vốn là để phát triển sản xuất kinh doanh như: cải tiến kỹ
thuật, mở rộng sản xuất, đầu tư xây dựng cơ bản mới, đầu tư cho các dự án phục
của lượng tiền gửi và rút ra của khách hàng để tạo ra một nguồn ổn định để cho
vay trung, dài hạn. Nguồn trích này thường nhỏ và thường có rủi ro cao.
+ Đi vay NHNN: ngân hàng thường chỉ sử dụng nguồn này khi thấy thực
sự khó khăn bởi còn phụ thuộc vào chính sách tiền tệ, điều kiện vay và các ràng
buộc khác với NHNN thường gây nhiều khó khăn cho các NHTM.
+ Vay nợ nước ngoài: Đây là nguồn vốn huy động được với khối lượng
lớn, lãi suất vừa phải nhưng lại phải chịu những điều kiện vay vốn đôi khi còn
liên quan tới vấn đề chính trị nên nguồn này rất hạn chế.
+ Nguồn tài trợ uỷ thác: Nguồn này do ngân hàng được các tổ chức quốc tế
chuyển một khoản vốn uỷ thác cho ngân hàng cho vay theo thoả thuận ký kết
giữa hai bên. Ngân hàng thực hiện cho vay hay đầu tư theo chỉ định của nước
ngoài và được hưởng một tỷ lệ phần trăm và chênh lệch lãi suất cho vay. Nguồn 18
này có xu hướng ngày càng tăng do chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào
trong nước.
2.2 Phân loại tín dụng trung, dài hạn:
Trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh ngày càng trở nên
gay gắt và quyết liệt hơn. Các doanh nghiệp muốn đứng vững và khẳng định mình
trong thương trường thì phải luôn đổi mới, nhanh nhạy bắt kịp thị hiếu người tiêu
dùng. Doanh nghiệp rất cần đến vốn trung dài hạn để đầu tư vào mua sắm trang
thiết bị, xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mua công nghệ…Do đó nhu cầu vốn trung
dài hạn sẽ có xu hướng ngày càng tăng cao.
Tín dụng trung dài hạn được chia ra một số hình thức sau:
- Cho vay theo dự án:
Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phục vụ đời sống
Đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án sau khi đã xem xét và
- Tín dụng thuê mua:
Loại hình tín dụng này được thực hiện bởi một công ty con của ngân hàng
mẹ chuyên thực hiện cho vay thuê mua là công ty cho thuê tài chính. Doanh
nghiệp ký một hợp đồng thuê tài sản của bên cho thuê trong một thời gian nhất
định, khi hết thời hạn hợp đồng thì tài sản đó được chuyển cho bên thuê. Thực
chất của hoạt động cho thuê tài chính là hoạt động cho vay trung và dài hạn, hợp
đồng thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn giá trị của tài
sản cho thuê. Khi hết thời hạn cho thuê tức là các bên đã hoàn thành trách nhiệm
của mình tại hợp đồng cho thuê tài chính, đương nhiên tài sản thuê phải được
chuyển sang cho bên cho thuê, đây không phải là hiện tượng mua bán hàng hoá. 20
- Cho vay trả góp:
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả góp
thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho các tài
sản cố định hoặc lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với
khả năng trả nợ của khách hàng (với dự án thì số tiền trả thường là từ khấu hao và
lợi nhuận sau thuế, với cho vay tiêu dùng thì là từ thu nhập hàng tháng của người
tiêu dùng)
Hình thức cho vay này được áp dụng nhiều nhất trong cho vay tiêu dùng.
Cho vay trả góp thường gặp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng
hoá mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay.
Nếu người vay mất việc hay ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ của
ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp
thường cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
3. Chất lượng tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng
thương mại
tốc độ tăng trưởng nền kinh tế xã hội đảm bảo sự tồn tại và phát triển ngân hàng
và góp phần lành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp.
Với ngân hàng, chất lượng tín dụng là việc đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng
phải phù hợp với khả năng theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng mà bảo
đảm được: yếu tố cạnh tranh trên thị trường, nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc và
lãi đúng hạn, hạn chế thấp nhất khả năng rủi ro có thể xảy ra. Đạt chỉ tiêu lợi
nhuận cao và dư nợ ngày một tăng trưởng mà vẫn đảm bảo an toàn: tỷ lệ nợ quá
hạn thấp và hợp lý, cân đối trong cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn, trung và dài hạn
của ngân hàng. 22
Chất lượng tín dụng cao là việc đáp ứng tốt nhất nhu cầu hợp lý của khách
hàng, tuy vậy nâng cao chất lượng tín dụng cũng đi kèm với vấn đề tăng khả năng
rủi ro đối với ngân hàng và giảm thấp thu nhập ngân hàng. Ngân hàng sẽ không
theo đuổi mục đích nâng cao chất lượng tín dụng nếu không đảm bảo an toàn và
có hiệu quả tín dụng.
4. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng trung, dài
hạn ngân hàng:
Chất lượng tín dụng trung, dài hạn có ý nghĩa lớn đối với sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng thương mại. Để có nhìn nhận đúng nhất về chất lượng tín
dụng ngân hàng, ta sử dụng một số chỉ tiêu phản ánh nó sau:
4.1 Chỉ tiêu định lượng:
- Chỉ tiêu lợi nhuận:
Mục tiêu cuối cùng của ngân hàng là lợi nhuận, là phần thặng dư mà mình
tạo ra được lớn nhất. Trong giai đoạn cạnh tranh hiện nay, ngân hàng phải nâng
cao chất lượng tín dụng nhưng không đồng nghĩa là tăng lợi nhuận. Ví dụ, chất
lượng tín dụng tăng thể hiện ở việc tăng mạng lưới hoạt động để đáp ứng tốt nhất
hàng và đồng thời cũng là một yếu tố cạnh tranh mạnh mẽ giữa các ngân hàng.
Với một chiến lược lãi xuất hợp lý thì ngân hàng mới có thể thu hút được khách
hàng mà vẫn đảm bảo có lợi nhuận tăng trưởng mong đợi.
- Mức tăng trưởng dư nợ tín dụng trung, dài hạn: 24
Chỉ tiêu này phản ánh mức tăng trưởng dư nợ tín dụng trung dài hạn của
NHTM, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng đầu tư vào tín dụng trung dài
hạn của ngân hàng lớn. Mức tăng trưởng qua các kỳ, năm đều đặn và ổn định
chứng tỏ chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng là rất tốt. - Tỷ trọng vốn tín dụng trung, dài hạn:
Dư nợ tín dụng trung, dài hạn
Tỷ trọng tín dụng trung dài hạn = x 100%
Tổng dư nợ
Tỷ trọng này cho biết cơ cấu dư nợ trung dài hạn chiếm bao nhiêu phần
trăm trong tổng dư nợ của ngân hàng. Tỷ lệ càng cao cho biết qui mô tín dụng
trung, dài hạn của ngân hàng là lớn. Nói chung các ngân hàng đều mong muốn tỷ
lệ này cao do tín dụng trung dài hạn mang lại thu nhập cao hơn so với tín dụng
ngắn hạn. Tuy nhiên do đặc tín rủi ro cao nên ngân hàng sẽ căn cứ vào đặc điểm
riêng của nguồn vốn, khả năng quản lý trình độ chuyên môn của mình để xác định
tỷ lệ này cho phù hợp.
- Tỷ lệ nợ quá hạn của tín dụng trung, dài hạn:
Ngân hàng muốn nâng cao chất lượng tín dụng bằng cách đáp ứng nhu cầu
khách hàng nhưng nếu đáp ứng một cách ồ ạt, không có chọn lọc và sự thẩm định
kỹ càng khách hàng của mình thì rủi ro tín dụng là rất cao. Khi đó chất lượng tín
dụng trung, dài hạn tăng không còn phát huy được tính tích cực và hiệu quả của
nó nữa. Rủi ro tín dụng trung dài hạn được phản ánh ở các chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá
26
4.2 Chỉ tiêu định tính:
Có thể nói thước đo chất lượng tín dụng của một ngân hàng chính là sự hài
lòng của khách hàng, đồng thời ngân hàng cũng phải đảm bảo hài hoà với an toàn
và đạt hiệu quả tín dụng cao nhất.
Ngoài các chỉ tiêu định lượng, chất lượng tín dụng của ngân hàng còn được
phản ánh thông qua các chỉ tiêu định tính - những chỉ tiêu hết sức quan trọng có
tính chất quyết định đối với chất lượng và độ an toàn, hiệu quả của tín dụng ngân
hàng:
- Thủ tục và quy chế cho vay vốn:
Đây là khâu tiếp xúc đầu tiên của khách hàng với ngân hàng. Thủ tục làm
việc, tinh thần thái độ phục vụ khách hàng của các cán bộ tín dụng sẽ gây ấn
tượng mạnh cho khách hàng. Yêu cầu về các thủ tục giấy tờ thời gian làm việc
đơn giản, không gây phiền hà kết hợp tinh thần thái độ phục vụ chu đáo nhiệt tình
của cán bộ tín dụng sẽ tạo cho khách hàng một tâm lý thoải mái, tạo niềm tin và
hình ảnh tốt trong mỗi khách hàng.
Phục vụ tốt nhất cho khách hàng nhưng phải đảm bảo đúng quy chế cho
vay vốn tín dụng. Thực hiện tuần tự, chuẩn xác trong công tác thẩm định về dự
án, khả năng tài chính, năng lực pháp lý của khách hàng, về tài sản đảm
bảo...nhằm đưa ra được quyết định hợp lý nhất vừa phục vụ tốt khách hàng vừa
phòng ngừa rủi ro.
- Xét duyệt cho vay:
Khách hàng đến với ngân hàng mong muốn được vay vốn phù hợp với thời
gian nhanh nhất và chi phí thấp nhất. Nâng cao chất lượng tín dụng trên cơ sở
phục vụ khách hàng tốt nhất nhưng cũng phải đảm bảo an toàn tín dụng. Hiện nay
quy định thời hạn xét duyệt cho vay là tối đa 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn