Tình hình nợ công tại việt nam - Pdf 94

LỜI MỞ ĐẦU
Nợ công là một phần quan trọng và không thể thiếu trong tài chính của mỗi
quốc gia. Từ những nước nghèo nhất ở châu Phi đến những quốc gia đang phát
triển như Việt Nam, Campuchia hay những cường quốc giàu có với trình độ phát
triển cao như Mĩ, Nhật, EU thì đều phải đi vay để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu
và sử dụng của chính phủ nhằm các mục đích khác nhau. Nợ công cần phải được
sử dụng hợp lý, hiệu quả và quản lí tốt, nếu không thì khủng hoảng nợ công có thể
xảy ra với bất cứ quốc gia nào tại bất kì thời điểm nào và để lại những hậu quả
nghiêm trọng. Trong bối cảnh nước ta đang tích cực thực hiện kế hoạch tái cấu trúc
nền kinh tế quốc dân, vấn đề nợ công cần được đặt ra và giải quyết một cách sáng
suốt và thỏa đáng, vì tương lai phát triển của nền kinh tế và của đất nước. Theo
thống kê của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia thì tổng nợ công của Việt Nam
năm 2007 là 33,8% GDP đến cuối năm 2011 thì tỷ lệ này nâng lên 54.6% GDP.
Tốc đô tăng nhanh như vậy là một điều đáng báo động với một nền kinh tế nhỏ,
đang phát triển, phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu nông sản và sản phẩm ngành công
nghiệp nhẹ như nước ta. Từ thực trạng đó đặt ra nhiều câu hỏi: Tình hình nợ công
và quản lí nợ công ở Việt Nam trong 5 năm trở lại đây như thế nào? Những điểm
đạt được và những mặt hạn chế cần khắc phục ra sao để từ đó đưa ra các giải pháp
và đề xuất nhằm quản lí có hiệu quả nợ công ở Việt Nam? Đó cũng là những nội
dung chính sẽ được đề cập trong bài thuyết trình của nhóm 6:“Tình hình nợ công
tại Việt Nam”.
Lý thuyết tài chính công Trang 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm
Trong quá khứ, khủng hoảng nợ công cũng đã được biết đến vào đầu thập kỷ
80 của Thế kỷ XX. Năm 1982, Mê-hi-cô là quốc gia đầu tiên tuyên bố không trả
được nợ vay IMF. Đến tháng 10/1983, 27 quốc gia với tổng số nợ lên tới 240 tỷ
USD đã tuyên bố hoặc chuẩn bị tuyên bố hoãn trả nợ. Tuy nhiên, đến nay xung
quanh khái niệm và nội hàm của nợ công vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống
nhất.
Theo quan điểm của ngân hàng thế giới(WB) nợ công là toàn bộ những

ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc
các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành
theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong
từng thời kỳ.
- Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức
tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
- Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành.
Lý thuyết tài chính công Trang 3
* Ngoài ra, còn phân loại dựa vào thời gian trả nợ như :
- Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống)
- Nợ trung hạn (từ 1 năm đến 10 năm)
- Nợ dài hạn (trên 10 năm)
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công
Cân bằng ngân sách cơ bản: Thâm hụt nhỏ thì những khoản vay sẽ
giảm đi và ngược lại.
- Lãi suất thực tế: Khi lãi suất tăng lên: các khoản vay của chính phủ
sẽ trở nên đắt hơn và khó khăn hơn. Nếu không có kế hoạch vay nợ rõ ràng thì
sẽ không đảm bảo vay nợ đúng thời hạn để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư của
Chính phủ, làm ảnh hưởng đến sự bền vững của chính sách tài khóa.
- Tốc độ tăng trưởng thực tế: Nền kinh tế càng phát triển thì khoản vay
của Chính phủ sẽ trở nên dễ dàng hơn khi nền kinh tế tăng trưởng chậm. Ngoài
ra khi kinh tế tăng trưởng chậm, người dân cũng như Doanh Nghiệp thắt chặt
chi tiêu hơn, việc tích lũy ít đi và nguồn vay của Chính Phủ sẽ giảm đáng kể.
Còn có thể đi kèm với lạm phát và thất nghiệp,lúc này những khoản trả nợ vay
đến hạn còn phải cấp bù lạm phát.
- Lãi suất ngoại tệ: Lãi suất ngoại tệ thực tế tăng lên thì khoản vay của
CP sẽ trở nên đắt hơn và ngược lại.
- Tỷ giá thực tế: Ảnh hưởng đến những khoản vay và trả đối với nợ công

- Mục đích phát hành:
• Nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời của NSNN.
• Là công cụ quan trọng để NHTW điều hành chính sách tiền tệ.
- Được bán thấp hơn vs mệnh giá. Thanh toán theo mệnh giá đến cuối kỳ
chứ không trả lãi định kỳ.
- Có mệnh giá tối thiểu là 1.000.000 đồng (một triệu đồng ); các mệnh
giá cụ thể cao hơn do Liên Bộ Ngân hàng Nhà nước - Tài chính quy định và
công bố trong thông báo phát hành.
- Mức độ rủi ro vỡ nợ: thấp nhất trong tất các công cụ trên TTTT. Tín
phiếu kho bạc thường được coi là không có rủi ro tín dụng (rủi ro phá
sản).
Lý thuyết tài chính công Trang 5
- Tính thanh khoản(tính lỏng): là công cụ có tính thanh khoản cao nhất.
- Thời hạn của tín phiếu kho bạc: thường là 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng với
một hay nhiều mức mệnh giá.
- Hình thức phát hành: ghi sổ và chứng chỉ tín phiếu
• Đối với hình thức ghi sổ: Do Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn và quản
lý sổ sách.
• Đối với hình thức chứng chỉ tín phiếu: Ngân hàng Nhà nước in theo mẫu do
Bộ Tài chính quy định .
1.6. Quản lý nợ công
Trong thời gian gần đây, công tác quản lý nợ của Việt Nam đã đạt được
những tiến bộ đáng kể, góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước, cụ thể
là:
- Thông qua hoạt động vay nợ, Chính phủ và chính quyền địa phương các
cấp đã huy động được nguồn vốn khá lớn cho đầu tư phát triển, đồng thời vẫn
đảm bảo quản lý nợ trong các giới hạn an toàn.
- Hoạt động huy động vốn trong nước của Chính phủ thông qua phát
hành tín phiếu, trái phiếu Chính phủ cũng đã giúp hình thành thị trường trái
phiếu Chính phủ trong nước, một thành tố khá quan trọng để hình thành thị

Theo nhiều chuyên gia, sự nhìn nhận nghiêm khắc của giới phân tích tài chính
trong vấn đề nợ công Việt Nam là xuất phát từ thực tế. Theo Ủy ban Giám sát tài
chính Quốc gia, năm 2007, nợ công là 33,8% GDP nhưng từ 2008, tỷ lệ này nâng
lên 36,2%; 2009: 41,9%; 2010: 56,7%. Năm 2011, tỷ lệ này giảm xuống còn
54.6%.
Lý thuyết tài chính công Trang 7
Như vậy, từ năm 2007 đến hết 2011, nợ công đã tăng khoảng 25%, đạt mức
trung bình 5%/năm. Với đà tăng này, chỉ cần 8 năm nữa, nợ công Việt Nam sẽ lên
tới 100% GDP.
Nhìn vào các số liệu về nợ công, chi tiêu công và lạm phát từ năm 2001 đến
2011, có thể vẽ ra bức tranh sơ lược về tình hình nợ công liên quan đến chi tiêu
công của Việt Nam. Từ năm 2001 đến 2007, tăng trưởng diễn ra thuận chiều với
chi tiêu công. Trong giai đoạn này, chi tiêu công có tác động tích cực đến tăng
trưởng. Tuy nhiên từ năm 2007 đến 2011, mối quan hệ này đã đảo chiều và
chuyển sang ảnh hưởng tiêu cực.
Một điều cần lưu ý, từ năm 2007, trong khi tăng trưởng giảm sút thì chi tiêu
công của Việt Nam vẫn tăng lên và hầu như ngay lập tức lạm phát cũng tăng nhanh
đáng kể. Nợ công chỉ suy giảm chút ít vào năm 2008 rồi lại tiếp tục tăng vọt từ
năm 2009.
Trong bối cảnh này, cách giải thích lôgíc là nguồn chi tiêu công được tài trợ
chủ yếu bằng phát hành tiền và lạm phát phản ứng của xã hội về kỳ vọng mất giá
đồng nội tệ. Mối quan hệ đó có thể được làm rõ qua số lượng phát hành tiền trong
giai đoạn này.
2.1.1. Về quy mô nợ công
Quy mô nợ tăng nhanh
Ông Nguyễn Minh Phong nhận định, có 4 thách thức nợ công của Việt Nam:
Thách thức thứ nhất là quy mô nợ tăng nhanh vượt dự báo. Ông Phong dẫn ra
rằng, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ cho biết, tính đến 31/12/2012, tỷ lệ
nợ Chính phủ là 45,7% GDP, nợ nước ngoài là 42,2%; nợ công là 57,3%. Trong kế
hoạch trình Quốc hội, đến 31/12/2011, nợ công là 54,6%, đến 31/12/2012 là 58,4%

Nam tính đến cuối năm 2009 là 52,6% GDP (trong đó, nợ Chính phủ là
41,9%GDP, nợ Chính phủ bảo lãnh là 9,8%GDP, nợ của chính quyền địa phương là
0,8%GDP) nhưng đến cuối năm 2010 đã tăng vọt lên đến 56,6% GDP.
Tuy nhiên, theo số liệu công bố mới nhất cũng của Bộ Tài chính thì tính đến
cuối năm 2011, nợ công đã giảm nhẹ, chiếm 54,6%GDP, trong đó nợ chính phủ là
43,6% GDP, nợ nước ngoài chiếm 41,5% GDP (tương đương 50 tỷ USD).
Theo số liệu được cung cấp bởi Kiểm toán Nhà nước, tính đến hết năm 2010
nợ phải trả nước ngoài dùng để cho vay lại tương đương 11,2 tỷ USD, tăng hơn so
với 9,203 tỷ USD năm 2009. Trong đó, số dư mà Bộ Tài chính cho vay lại tại 11 tổ
chức cho vay lại và 7 đơn vị vay lại khoảng 8,4 tỷ USD.
Lũy kế đến hết năm 2011, số tiền Bộ Tài chính ứng trả nợ thay cho các đơn
vị được Chính phủ bảo lãnh vay công nước ngoài gần 2.437 tỷ đồng.
Các hệ số an toàn của nợ công Việt Nam tuy vẫn còn trong giới hạn nhưng
đã tiệm cận ở mức cao. Dư nợ công tăng lên trong thời gian qua là do các khoản
vay nợ trực tiếp trong và ngoài nước của Chính phủ để bù đắp cho bội chi ngân
sách nhà nước và do sự gia tăng nghĩa vụ nợ được Chính phủ bảo lãnh của một số
tập đoàn và tổng công ty nhà nước.
Lý thuyết tài chính công Trang 10
Ở mỗi nước thì có tỷ lệ nợ công trên GDP là khác nhau nhưng cũng là một
chỉ số về quy mô của nợ công chứ không phải là một thước đo tốt về mức độ an
toàn hay rủi ro của nợ công. Bởi vì, nợ công khoảng 100% GDP đủ để Hy Lạp rơi
vào tình trạng phá sản, trong khi nợ công lên tới 200% GDP của Nhật Bản vẫn
được coi là an toàn. Nếu dùng con số 50% GDP để coi là mức trần ở nước này thì
ở nước khác người ta có thể sử dụng con số 80%. Như vậy, mức độ an toàn hay
nguy hiểm của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ trên GDP, mà phụ thuộc
vào một số chỉ số khác như xu hướng của tỷ lệ nợ công trên GDP, hiệu quả sử dụng
nợ hay rộng hơn là tình trạng sức khỏe của nền kinh tế.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong cũng cho biết, dịch vụ nợ công
Việt Nam tăng. Tính đến 31/12/2012 nợ công sẽ là 58,4% GDP (trong khi cuối
năm 2011 là 54,6% GDP). Và dự báo năm 2015 mức nợ sẽ lên tới 65% GDP, trong

rộng đáng kể trong những năm gần đây. Năm 2011, dư nợ Chính phủ bằng khoảng
43,6% GDP, giảm so với con số 45,7% của năm 2010 nhưng chủ yếu là do GDP
danh nghĩa của năm 2011 tăng cao so với năm 2010 nên các hệ số nợ khi so với
GDP danh nghĩa năm 2011 có xu hướng giảm nhẹ. Mặc dù vẫn trong giới hạn cho
phép và tỷ trọng của dư nợ chính phủ so với tổng mức nợ công có xu hướng giảm
dần, nhưng tỷ trọng của nợ chính phủ so với GDP lại có xu hướng tăng trong suốt
thập niên 2000.
Lý thuyết tài chính công Trang 12
Nợ chính quyền địa phương chủ yếu là vay nợ để đầu tư xây dựng cơ bản
theo Luật Ngân sách nhà nước 2002. Mức dư nợ phát hành trái phiếu của chính
quyền địa phương hiện nay vẫn ở mức thấp, hiện khoảng 0,6% GDP. Mức dư nợ
của chính quyền địa phương hiện nằm trong giới hạn quy định của Luật Ngân sách
nhà nước, không quá 30% tổng chi đầu tư xây dựng cơ bản trong nước của các địa
phương.
2.1.3. Hệ số an toàn nợ giảm
Thách thức thứ ba là dịch vụ nợ tăng nhanh, hệ số an toàn nợ giảm:
dịch vụ nợ nước ngoài của Việt Nam trong năm 2010 là 1,67 tỷ USD, trong đó
riêng tiền lãi và chi phí hơn 616 triệu USD, tăng gần 30% so với con số 1,29 tỷ
USD của năm 2009.
Nợ nước ngoài của Việt Nam đang lớn gấp 3 lần so với dự trữ ngoại hối
(khoảng 14-15 tỷ USD). Năm 2011, dự kiến trả nợ 86.000 tỷ đồng, chiếm 12,5%
tổng thu ngân sách nhà nước; năm 2012 sẽ phải trả 100.000 tỷ đồng, chiếm 13,5%
tổng thu.
Trong khi đó, ông Phong cho biết, nợ công của Thái Lan chỉ có 44,1% GDP
và dự trữ ngoại hối là 176 tỷ USD; Indonesia, Malaysia nợ công chỉ 26,9% GDP,
Philippines 47,3%…
Ông Phong cũng dẫn ra rằng, theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình
Huệ, hiện nay tổng số dịch vụ nợ (trả nợ cả gốc và lãi) của Chính phủ chiếm
khoảng 14-16% tổng thu ngân sách nhà nước. Trong khi đó, theo thông lệ quốc tế,
mức dịch vụ nợ an toàn là không quá 30% tổng thu ngân sách.

(2014). Con số này khá lớn và ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách tài khóa, lạm
phát và các chính sách liên quan của Việt Nam trong giai đoạn tới.
2.1.5. Về chi phí vay nợ
Các khoản vay nước ngoài của Việt Nam đa số đều có lãi suất thấp, trong đó
chủ yếu là ở mức 1% - 2,99%. Tuy nhiên so với các năm trước, năm 2010, các
khoản vay của Việt Nam có lãi suất cao hơn và khoản vay với lãi suất thả nổi đang
ngày càng tăng lên, gây thêm áp lực nợ cho Chính phủ. Trong 25,097 tỷ USD tổng
nợ nước ngoài của Chính phủ, có 19,313 tỷ USD có lãi suất từ 1 - 2,99%; trên
1,678 tỷ USD chịu lãi suất từ 3 - 5,99% (tăng 176 triệu USD so với 2009) và có tới
1,888 tỷ USD ở mức lãi suất 6- 10%, tăng hơn gấp đôi so với 2009. Ngoài ra, các
khoản vay với lãi suất thả nổi cũng tăng 6,66 triệu USD so với 2009.
Theo Cục Quản lư nợ và Tài chính đối ngoại, lãi suất trung bình nợ nước
ngoài của Chính phủ đă tăng từ 1,54%/năm vào năm 2006 lên 1,9%/năm trong năm
2009 và năm 2010 đạt tới 2,1%/năm. Hơn nữa cần lưu ý là các khoản vay ưu đãi
lãi suất thấp cũng sẽ giảm đi khi Việt Nam gia nhập nhóm các nước có thu nhập
trung bình, thay vào đó là vay thương mại có lãi suất cao hơn nhiều. Với thực trạng
này, rõ ràng chi phí trả lãi đang trở thành gánh nặng ngày càng gia tăng của Chính
phủ.
Lý thuyết tài chính công Trang 15
2.1.6. Về tiền vay nợ
Nợ nước ngoài của Việt Nam khá đa dạng về cơ cấu tiền vay. Trên lý thuyết,
điều này được cho là có thể hạn chế rủi ro về tỷ giá, giảm áp lực lên nghĩa vụ trả
nợ nước ngoài của Chính phủ. Tuy nhiên, trên thực tế cơ cấu này cũng tiềm ẩn
những rủi ro khi có biến động trên thị trường tài chính thế giới. Tỷ trọng cao của
các khoản vay bằng USD (22,16%) và JPY (38,83%)gây nguy cơ gia tăng khoản
chi gốc và lãi khi tỷ giá USD/VND luôn có xu hướng tăng; và JPY đang lên giá so
với USD (Năm 2006: 1USD=116,3 Yên, năm 2010: 1USD=84,11979 Yên). Như
vậy khi đến kỳ trả nợ, Việt Nam sẽ phải dành một lượng USD lớn hơn nhiều để
mua đồng Yên trả nợ. Và chỉ riêng biến động này này đă làm gia tăng tổng số nợ
nước ngoài và nợ công của chúng ta.

một sai lầm bởi nền kinh tế vẫn ở trạng thái yếu mặc dù tốc độ tăng trưởng hiện
nay không phải là thấp. Việc vội vã thắt chặt ngân sách và tăng thuế đã đẩy nền
kinh tế Nhật Bản vào suy thoái trở lại là kinh nghiệm đáng để Việt Nam học tập
trong công tác điều hành, quản lý vĩ mô
2.3. Nguyên nhân
Nợ công - truớc hết là vấn đề mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc
gia. Việc chi nhiều quá, trong khi thu không đáp ứng nổi, chính phủ phải đi vay
tiền dưới nhiều hình thức khác nhau như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định
tín dụng,… để chi, từ đó dẫn đến tình trạng nợ. Thâm hụt ngân sách kéo dài làm
cho nợ công gia tăng. Nợ không trả sớm, để lâu thành "lãi mẹ đẻ lãi con" và càng
ngày càng nhiều thêm.
Lý thuyết tài chính công Trang 17
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới nợ công.Tuy nhiên, tùy thuộc vào mỗi quốc
gia và mỗi thời kỳ mà nợ công có những nguyên nhân khác nhau nhưng hiện nay,
nợ công của các quốc gia thì xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau:
• Việc gia tăng mạnh chi tiêu từ ngân sách nhà nước, lương và chi phí hoạt
động của bộ máy nhà nước ở các cấp có xu hướng ngày càng lớn, các
chương trình kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng,
đầu tư phát triển có sở hạ tầng không ngừng tăng …, đặc biệt, hậu quả to lớn
của cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu vừa qua đã buộc nhiều
nước phải chi rất nhiều để khắc phục.
• Sự kiểm soát chi tiêu và quản lý nợ của Nhà nước kém, không chặt chẽ,
thậm chí bị buông lỏng, cộng thêm với tình trạng thất thoát, lãng phí trong
đầu tư và chi tiêu, cộng với tệ nạn tham nhũng phát triển ở nhiều nước cũng
trở thành một trong những nguyên nhân dẫn tới nợ công.
Các nguồn thu (chủ yếu từ thuế) tăng không kịp với nhu cầu chi, thậm chí
một số loại thuế chịu áp lực phải cắt giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc
biệt như thuế quan và phí hải quan của hầu hết các nước phải cắt giảm hoặc loại bỏ
phù hợp với các quy định của WTO và các thoả thuận thương mại khác mà họ
tham gia. Mặt khác, vấn đề quản lý các nguồn thu, nhất là từ thuế, gặp không ít khó

để đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng và dự án phát triển cũng đã góp phần
làm tăng nợ công. Do nằm ngoài dự toán, nên số nợ chính phủ thực tế gia tăng
trong thời gian qua luôn lớn hơn số cần có để bù đắp cho thâm hụt ngân sách. Đây
Lý thuyết tài chính công Trang 19
cũng là lý do về việc số bội chi ngân sách của Việt Nam khác so với tính toán của
các tổ chức tài chính quốc tế.
Nợ của Chính phủ bảo lãnh cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong
việc thực hiện các dự án phát triển (đầu tư công) chiếm một tỷ trọng khá lớn trong
tổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước vừa qua và có xu hướng tăng lên,
từ 4% tổng dư nợ công năm 2001 lên 10% năm 2005 và đến nay là 18,6% năm,
tương đương 11,6% GDP(2).
Như vậy, nhìn chung nợ công của Việt Nam đang tăng nhanh trong bối cảnh
thâm hụt ngân sách. Về nguyên tắc, nợ công của ngày hôm nay phải được trả bằng
thặng dư ngân sách của ngày mai. Do đó, dường như Việt Nam đang vi phạm
nguyên tắc quản lý nợ công bền vững
Lý thuyết tài chính công Trang 20
CHƯƠNG 3: Giải pháp giải quyết nợ công tại Việt Nam:
Để nợ công được quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng, giữ vững uy
tín quốc gia, đảm bảo an ninh tài chính, hạn chế rủi ro, một số nội dung sau cần
được nghiên cứu thực hiện:
- Một là, Chính phủ cần xây dựng kế hoạch vay nợ công phù hợp với chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch thu, chi ngân sách nhà nước trong từng
giai đoạn, thời kỳ. Cần xác định rõ mục đích vay (để tài trợ thâm hụt ngân sách, tái
cơ cấu nợ và cho vay lại, tài trợ cho các chương trình, dự án đầu tư quan trọng, hay
nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia), mức huy động vốn ngắn hạn, trung hạn
và dài hạn theo từng đối tượng vay với hình thức huy động vốn và lãi suất thích
hợp. Kế hoạch về vay nợ công cũng cần quy định rõ đối tượng sử dụng các khoản
vay, hiệu quả dự kiến; xác định thời điểm vay, số vốn vay từng giai đoạn, tránh tình
trạng tiền vay không được sử dụng trong thời gian dài hoặc chưa thực sự có nhu
cầu sử dụng.

dụng các khoản vay nợ, các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh, nhất là tại các
đơn vị sử dụng trực tiếp vốn vay như: tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước,
ngân hàng thương mại, các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng.
- Năm là, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nợ
công. Việc công khai, minh bạch nhằm tăng cường trách nhiệm trong quản lý, sử
dụng các khoản nợ công và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nợ công.
Để thực hiện tốt nguyên tắc quan trọng đó, nợ công cần phải được tính toán, xác
Lý thuyết tài chính công Trang 22
định đầy đủ trong quyết toán ngân sách nhà nước và phải được cơ quan chuyên
môn xác nhận.
- Sáu là, Kiểm toán Nhà nước với tư cách là cơ quan độc lập về kiểm tra tài
chính nhà nước cần được quy định rõ nhiệm vụ kiểm toán nợ công trong Luật
Quản lý nợ công và Luật Kiểm toán nhà nước. Kiểm toán Nhà nước kiểm tra, xác
nhận số liệu nợ, đánh giá tính bền vững của nợ Chính phủ so với GDP, trong mối
quan hệ với bảo đảm an ninh tài chính quốc gia; cơ cấu nợ, tỷ lệ vay nợ nước ngoài
trong tổng số nợ; cơ chế quản lý nợ, mục đích sử dụng các khoản vay nợ (nhất là
nợ nước ngoài); tính minh bạch và đầy đủ trong các khoản nợ… giúp Chính phủ có
số liệu xác thực và thực trạng trung thực để đề ra các giải pháp tổng thể bảo đảm
bền vững của ngân sách trong tương lai. Kiểm toán nợ công cần được tiến hành
thường xuyên để có thể kiểm soát kịp thời các rủi ro trong quản lý.
Lý thuyết tài chính công Trang 23
MỤC LỤC
Lý thuyết tài chính công Trang 24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status