Sự cần thiết phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ ở Việt Nam - Pdf 94

- 1 -

MỤC LỤC
Trang
Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các sơ đồ

Phần mở đầu

CHƯƠNG 1
:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁC RỦI RO TTQT CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Rủi ro trong hoạt động TTQT
1.1.1 Khái niệm về rủi ro và rủi ro TTQT
1.1.2 Phân loại rủi ro trong TTQT
1.1.2.1 Rủi ro kỹ thuật ( rủi ro tác nghiệp)
1.1.2.2 Rủi ro tín dụng
1.1.2.3 Rủi ro ngoại hối
1.1.2.4 Rủi ro ngân hàng đại lý
1.1.2.5 Rủi ro pháp lý
1.1.2.6 Rủi ro chính trị
1.1.2.7 Rủi ro đạo đức
1.2 Một số biện pháp phòng ngừa rủi ro TTQT
1.2.1 Hậu quả khi phát sinh rủi ro TTQT


1.2.2.7 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro đạo đức 12
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TTQT TẠI BIDV
2.1 Tổng quan về BIDV
2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của BIDV
2.1.2 Đặc điểm kinh doanh của BIDV
2.2 Tổ chức hoạt động TTQT tại BIDV
2.2.1 Mô hình tổ chức
2.2.2 Các hoạt động TTQT chủ yếu
2.2.2.1 Hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
2.2.2.2 Hoạt động thanh toán theo phương thức nhờ thu
2.2.2.3 Hoạt động thanh toán theo phương thức chuyển tiền
2.2.2.4 Hoạt động thanh toán séc du lịch, phát hành hối phiếu ngân
hàng
2.3 Kết qủa hoạt động TTQT tại BIDV trong thời gian qua
2.3.1 Hoạt động TTQT tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng.
2.3.2 Các nghiệp vụ TTQT ngày càng được mở rộng.
2.3.3 Trình độ công nghệ ngân hàng và trình độ cán bộ được nâng cao.
2.3.4 Quy trình nghiệp vụ được cải tiến liên tục.
2.3.5 Quan hệ đại lý ngày càng được mở rộng.
2.3.6 Uy tín của BIDV ngày càng được nâng cao. 13
13
13
14
14
17

- 3 -

3.2 Phương thức nhờ thu
3.2.1 Khái niệm.
3.2.2 Quy trình thực hiện thanh toán nhờ thu và các điện SWIFT được
sử dụng.
3.2.3 Các vướng mắc thường gặp trong phương thức nhờ thu.
3.3 Phương thức tín dụng chứng từ
3.3.1 Khái niệm.
3.3.2 Sử dụng các mẫu điện liên quan đến phát hành và thông báo L/C
3.3.2.1 Đối với ngân hàng phát hành L/C.
3.3.2.2 Đối với ngân hàng thông báo L/C.
3.3.3 Sử dụng các mẫu điện liên quan đến chứng từ xuất trình có bất
đồng.
3.3.4 Sử dụng các mẫu điện liên quan đến hoàn trả giữa các ngân hàng
3.3.4.1 Thực hiện thanh toán thông thường đối với thư tín dụng
không cho phép đòi tiền điện.
3.3.4.2 Thực hiện thanh toán trường hợp thư tín dụng cho phép đòi
tiền điện và tự động ghi nợ tài khoản nostro.
3.4 Các điện SWIFT dùng trong tra soát
3.4.1 Phương thức chuyển tiền.
3.4.2 Phương thức nhờ thu.
3.4.3 Phương thức tín dụng chứng từ.
38
38
39

41
43
43

65
65
- 4 -

trình TTQT trong hệ thống.
4.3.1.2 Nhóm đề xuất về quản lý và đào tạo.
4.3.1.3 Thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro cho các nghiệp vụ có
liên quan đến nghiệp vụ TTQT như tài trợ xuất nhập khẩu,
kinh doanh tiền tệ.
4.3.1.4 Nhóm đề xuất về công nghệ.
4.3.1.5 Nhóm đề xuất về phát triển và phòng ngừa rủi ro từ ngân
hàng đại lý.
4.3.1.6 Nhóm đề xuất về trích lập quỹ dự phòng và tăng cường giám
sát hoạt động TTQT trong hệ thống.
4.3.2 Một số kiến nghị với Nhà nước, NHNN và các đơn vị liên quan.
4.3.2.1 Kiến nghị với Nhà nước.
4.3.2.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước.
4.3.2.3 Các đơn vị liên quan.

67
70 72
73

74

76
76

- 5 -

3.3 Hệ thống thanh toán đồng EUR.
3.3.1 Hệ thống thanh toán tức thời xuyên suốt Châu Âu theo thời gian
thực- TARGET (Trans European Automated Real Time Gross
Settlement Express Transfer).
3.3.2 Hệ thống thanh toán bù trừ EBA (The ECU Banker Association)
3.3.3 Giới thiệu về IBAN (International Bank Account Number)
3.4 Hệ thống thanh toán bù trừ của các quốc gia (National Clearing
System).
3.5 Hệ thống mạng lưới ngân hàng đại lý.
3.6 Tài khoản Vostro và tài khoản Nostro.
xi
xi
xiii
xiii
xiii

xiii
xiv
Phụ lục 4: Danh mục điện SWIFT sử dụng trong phương thức nhờ thu
xv
Phụ lục 5: Danh mục điện SWIFT sử dụng trong phương thức tín dụng
chứng từ
xvi
Phụ lục 6: Định dạng điện SWIFT MT103 và MT202
xvii

ro trong các phương thức thanh toán quốc tế tại BIDV” để làm luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ kinh tế.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu và ứng dụng các điện SWIFT trong các phương thức thanh toán
quốc tế: phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng
chứng từ.
- Phối hợp các điện SWIFT trong từng phương thức thanh toán quốc tế phù hợp
với thực tế phát sinh, bảo đảm các giao dịch được thực hiện an toàn, chính xác,
nhanh chóng và hiệu quả.
- Đề xuất các nhóm giải pháp đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
và các kiến nghị với Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước và các đơn vị liên quan
để hạn chế các rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế.
-
- 7 -

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng: các mẫu điện SWIFT được sử dụng và các đề xuất và kiến nghị
nhằm hạn chế rủi ro TTQT thông qua việc sử dụng điện SWIFT tại Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động TTQT của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng các phương pháp điều tra, tổng hợp, phân tích, diễn giải,
quy nạp, so sánh trên cơ sở số liệu thống kê của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam để nghiên cứu.
Luận văn sử dụng phương pháp sưu tầm tại bàn thông qua tài liệu tại BIDV,
internet, thư viện.
Luận văn sử dụng phương pháp lấy mẫu thanh toán điện SWIFT tại BIDV.
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích SWOT.
5. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

được hay mất không thể đoán trước .
Một khái niệm về rủi ro khá phổ biến hiện nay là: rủi ro là những biến động
tiềm ẩn ở những kết quả.
TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từ các quan hệ
kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu dịch giữa các tổ chức kinh
tế quốc tế, giữa các hãng, các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu
trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các hình thức chuyển tiền hay
bù trừ trên các tài khoản tại các ngân hàng.
Rủi ro TTQT là những rủi ro về kinh tế phát sinh trong quá trình thực hiện
hoạt động TTQT, nó do các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia
TTQT (nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, ngân hàng, các tổ chức, cá nhân và các tác
nhân trung gian) hoặc những nguyên nhân khách quan khác gây nên.
1.1.2 Phân loại những rủi ro đặc thù trong TTQT
Trong hoạt động kinh doanh, một NH hiện đại thường phải đối mặt với nhiều
loại rủi ro. Trong đó có ít nhất là 7 loại rủi ro cơ bản trong hoạt động TTQT: rủi ro kỹ
thuật, rủi ro ngoại hối, rủi ro tín dụng, ngân hàng đại lý, rủi ro pháp lý, rủi ro chính
trị, rủi ro đạo đức .
1.1.2.1 Rủi ro kỹ thuật (rủi ro tác nghiệp)
- 9 -

Đây là những rủi ro xảy ra trong quá trình tác nghiệp, mang tính chủ quan, phụ
thuộc vào trình độ, kỹ năng xử lý nghiệp vụ của cán bộ TTQT và sự phối hợp giữa
các phòng ban và bộ phận trong ngân hàng. Những rủi ro kỹ thuật xảy ra tại các ngân
hàng phần lớn là do trình độ của cán bộ tác nghiệp. Hậu quả của rủi ro tác nghiệp rất
nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín và tài sản của ngân hàng. Tuy nhiên các rủi ro
này hoàn toàn có khả năng phòng tránh.
1.1.2.2 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là những rủi ro phát sinh do việc cấp tín dụng cho các bên liên
quan nhưng không có khả năng đòi hoàn trả. Rủi ro tín dụng liên quan trực tiếp đến
tình hình tài chính, khả năng thanh toán của các bên. Trong phạm vi của bản luận văn

- Ngân hàng giữ tài khoản nostro của một ngân hàng bị phá sản, đóng cửa sẽ là
một rủi ro vô cùng nghiêm trọng đối với hoạt động của ngân hàng, thậm chí có thể
dẫn đến phá sản theo. Do vậy, để phân tán rủi ro, các ngân hàng không nên duy trì
một tài khoản Nostro duy nhất đối với mỗi loại ngoại tệ giao dịch chính.
- Một ngân hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng thông lệ quốc
tế, hoặc bị phá sản thì có thể làm ảnh hưởng đến các ngân hàng đại lý của mình. Ví
dụ nếu ngân hàng phát hành L/C bị phá sản thì ngân hàng xác nhận gặp rủi ro phải
thanh toán thay khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ phù hợp với quy định của
L/C. Để có thể hạn chế được các rủi ro trong quan hệ đại lý, các ngân hàng cần phải
lựa chọn những ngân hàng có uy tín, có năng lực tài chính lành mạnh để thiết lập các
quan hệ đại lý.
1.1.2.5 Rủi ro pháp lý
Rủi ro pháp lý là những rủi ro liên quan đến luật điều chỉnh các hoạt động
TTQT, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, luật giải quyết tranh chấp khi có vấn
đề khiếu kiện phát sinh. Vấn đề pháp lý trong hoạt động TTQT cũng là một nội dung
quan trọng và rất phức tạp, do các bên liên quan trong hoạt động TTQT ở các quốc
gia khác nhau, trong điều kiện môi trường pháp lý và hệ thống luật pháp khác nhau.
Trong hệ thống luật pháp điều chỉnh các hoạt động ngoại thương nói chung, hoạt
động TTQT nói riêng gồm có luật quốc tế và luật quốc gia.
Các tập quán quốc tế này mới chỉ điều chỉnh một số phương thức TTQT nhất
định như phương thức nhờ thu, tín dụng chứng từ, bảo lãnh… còn một số phương
thức TTQT khác hoàn toàn không có tập quán quốc tế điều chỉnh, ví dụ như chuyển
tiền (Remittance), ghi sổ (Open Account), hay uỷ thác mua (Authorise to Purchase).
- 11 -

Đối với những phương thức thanh toán này, người ta phải áp dụng luật của nước phát
hành. Luật pháp các nước khác nhau dễ gây tranh cãi trong giao dịch, dẫn đến rủi ro.
Những tập quán quốc tế chỉ là những quy phạm pháp lý tuỳ ý, không bắt buộc.
Do vậy mỗi nước vận dụng các tập quán quốc tế không giống nhau. Ví dụ, UCP 500
do phòng thương mại quốc tế phát hành điều chỉnh phương thức tín dụng chứng từ.

dự trữ ngoại hối hạn hẹp hay vì lý do chính trị… Ngân hàng lúc này là chủ nợ nhưng
có rất ít hoặc không có cơ hội khiếu nại lên toà án địa phương hay toà án quốc tế.
Tham gia vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề, có quan hệ với nhiều đối tượng kinh tế của
nhiều quốc gia, TTQT chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường kinh tế, chính trị, xã
hội của các quốc gia. Một sự biến động về cơ chế quản lý kinh tế-chính trị sẽ ảnh
hưởng đến khả năng và sự sẵn sàng đáp ứng các cam kết như đã thoả thuận của các
bên. Sự suy thoái kinh tế, biến động chính trị sẽ ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, và từ đó ảnh hưởng đến quá trình thanh toán.
Rủi ro chính trị xảy ra khi môi trường pháp lý, môi trường kinh tế-chính trị của
một nước chưa ổn định, thường xuyên thay đổi. Khi một quốc gia thay đổi các chính
sách về dự trữ ngoại hối, thuế xuất nhập khẩu, tỷ giá, lãi suất… sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến hoạt động TTQT của các bên liên quan. Trong thực tế, những thay đổi này thường
khiến các ngân hàng, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu không thể thực hiện cam kết của
mình, làm cho quá trình thanh toán bị ngưng trệ, thậm chí huỷ bỏ gây thiệt hại cho các
bên liên quan. Tỷ giá hoặc lãi suất của một loại tiền tệ thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến các ngân hàng và khách hàng có phát sinh giao dịch bằng loại ngoại tệ đó, có thể
làm suy giảm khả năng thanh toán của ngân hàng hoặc khách hàng. Chính sách quản lý
hoạt động xuất nhập khẩu của một nước có thể làm cho nhiều lô hàng không được phép
xuất khẩu hoặc nhập khẩu, gây thiệt hại cho các bên liên quan. Ví dụ: hai doanh nghiệp
ký kết hợp đồng mua bán một loại hàng hoá, với hình thức thanh toán là tín dụng
chứng từ. Hàng đã được giao và chứng từ đã được lập đầy đủ phù hợp với quy định của
L/C và được gửi tới xuất trình tại ngân hàng phát hành. Tuy nhiên do chính sách điều
hành xuất nhập khẩu của nước nhập khẩu thay đổi, mặt hàng đó không được phép nhập
khẩu vào trong nước nếu không có giấy phép của một cơ quan có thẩm quyền. Lô hàng
bị ách lại tại cửa khẩu để chờ giấy phép trong khi bộ chứng từ phù hợp phải được thanh
toán theo đúng cam kết của L/C. Rủi ro trước tiên thuộc về nhà nhập khẩu, tuy nhiên
ngân hàng phát hành cũng bị ảnh hưởng, đặc biệt là trong trường hợp ngân hàng phát
hành tài trợ cho nhà nhập khẩu dưới hình thức phát hành L/C ký quỹ dưới 100%.
- 13 -


tác trong các giao dịch TTQT như thông báo, xác nhận, chiết khấu L/C, ngân hàng
- 14 -

nhờ thu hoặc ngân hàng chi trả trong hình thức chuyển tiền… Mặt khác, ngân hàng
cũng gặp khó khăn trong việc đề nghị các ngân hàng nước ngoài cung cấp các dịch vụ
TTQT cho mình, như xác nhận thư tín dụng, chiết khấu bộ chứng từ xuất trình theo
L/C do mình phát hành… Rủi ro về uy tín là những rủi ro không phát sinh hậu quả
ngay, không định lượng được và phải mất một thời gian dài người ta mới nhận ra hậu
quả của nó. Tuy nhiên, những hậu quả đó khi đã xảy ra sẽ gây hậu quả vô cùng
nghiêm trọng và rất khó khắc phục. Uy tín là vấn đề nhạy cảm và phải được xây dựng
trong một thời gian dài. Tạo được uy tín trên thị trường quốc tế đã là khó, nhưng đánh
mất uy tín và xây dựng lại uy tín còn là một vấn đề khó khăn hơn rất nhiều.
Bên cạnh những rủi ro về uy tín, các ngân hàng có thể gặp rủi ro về tài
chính, là những rủi ro có thể nhìn thấy ngay, định lượng được ngay và gây hậu trực
tiếp đến thu nhập của ngân hàng. Những rủi ro về tài chính những thiệt hại do ngân
hàng phải tự thanh toán bằng tiền của mình cho các khoản phí, tiền phạt hoặc trị giá
của lô hàng khi:
- Thực hiện thanh toán sai chỉ dẫn của khách hàng dẫn đến mất tiền, hoặc bị
phạt do chậm thanh toán (ngân hàng chuyển tiền, nhờ thu…);
- Phải thanh toán thay cho khách hàng nếu ngân hàng đã thay mặt khách hàng
cam kết trả tiền cho ngưòi thụ hưởng trên cơ sở một số điều kiện nhất định
nhưng không được khách hàng hoàn trả (ngân hàng phát hành, ngân hàng xác
nhận, ngân hàng bảo lãnh… );
- Phải chịu phạt do vi phạm cam kết hoặc các nghĩa vụ (chậm thanh toán bộ
chứng từ theo L/C, từ chối bộ chứng từ do những lỗi bất đồng không hợp lệ,
không thực hiện hoàn trả đúng cam kết …)
- Những rủi ro dù là về uy tín hay tài chính đều gây thiệt hại trực tiếp đến kết
quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Các ngân hàng cần phải đề xuất
nhiều giải pháp để phòng ngừa tốt nhất các rủi ro có thể xảy ra.
1.2.2 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro TTQT.

cập nhật các kiến thức liên quan thì sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu của hoạt động
TTQT.
b) Xây dựng quy trình nghiệp vụ
Quy trình nghiệp vụ là văn bản pháp lý do bản thân ngân hàng ban hành, quy
định rõ các bước thực hiện của từng nghiệp vụ TTQT, nhiệm vụ và trách nhiệm của
các cá nhân, bộ phận tham gia trong nghiệp vụ đó. Quy trình nghiệp vụ rõ ràng sẽ là
cẩm nang để các cán bộ tác nghiệp thực hiện đúng trách nhiệm của mình, nâng cao
- 16 -

năng lực kiểm soát hoạt động TTQT, phòng ngừa và hạn chế các rủi ro có thể xảy ra
trong quá trình tác nghiệp.
Việc ban hành quy trình nghiệp vụ phải dựa trên các tập quán và thông lệ quốc
tế, phù hợp với quy định của pháp luật quốc gia.
1.2.2.2 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh do việc cấp tín dụng khi chưa điều tra kỹ về
năng lực tài chính, khả năng hoàn trả, hiệu quả kinh doanh của đối tác. Rủi ro tín
dụng thường dẫn đến hậu quả là người được cấp tín dụng không có khả năng hoàn trả
khoản tín dụng đã được cấp
Để phòng ngừa rủi ro tín dụng, trước khi quyết định cấp tín dụng cho đối tác,
ví dụ như mở L/C không yêu cầu ký quỹ 100%, xác nhận thư tín dụng, chiết khấu bộ
chứng từ…, ngân hàng cần phải phân tích và đánh giá mức độ an toàn tín dụng của
người được cấp tín dụng. Xây dựng hạn mức tín dụng cho từng đối tác cụ thể để kiểm
soát được mức độ rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Áp dụng các biện pháp đảm bảo hợp
lý (ví dụ như đảm bảo bằng tài sản thế chấp, đảm bảo bằng bảo lãnh của một ngân
hàng có uy tín, đảm bảo bằng quyền ghi nợ tài khoản tự động, đảm bảo bằng lô hàng
nhập khẩu…) để đảm bảo khả năng hoàn trả.
1.2.2.3 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro ngoại hối:
Các bên tham gia hoạt động TTQT có thể thực hiện các biện pháp:
- Nghiệp vụ hối đoái có kỳ hạn: Để tránh những rủi ro biến động tỷ giá gây
nên, đảm bảo khả năng chủ động trong nguồn ngoại tệ thanh toán, các ngân hàng có

Rủi ro pháp lý là một trong những rủi ro khó phòng tránh bởi liên quan đến
môi trưởng pháp lý của các bên liên quan. Tuy nhiên, các bên có thể hạn chế bằng
cách quy định rõ các nguồn luật điều chỉnh, tòa án giải quyết tranh chấp có lợi nhất
cho mình. Nếu có thể sử dụng luật quốc tế hoặc các tập quán quốc tế để điều chỉnh thì
cần phải dẫn chiếu đến trong giao dịch.
Như đã trình bày trong phần rủi ro pháp lý, các luật quốc tế và các tập quán
quốc tế hiện nay tuy chưa đầy đủ nhưng cũng đã tạo nên một khuôn khổ chung cho
các bên liên quan trong các giao dịch TTQT có dẫn chiếu áp dụng. Luật và tập quán
quốc tế điều chỉnh quyền và nghĩa vụ cũng như mối quan hệ của các bên liên quan
trong giao dịch TTQT. Nếu các bên liên quan trong giao dịch TTQT thống nhất áp
dụng luật hoặc các tập quán quốc tế thông qua việc dẫn chiếu đến luật hoặc điều ước
đó thì có thể tạo được tiếng nói chung trong việc thực hiện trách nhiệm và quyền lợi
của mình, tránh được các rủi ro trong quá trình tác nghiệp. Mặt khác, khi đã dẫn chiếu
đến nguồn luật điều chỉnh, các bên đều có điều kiện để nghiên cứu kỹ nguồn luật đó
- 18 -

nên nếu có tranh chấp phát sinh thì có thể bảo vệ được quyền lợi của mình một cách
hợp lý.
Các tập quán quốc tế không có tính bắt buộc như luật pháp trong nước. Nếu
muốn áp dụng các tập quán đó thì phải dẫn chiếu đến trong các tài liệu liên quan.
Chính vì vậy, để phòng tránh các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động TTQT, các bên
tham gia cần hiểu rõ các tập quán quốc tế và lựa chọn những điều khoản, những quy
ước phù hợp để điều chỉnh các giao dịch TTQT của mình.
Trong trường hợp không có luật quốc tế và tập quán quốc tế điều chỉnh thì tốt
nhất là nên chọn luật quốc gia và tòa án quốc gia hoặc một tòa án quốc tế trung lập,
có uy tín để đảm bảo hiểu rõ các quy định cũng như trình tự tố tụng. Việc giành được
quyền chọn luật hoàn toàn phụ thuộc vào tương quan lực lượng giữa hai bên. Trong
trường hợp không thể chọn luật quốc gia và tòa án trong nước điều chỉnh quan hệ
kinh tế của hai bên, cần nghiên cứu kỹ luật điều chỉnh cũng như trình tự tố tụng của
tòa án được lựa chọn.

dịch. Vấn đề rủi ro đạo đức liên quan chặt chẽ đến văn hóa doanh nghiệp. Khi tiến
hành giao dịch với một đối tác, trước tiên cần tìm hiểu tư cách pháp nhân, năng lực
tài chính và mức độ uy tín của doanh nghiệp đó. Đối với các đối tác chưa thực sự
hiểu rõ cần phải áp dụng các biện pháp, các phương thức thanh toán đảm bảo an toàn.
Đối với các ngân hàng, khi thực hiện các giao dịch TTQT cần phải lựa chọn các đối
tác tin cậy, có uy tín cao trên trường quốc tế.
Để phục vụ yêu cầu tất yếu đó của các ngân hàng, đã có rất nhiều tổ chức đánh
giá ngân hàng quốc tế ra đời, thực hiện dịch vụ nghiên cứu và đánh giá các ngân hàng
trên toàn thế giới về xếp loại tín dụng, xếp loại uy tín, năng lực tài chính, mức độ tín
nhiệm… Ví dụ tổ chức Standard and Poor, Fitch Rating…
Đối với các khách hàng thực hiện giao dịch TTQT, ngân hàng cần phải xây
dựng chính sách khách hàng riêng cho từng đối tượng, áp dụng các chính sách ưu đãi
đối với các khách hàng truyền thống, có quan hệ tốt, có uy tín. Ngược lại đối với các
khách hàng mới, khách hàng nhiều rủi ro tiềm ẩn phải có các quy định chặt chẽ đảm
bảo an toàn cho ngân hàng. Thường xuyên theo dõi, đánh giá tình hình kinh doanh
của khách hàng để phát hiện kịp thời những vấn đề phát sinh của khách hàng để có
biện pháp xử lý kịp thời.
Tư vấn và hỗ trợ khách hàng trong việc tìm hiểu các thông tin về đối tác nước
ngoài để có các quyết định kinh doanh đúng đắn. Việc tìm hiểu thông tin có thể được
thực hiện qua nhiều kênh khác nhau, như thông qua các ngân hàng đại lý, các tổ chức
xúc tiến thương mại, tham tán thương mại tại quốc gia đó, các tạp chí chuyên ngành,
các mạng Internet của các tổ chức quốc tế có uy tín… - 20 -

CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TTQT TẠI BIDV

2.1 TỔNG QUAN VỀ BIDV

soát), Ban Tổng giám đốc (Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Văn phòng, các
Ban, phòng chức năng và các đơn vị thành viên).
- 21 -

Hội đồng quản trị là cơ quan có thẩm quyền cao nhất được Nhà nước uỷ quyền
thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu Nhà nước với toàn bộ hệ thống và chịu trách
nhiệm trước Nhà nước. Các thành viên của Hội đồng quản trị do Thủ tướng Chính
phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm.
Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân trong các hoạt động của Ngân hàng và
chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động của Ngân hàng.
Các đơn vị thành viên của BIDV gồm:
- Các chi nhánh hạch toán phụ thuộc: được chủ động trong kinh doanh, hoạt
động tài chính, tổ chức và nhân sự, được uỷ quyền một phần trong đầu tư phát triển
và huy động vốn đầu tư, thành lập các đơn vị trực thuộc. Hiện nay, BIDV có 72 chi
nhánh cấp 1 tại tất cả các tỉnh thành phố trên cả nước, 42 chi nhánh trực thuộc, 59
phòng giao dịch và 215 quỹ tiết kiệm.
- Các thành viên hạch toán độc lập: là các đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ kinh
doanh. Các doanh nghiệp này vừa có sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với
Tổng công ty, vừa có quyền tự chủ kinh doanh và hoạt động tài chính với tư cách
pháp nhân kinh tế độc lập, gồm Công ty thuê mua tài chính, Công ty chứng khoán,
Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản.
- Các đơn vị liên doanh: được thành lập với tỷ lệ góp vốn giữa BIDV và các đối
tác nước ngoài là 50/50, hoạt động trong các lĩnh vực ngân hàng và bảo hiểm, gồm có
Ngân hàng Liên doanh VID-PUBLIC (liên doanh với Public Bank Berhad, Malaysia),
Ngân hàng Liên doanh Lào-Việt (liên doanh với Ngân hàng ngoại thương Lào –
Banque pour le Commerce Exterieure Lao) và Công ty Liên doanh Bảo hiểm Việt-Úc
(liên doanh với Tập đoàn bảo hiểm QBE, Úc)
- Các đơn vị sự nghiệp: gồm Trung tâm đào tạo, Trung tâm công nghệ thông tin,
Trung tâm thanh toán điện tử hoạt động theo quy chế do Tổng giám đốc duyệt, thực
hiện hạch toán nội bộ, lấy thu bù chi, được sự hỗ trợ tài chính của Ngân hàng và được

Vượt hạn mức
Trong hạn mức
Hệ thống
SWIFT
Chi nhánh thực
hiện TTQT gián
tiếp
Trong hoạt động TTQT, các chi nhánh trong hệ thống BIDV được chia thành 2 loại:
+ Loại 1: Các chi nhánh thực hiện TTQT trực tiếp: là các chi nhánh có đủ điều
kiện cần thiết để trực tiếp xử lý các nghiệp vụ TTQT, cụ thể là:
- Cán bộ được đào tạo về nghiệp vụ TTQT, có trình độ ngoại ngữ và kiến thức
ngoại thương đủ đáp ứng yêu cầu công việc.
- Có thị trường và khách hàng xuất nhập khẩu.
- Có đủ trang thiết bị và phương tiện cần thiết trong hoạt động TTQT.
- 23 -

- Được Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cấp giấy phép
hoạt động TTQT trực tiếp.
Chi nhánh trực tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, xử lý và chịu trách nhiệm vê
các giao dịch phát sinh với các đối tác trong và ngoài nước. Các điện giao dịch của
chi nhánh sẽ được chuyển tới Hội sở chính bằng hệ thống thanh toán điện tử T5 và
SIBS (đối với các chi nhánh đã triển khai dự án Hiện đại hoá Ngân hàng) để chuyển
tiếp ra nước ngoài thông qua hệ thống SWIFT.
Tuỳ theo trình độ nghiệp vụ và chất lượng giao dịch TTQT của các chi nhánh,

Ngân hàng mở L/C
(Issuing Bank)
Nhà xuất khẩu
(Beneficiary)
(7) Gửi bộ chứng từ đòi tiền
(6) Xuất trình bộ
chứng từ
(4) Thông báo L/C
(3) Phát hành L/C
(2) Đơn đề nghị
mở L/C
(1) Ký hợp đồng
Nhà nhập khẩu
(Applicant)
Ngân hàng thông báo
(Advising Bank)
(8’) Trích tài khoản
hoặc báo nợ, giao
bộ chưng từ
(9) Báo có
(5) Giao hàng

5%. Mức độ rủi ro của các giao dịch này phụ thuộc vào uy tín và năng lực tài
chính của bên thứ ba cấp tín dụng hoặc bảo lãnh và các điều kiện khoản vay.
iv) Nếu khách hàng mở thư tín dụng bằng vốn tự có, BIDV yêu cầu khách hàng
phải ký quỹ tối thiểu 5% và có các biện pháp đảm bảo cho nguồn vốn còn lại
như ký Hợp đồng tín dụng dự phòng, Bảo lãnh của bên thứ ba, ví dụ như Tổng
công ty…
Việc phát hành thư tín dụng được thực hiện tại tất cả các chi nhánh đã thực
hiện TTQT trực tiếp. Chi nhánh tự chịu trách nhiệm xem xét hồ sơ khách hàng,
nguồn vốn thanh toán thư tín dụng trong mức phán quyết tín dụng của chi nhánh do
Tổng giám đốc giao. Những thư tín dụng vượt hạn mức tự động của chi nhánh được
kiểm soát lại tại Hội sở chính.
Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ trong doanh số và số lượng thư tín dụng
phát hành, cơ cấu hàng hoá nhập khẩu thanh toán qua BIDV cũng thay đổi qua các
năm theo xu hướng đa dạng hoá. Nếu trong những năm mới hoạt động, mặt hàng
nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị do các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực
xây dựng cơ bản nhập khẩu để phục vụ sản xuất kinh doanh thì nay đã mở rộng thêm
các mặt hàng điện tử, nguyên vật liệu, phân bón, xăng dầu, bông sợi, hoá chất…
b. L/C xuất khẩu: Hoạt động thanh toán xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng
từ là một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động TTQT của BIDV. Sự tăng trưởng và
phát triển trong hoạt động này là kết quả của sự nỗ lực vượt bậc của Ngân hàng trong
hoạt động TTQT. Từ khi mới thực hiện hoạt động TTQT, các giao dịch thanh toán

Trích đoạn Các rủi ro trong thực hiện phương thức chuyển tiền tại BIDV: Quy trình thực hiện thanh toán nhờ thu và các điện SWIFT được sử dụng Đối với ngân hàng phát hành L/C Đối với ngân hàng thông báo L/C
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status