Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng tại Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đã là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới từ ngày
7/1/2007. Ngành tài chính Ngân hàng Việt Nam sẽ mở cửa hội nhập mạnh mẽ với khu vực
và thế giới. Đến năm 2010, các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam sẽ được đối
xử bình đẳng như các ngân hàng trong nước. Theo dự đoán của các chuyên gia trong
ngành, nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt để nâng cao năng lực cạnh tranh,
các ngân hàng Việt Nam sẽ khó tồn tại khi có sự lấn sân ngày càng sâu của ngân hàng
ngoại.
Thực tiễn đã cho thấy thất bại của các ngân hàng Việt Nam trong hoạt động tín
dụng gắn chặt với lý do thiếu hiểu biết về khách hàng. Với mong muốn tìm hiểu một cách
sâu sắc hơn về thực trạng dịch vụ tín dụng và những khó khăn của ngân hàng Việt Á để từ
đó đưa ra giải pháp khả thi nhằm phát triển dịch vụ tín dụng một cách hiệu quả nhất, nhóm
chúng tôi đã chọn “Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngành ngân
hàng tại Việt Nam” làm đề tài cho bài tiểu luận kết thúc môn học “Kinh tế vi mô”.
Xuất phát từ thực tiễn cung cấp dịch vụ tín dụng trong thời gian qua tại Việt Nam
nhóm thực hiện đưa ra ba mục tiêu nghiên cứu chính như sau:
(1) Xác định mức độ thông tin bất cân xứng giữa những giữa ngân hàng và khách
hàng
(2) Xác định các yếu tố nào có tác động mạnh đến mức độ thông tin bất cân xứng
trên thị trường tín dụng hiện nay.
(3) Gợi ý chính sách cần thiết nhằm làm giảm thông tin bất cân xứng.
Nhóm 8- Kinh tế vi mô đêm 1 Trang 1
Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng tại Việt Nam
Chương 1: TÌNH TRẠNG THÔNG TIN BẤT CÂN
XỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÀNH
NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM
1.1. Lý thuyết về thông tin bất cân xứng
1.1.1. Giới thiệu sơ lược về lịch sử lý thuyết thông tin bất cân xứng
G.A.Akerlof (1970)
Theo Auronen (2003, tr.7), người đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân
Michael Spence (1973): Phát tín hiệu
Tiếp tục phát triển lý thuyết của G.A. Akerlof, Spence đã nghiên cứu trên thị trường
Lao động (Auronen, 2003, tr.10). M. Spence xem việc thuê lao động là một quyết định đầu
tư không chắc chắn. Tính không chắc chắn ở đây là việc thuê lao động mà người chủ
không biết được khả năng đóng góp, khả năng tạo ra năng suất của người lao động là bao
nhiêu. Vì thế việc thuê lao động có thể thuê được lao động có chất lượng hoặc không. Một
trong những phương cách giúp người chủ thuê được lao động có năng lực đó là ông chủ có
thể xem qua chất lượng bằng cấp, kinh nghiệm,… của người lao động. Đó được gọi là
những tín hiệu được phát ra của người lao động. Như vậy việc phát tín hiệu này đã làm
giảm thông tin bất cân xứng giữa những người lao động và ông chủ.
Joseph Stiglitz (1975): Cơ chế sàng lọc
Cơ chế sàng lọc của J. Stiglitz cũng là lý thuyết phát triển lý thuyết của Michael
Spence (Auronen, 2003, tr.13). Theo Ông bất cứ hàng hóa nào cũng đều có những đặc tính
khác nhau như chất lượng khác nhau, mẫu mã khác nhau nên cần phải phân loại chúng.
Đối với lao động cũng có lao động có khả năng, tay nghề cao và lao động có khả năng, tay
nghề thấp. Vì vậy không thể trả lương theo một mức lương cân bằng. Để khuyến khích
người có khả năng cao, tạo ra năng suất lao động cao thì cần phải trả lương cao để khuyến
khích họ. Đối với người có khả năng thấp, việc cố gắng đạt được một mức năng suất sản
xuất để nhận được lương cao sẽ tốn chi phí rất lớn so với người có khả năng cao. Vì vậy
việc phân nhóm lao động để trả lương là việc làm cần thiết để khuyến khích những người
có khả năng nâng cao trình độ và mang lại hiệu quả cao cho xã hội.
1.1.2. Khái niệm về thông tin bất cân xứng
Như vậy, trong kinh tế học nói chung, tình trạng thông tin bất cân xứng
(asymmetrical information hoặc information asymmetry) phát sinh khi trong một giao dịch,
một trong các bên tham gia có nhiều thông tin hơn hoặc có thông tin tốt hơn (các) bên còn
lại.
Chúng ta có thể tham khảo một số khái niệm về thông tin bất cân xứng dưới đây:
(1) Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có nhiều thông tin hơn một
bên khác. Điển hình là người bán biết nhiều về sản phẩm hơn đối với người mua hoặc
ngược lại (Trang từ điển Wikipedia).
người đi vay sẽ bị hạn chế.
Nhóm 8- Kinh tế vi mô đêm 1 Trang 4
Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng tại Việt Nam
- Giám sát gián tiếp: mặc nhiên người đi vay phải có trách nhiệm thông báo trực
tiếp hoặc gián tiếp đến ngân hàng. Ngoài ra còn có giám sát thị trường: căn cứ đánh giá của
thị trường để biết nhiều thông tin hơn về các khách hàng sau khi thực hiện hợp đồng tín
dụng.
Cơ chế giám sát được thực hiện rất chặt chẽ trên thị trường tín dụng. Vì ngân hàng
không thể bỏ ra một số tiền mà không biết số tiền đó được sử dụng như thế nào.
Hình 1: Tóm tắt mô hình thông tin bất cân xứng
Nhóm 8- Kinh tế vi mô đêm 1 Trang 5
Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng tại Việt Nam
1.2. Tình trạng, nguyên nhân và hệ quả tình trạng thông tin bất cân xứng
trong hoạt động tín dụng tại Việt Nam
Hoạt động cung cấp tín dụng, cũng giống như các giao dịch bảo hiểm hay các hoạt
động mua bán một sản phẩm nào đó, do thông tin của các bên giao dịch khác nhau nên
luôn tồn tại hai hệ quả của giao dịch này là lựa chọn bất lợi (còn gọi là lựa chọn đối
nghịch) và tâm lý ỷ lại (còn gọi là rủi ro đạo đức).
1.2.1. Lựa chọn bất lợi (còn gọi là lựa chọn đối nghịch)
‘Lựa chọn bất lợi là kết quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi thực hiện
giao dịch hay nói cách khác trước khi ký hợp đồng’ (Nguyễn Trọng Hoài, 2006).
Những người đi vay tiềm ẩn rủi ro cao lại là những người tích cực trong việc tìm
kiếm các khoản vay. Như vậy, những người có nhiều khả năng đem lại kết quả không
mong muốn lại là những người mong muốn trở thành một bên trong giao dịch.
Ví dụ: những người liều lĩnh hay có động cơ lừa đảo thường là những người hăm hở chấp
nhận khoản vay , bởi vì họ biết rõ khả năng trả lại khoản vay là không hoặc khó xảy ra. Do
đó, sự lựa chọn đối nghịch có thể làm tăng khả năng khoản tín dụng sẽ được cấp cho người
có rủi ro cao, ngược lại ngân hàng lại có thể từ chối bất kỳ những khoản tín dụng nào cho
những người tin cậy trên thị trường.
Hoặc khi nguồn tín dụng dồi dào, lãi suất cho vay thấp, thì các dự án có suất sinh
bớt rủi ro ngân hàng đã tính một phần rủi ro vào trong lãi vay ngân hàng, làm cho người
vay tốt phải gánh chịu một mức lãi vay cao hơn mức đáng ra họ được hưởng.
Ví dụ: Ngân hàng XYZ cho doanh nghiệp chế biến gỗ A vay vốn để ứng tiền mua gỗ sản
xuất cho Công ty khai thác gỗ B theo hợp đồng ký kết giữa hai bên để Công ty B chuyển
xe, máy và lao động đến vùng khai thác, với biện pháp bảo đảm là thế chấp một phần tài
sản của Doanh nghiệp A và cầm cố lô gỗ (tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay). Sau khi
giải ngân vốn vay ngân hàng XYZ đã phát hiện bên vay không sử dụng vốn vay để mua gỗ
mà dùng để trả nợ vay bên ngoài, hợp đồng ký kết giữa hai công ty chỉ mang tính thủ tục
để được vay vốn ngân hàng. Vì thế khi khoản tiền ngân hàng cho vay chuyển vào tài khoản
của Công ty B, công ty B đã phát hành ngay ủy nhiệm chi để chuyển tiền toàn bộ số tiền
trên vào tài khỏan của Doanh nghiệp A ở một ngân hàng khác, đồng thời hai bên ký biên
bản thanh lý hợp đồng trước hạn, không thực hiện hợp đồng vì một lý do nào đấy. Doanh
nghiệp A đã rút số tiền này ra để trả nợ bên ngoài. Như vậy, khi Ngân hàng phát hiện ra thì
chuyện đã rồi, Doanh nghiệp đã gặp khó khăn nhưng ngân hàng lại không có thông tin kịp
Nhóm 8- Kinh tế vi mô đêm 1 Trang 7
Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng tại Việt Nam
thời nên đã đánh giá sai về khách hàng và khoản vay. Nợ vay không có nguồn thu chỉ còn
chờ vào việc phát mãi tài sản để thu hồi nợ.
Đây là một ví dụ điển hình trong việc cho vay với hình thức bảo đảm nợ vay kết hợp vừa
thế chấp, cầm cố, vốn tự có tham gia và bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Ngân hàng không thể đánh giá đầy đủ tài chính của khách hàng:
Theo sổ sách kế toán (chưa qua kiểm toán) và các thông tin khách hàng cung cấp Ngân
hàng thực hiện thẩm định các chỉ tiêu tài chính, nhưng Ngân hàng không thể đảm bảo là đã
thẩm định chính xác hay chưa. Do sổ sách kế toán mà doanh nghiệp cung cấp cho ngân
hàng nhiều khi mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Thậm chí, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ của Việt Nam thường xây dựng hệ thống sổ sách báo cáo kế toán (thường là 3).
Một dùng cho nội bộ (số liệu thực), một dùng để báo cáo với cơ quan thuế (kết quả kinh
doanh thấp hơn thực tế), một dùng để vay vốn ngân hàng (kết quả báo cáo thường cao hơn
thực tế). Với tình trạng như vậy, khi doanh nghiệp gặp khó khăn thì ngân hàng rất khó
nhận biết tình trạng thực của doanh nghiệp. Ngân hàng có thể gặp rủi ro tín dụng với các
hình thức vì hầu hết các khoản vay đều do một cán bộ thẩm định tiến hành. Kết quả
là việc đánh giá về kỹ thuật không mang tính khả thi, nhất là trong điều kiện trình
độ cán bộ thẩm định của Việt Nam còn chưa được chuyên sâu.
- Một khó khăn khác trong việc thẩm định dự án là xác định một suất chiết khấu phù
hợp mức độ rủi ro của dự án và doanh nghiệp vay vốn. Ở Việt Nam, thị trường
chứng khoán và các dịch vụ tài chính chưa phát triển nên việc xác định suất chiết
khấu dựa trên mô hình CAPM không thể thực hiện được. Các cán bộ thẩm định
thường sử dụng lãi suất ngân hàng làm suất chiết khấu. Suất chiết khấu được áp
dụng cào bằng như nhau giữa các dự án có mức độ rủi ro khác nhau có thể để lọt
những dự án có độ rủi ro cao.
- Xác định mục tiêu chính xác của dự án vay vốn cũng là một việc làm rất khó khăn,
nhất là khi các doanh nghiệp cố tình che dấu mục đích vay vốn thực của mình.
Ví dụ: Khách sạn X là liên doanh giữa Công ty Y thuộc Bộ quốc phòng với một
Công ty Zcủa Singapore. Tổng vốn đầu tư của Dự án là 27 triệu USD, vốn pháp định là 6
triệuUSD; trong đó Công ty Y góp 30% (1,8 triệu USD) vốn pháp định bằng quyền sử
dụng đất, Công ty Z góp 70% (4,2 triệu USD) vốn pháp định bằng tiền mặt. Liên doanh
này sau đó đầu tư khách sạn X bằng việc vay thêm 21 triệu USD từ Công ty mẹ tại
Singapore của Công ty Z.
Nhóm 8- Kinh tế vi mô đêm 1 Trang 9
Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng tại Việt Nam
Trong thời gian họat động từ năm 1997 đến năm 2004, Khách sạn X lỗ liên tục và số
lỗ lũy kế lên đến 15 triệu USD tính đến cuối năm 2004. Toàn bộ nguồn thu của Khách
sạn X trong các năm hoạt động (1997 – 2004) được chi trả chủ yếu vào những khoản
sau:
Trả cho Công ty quản lý khách sạn (là 1 công ty Singapore thuộc công ty mẹ của
Công ty Z khoảng 2 triệu USD/năm theo Hợp đồng quản lý dài hạn đã ký với
Liên doanh suốt thời gian hoạt động của Dự án)
Trả lãi vay cho Công ty mẹ của Công ty Z (vào khoảng 1,2 triệu USD/năm).
Trả nợ gốc của khoản vay: 3 triệu USD/năm (đến cuối năm 2004 , tòan bộ nợ gốc
đã được thu hồi đủ, lãi từ khoản vay (với lãi suất và phí cao gấp 2 lần so với lãi
người Singapore, 1 thư ký người Việt Nam.
Hiện nay, quyết định cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại lệ thuộc nhiều vào ý
chủ quan của những người liên quan đến công tác tín dụng. Vấn đề không đơn thuần
về đạo đức mà do sự hạn chế về các công cụ đánh giá, chủ yếu là nguồn thông tin nên
việc đánh giá khách hàng và khoản vay không chính xác.
1.2.2. Tâm lý ỷ lại (còn gọi là rủi ro đạo đức)
Hệ quả thứ hai mà thông tin bất cân xứng gây ra là tâm lý ỷ lại. Tâm lý ỷ lại là hành
động của bên có nhiếu thông tin hơn thực hiện sau khi ký hợp đồng gây tổn hại cho bên có
ít thông tin hơn.
Với các hợp đồng vay ngân hàng thì tâm lý ỷ lại phát sinh từ phía người đi vay. Họ
sử dụng tiền vay không hiệu quả và đúng mục đích.
- Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh
cụ thể, khả thi. Để đảm bảo khả năng trả nợ như theo kế hoạch đã thẩm định thì đòi
hỏi doanh nghiệp phải sử dụng vốn để giải ngân vào đúng mục đích kinh doanh đã
giải trình thì mới đảm bảo vòng quay vốn và dòng tiền về đúng hạn trả nợ. Tuy
nhiên, có một số doanh nghiệp lại dùng vốn vay vào các hoạt động không đúng với
mục đích ban đầu khi xin vay vốn làm ảnh hưởng đến dòng tiền và ảnh hưởng luôn
đến khả năng trả nợ vay cho ngân hàng, hệ quả là làm phát sinh nợ xấu.
- Có trường hợp khách hàng dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư trung và dài hạn. Đầu
tư dự án dài hạn trong khi chưa thu xếp đầy đủ nguồn vốn dẫn đến đầu tư dở dang,
thiệt hại xảy ra, làm phát sinh nợ quá hạn. Trong năm 2008, khi Ngân hàng nhà
nước thắt chặt tiền tệ, nhiều ngân hàng khác cũng từ chối cho vay dự án, dẫn đến
Nhóm 8- Kinh tế vi mô đêm 1 Trang 11
Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng tại Việt Nam
tình trạng doanh nghiệp không còn vốn hoạt động, dự án đầu tư cũng bị dang dở,
doanh nghiệp bị thiệt hại lớn và mất khả năng thanh toán trong ngắn hạn, nợ quá
hạn tại ngân hàng phát sinh.
- Khách hàng dùng vốn vay sản xuất kinh doanh để đầu tư bất động sản, kinh doanh
chứng khoán nên khi thị trường chứng khoán đi xuống, giá bất động sản giảm,
khách hàng bị thiệt hại, không những không bảo toàn được vốn vay mà còn bị thua
Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng luôn là người có ít thông tin về khách
hàng, về thiện chí trả nợ, về khả năng thanh toán, về dự án, về mục đích sử dụng khoản
tín dụng được cấp hơn khách hàng. Do đó, để đảm bảo an toàn trong hoạt động của mình,
bản thân các tổ chức tín dụng phải xử lý thông tin bất cân xứng để hạn chế lựa chọn bất
lợi và tâm lý ỷ lại nhằm cho vay đúng người đúng đối tượng và giám sát chặt chẽ để
khách hàng vay vốn có hành vi đúng đắn nhằm đảm việc thu hồi cả gốc và lãi khoản tín
dụng đã cấp ra.
Trong một nền kinh tế, hầu như không một ngân hàng nào có đủ khả năng tự mình
xử lý được vấn đề thông tin bất cân xứng mà cần phải có một cơ sở hạ tầng và những điều
kiện cần thiết cho nền kinh tế đó nhằm tránh xảy ra những vấn đề về hệ thống ảnh hưởng
tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế.
Nhóm 8- Kinh tế vi mô đêm 1 Trang 13
Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng tại Việt Nam
Chương 2: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
2.1. Giải pháp trước khi cho vay – hạn chế lựa chọn đối nghịch
2.1.1 Hệ thống thông tin kế toán và báo cáo tài chính
Hệ thống thông tin kế toán và báo cáo tài chính là một cơ sở cực kỳ quan trọng
giúp cho các bên có liên quan nắm bắt được tình hình tài chính của doanh nghiệp. Nếu
một hệ thống thông tin kế toán và báo cáo tài chính không được tổ chức tốt và không
minh bạch và có độ tin cậy cao sẽ rất khó có thể căn cứ để xem xét "sức khoẻ" của doanh
nghiệp.
Ở Việt Nam, Luật kế toán năm 2003 quy định đơn vị kế toán phải thu thập,
phản ánh khách quan, đầy đủ, đúng thực tế và đúng kỳ kế toán mà nghiệp vụ kinh tế, tài
chính phát sinh. Đơn vị kế toán có trách nhiệm công khai các báo cáo tài chính. Mặt khác,
các chuẩn mực kế toán theo thông lệ chung đã dần được áp dụng tại Việt Nam. Tuy
nhiên hiện tại, hệ thống tiêu chuẩn kế toán Việt Nam (VAS) vẫn còn những khác biệt
so với với hệ thống tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IAS).
Theo Nghị định về kiểm toán độc lập, trừ một số loại hình doanh nghiệp phải
thực hiện kiểm toán như bảo hiểm, ngân hàng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
chương trình máy tính để có thể thống kê nhanh và chuẩn xác các số liệu liên quan đến các
hoạt động tín dụng, dùng để phân tích đánh giá những biến động nhằm phát hiện các rủi ro
tiềm tàng, kịp thời có chính sách điều chỉnh, chủ động ứng phó khi rủi ro xảy ra.
2.1.4 Hệ thống thông tin phục vụ cho việc thẩm định dự án
Ngoài hệ thống thông tin dùng để đánh giá khách hàng, khi thẩm định dự án,
phương án kinh doanh, các tổ chức tín dụng cần phải có hệ thống thông tín nhằm xác
định, kiểm tra các thông số đầu vào và đầu ra của dự án, nhất là các thông số về thị
trường các nguyên liệu đầu vào và thị trường đầu ra của sản phẩm…
Thực tế, hiện nay các tổ chức tín dụng thường sử dụng các thông lấy được trên
mạng internet với tính hệ thống không cao. Việc truy cập, tìm kiếm những số liệu này
phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của các bộ tín dụng với yêu cầu phải có khả năng đọc
tốt tiếng anh. Do vấn đề về hệ thống thông tin phục vụ cho công tác thẩm định dự án của
các tổ chức tín dụng hiện nay vẫn đang là vấn đề rất lớn. Những biến số quan trọng
nhất quyết định đến hiệu quả của dự án như giá nguyên vật liệu, giá bán, khả năng tiêu
thụ… lại thiếu thông tin nhất trong quá trình thẩm định.
Thực tế, hiện nay các tổ chức tín dụng thường sử dụng các thông lấy được trên
Nhóm 8- Kinh tế vi mô đêm 1 Trang 15
Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng tại Việt Nam
mạng internet với tính hệ thống không cao. Việc truy cập, tìm kiếm những số liệu này phụ
thuộc rất nhiều vào trình độ của các bộ tín dụng với yêu cầu phải có khả năng đọc tốt tiếng
anh. Do vấn đề về hệ thống thông tin phục vụ cho công tác thẩm định dự án của các tổ
chức tín dụng hiện nay vẫn đang là vấn đề rất lớn. Những biến số quan trọng nhất quyết
định đến hiệu quả của dự án như giá nguyên vật liệu, giá bán, khả năng tiêu thụ … lại thiếu
thông tin nhất trong quá trình thẩm định. Do đó, ngân hàng cần bồi dưỡng thêm cho cán bộ
tín dụng nâng cao trình độ.
2.1.5 Hệ thống các tiêu chuẩn và kỹ thuật đánh giá
Sau khi có đủ các thông tin với độ tin cậy cao, điều kiện cần thiết tiếp theo là phải
có cá tiêu chuẩn và kỹ thuật đánh giá phù hợp. Chúng ta cùng xem xét thực tế này ở Việt
Nam
2.1.5.1 Các tiêu chuẩn đánh giá năng lực khách hàng
nghĩa xác thực để lấy đó làm căn cứ.
Thực tế tại các tổ chức đang làm là lấy lãi suất cho vay trung dài hạn của chính tổ
chức tín dụng đó cộng (+) thêm một tỷ lệ nữa để có được suất chiết khấu. Với phương thức
này có thể tạm chấp nhận được vì dù sao cũng có cơ sở. Nhưng cở sở này là rất cảm tính.
2.1.5.4. Các kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính, thẩm định dự án
Kỹ thuật đánh giá, thẩm định dự án nói riêng, dự báo nói chung hiện nay được sử
dụng phổ biến nhất là dựa vào phân tích mô phỏng (phân tích động) để tính xác suất có khả
năng xảy ra các trường hợp tốt và các trường hợp bất lợi cho dự án. Việc nhìn vào biểu đồ
phân bố xác xuất của dự án có thể bết được xác suất để NPV dương là bao nhiêu, âm là
bao nhiêu.
Hiện nay ở Việt Nam, các kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính, thẩm định dự án tiên
tiến chưa được áp dụng và phổ biến rộng rãi tại Việt nam do điều kiện về công nghệ và
những người am hiểu về nó còn rất hạn chế. Vì vậy việc áp dụng đại trà gặp rất nhiều khó
khăn.
Từ thực tế nêu trên, một người am hiểu một chút về kỹ thuật thẩm định dự án là có
thể biến một dự án có xác xuất NPV dương hay IRR lớn hơn ngưỡng cần thiết đạt 100%.
Khi muốn bác một dự án hoặc đánh giá một doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả là vấn
đề hết sức khó khăn đối với cán bộ tín dụng. Nhất là đối với những dự án của những doanh
nghiệp có "mối quan hệ" tốt.
Với những vấn đề nên trên, việc xử lý lựa chọn bất lợi của khách hàng trong hoạt
Nhóm 8- Kinh tế vi mô đêm 1 Trang 17
Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng tại Việt Nam
động tín dụng của các tổ chức tín dụng Việt Nam hiện nay đang là vấn đề rất lớn. Đó mới
là những vấn đề trước khi quyết định cho vay. Bây giờ chúng ta cùng xem xét vấn đề xử
lý tâm lý ỷ lại của các tổ chức tín dụng sau khi cho vay. Hay nói cách khác việc giám sát
sử dụng vốn vay, thu hồi nợ vay của các tổ chức tín dụng.
2.2. Giải pháp sau khi cho vay – khắc phục tâm lý ỷ lại
Để có thể kiểm tra giám sát, đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích đòi hỏi
các tổ chức tín dụng phải biết được dòng tiền vào và dòng tiền ra trong quá trình sử dụng
vốn vay của bên vay. Đây là một vấn đề rất lớn đang đặt ra đối với các tổ chức tín
thiết, thì tài sản đảm bảo là cơ chế tốt nhất để giảm thiểu lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại do
thông tin bất cân xứng gây ra. Muốn vậy, cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
Ngân hàng Việt Á cần phải tuân thủ các điều kiện quy định của Nhà nước về biện
pháp đảm bảo tiền vay tương ứng. Để thực hiện tốt yêu cầu trên, ngân hàng cần phải có các
biện pháp tích cực, hạn chế tính chủ quan trong quyết định chọn lựa, đặc biệt kiên quyết xử
lý hành vi thông đồng với khách hàng gây thiệt hại cho ngân hàng.
Để có được một biện pháp đảm bảo tiền vay không những phù hợp với từng loại
hình khách hàng cụ thể, mà còn đảm bảo sự an toàn, hiệu quả, trước hết, ngân hàng cần có
sự tính toán đầy đủ, đồng bộ và cân nhắc chính xác các yếu tố như tình hình sản xuất kinh
doanh, khả năng tài chính, hiệu quả dự án, tài sản đảm bảo, mối quan hệ tín dụng trên cơ
sở có phối hợp kiểm tra đối chiếu thực tế.
Mặc dù cho vay có tài sản đảm bảo, các khoản vay vẫn hàm chứa rủi ro không thu
được nợ do nhiều nguyên nhân khác nhau như tài sản hư hỏng, khó bán, giảm giá
trị để lựa chọn đúng đắn biện pháp đảm bảo tiền vay cho từng khoản vay cụ thể
đảm bảo an toàn và hiệu quả thì cần phải đánh giá khách hàng một cách toàn diện và
chính xác, sau đó chọn lấy yếu tố mạnh nhất để đảm bảo tiền vay. Đặc biệt, không
được chủ quan cho vay chỉ căn cứ vào tài sản đảm bảo, xem nhẹ các yếu tố tài chính,
dự án/phuơng án sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Trong việc đánh giá tài sản thế chấp cần nhấn mạnh giá trị có thể chuyển đổi thành
tiền thực tế trên thị trường hay còn gọi là giá trị thị trường của tài sản thế chấp.
Nhóm 8- Kinh tế vi mô đêm 1 Trang 19
Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng tại Việt Nam
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đề tài này mang lại cho nhóm chúng tôi rất nhiều hữu ích nhưng cũng
đầy khó khăn, thử thách. Được sự định hướng, khuyến khích và giúp đỡ nhiệt tình của TS.
Hay Sinh và sự nhất trí, đồng lòng của cả nhóm; chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài này.
Sau quá trình nghiên cứu được trình bày ở trên, chung tôi đã làm rõ các câu hỏi sau
đây cần được trả lời là:
1) Tình trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng
là gì?