BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP ĐÔNG ĐÔ
KHOA DU LỊCH
~~~~~~*~~~~~~
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
KHU PHỐ CỔ HÀ NỘI
VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Giáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
Mã số sinh viên :
Lớp :
Tôi ĐỒNG Ý/ KHÔNG
ĐỒNG Ý cho phép sinh
viên nộp bản khoá luận
này và đề nghị nhà trường
cho gửi để phản biện
Hà Nội, ngày /05/2008
Người hướng dẫn
(Ghi rõ họ tên và ký)
Tôi đề nghị Chủ tịch hội
đồng chấm khoá luận tốt
nghiệp CHO PHÉP/
KHÔNG CHO PHÉP tác
giả được bảo vệ trước hội
đồng.
Hà Nội, ngày /05/2008
Người nhận xét
(Ghi rõ họ tên và ký)
Hà Nội, ngày /05/2008
Người hướng dẫn
2
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
2.1.3.3. Giá trị của một trung tâm kinh tế 31
2.2. Đánh giá các tiềm năng để phát triển du lịch ở khu Phố Cổ Hà Nội
32
2.2.1. Bản đồ hiện trạng và ranh giới khu phố cổ 32
2.2.2. Tiềm năng du lịch và giao lưu quốc tế 34
2.2.2.1. Tiềm năng các công trình di tích 35
2.2.2.1.1. Di tích cư trú (kiến trúc nhà ở kiêm nhà hàng) 37
2.2.2.1.2. Kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng 39
2.2.2.1.3. Di tích của ô 48
2.2.2.1.4. Kiến trúc công trình văn hoá công cộng 49
2.2.2.1.5. Kiến trúc thương nghiệp 50
2.2.2.1.6. Di tích cách mạng kháng chiến 50
2.2.2.2. Tiềm năng làng nghề, phố nghề 55
2.2.2.2.1. Giá trị của việc bảo tồn và duy trì nghề truyền thống
trong khu phố Cổ Hà Nội phục vụ du lịch 55
2.2.2.2.2. Một số khái niệm về ngành nghề, làng nghề, phường
nghề và phố nghề thủ công truyền thống 57
2.2.2.3. Thực trạng về nghề truyền thống trong khu Phố Cổ Hà Nội
58
2.2.2.4. Tham quan Phố Cổ Hà Nội 64
2.2.2.3.1. Lộ trình số 1 - Khu vực phía Đông phố cổ 65
2.2.2.3.2. Lộ trình số 2 - khu vực phía Tây Phố Cổ 70
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHAI THÁC TÀI NGUYÊN
DU LỊCH CỦA KHU PHỐ CỔ ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH HÀ
NỘI 79
3.1. Bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hoá phố Cổ Hà Nội 79
3.1.1. Bảo tồn cảnh quan, kiến trúc phố cổ Hà Nội 80
3.1.2. Giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc 84
VH
9
.
5
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
PHẦN A:
Mở đầu và một số vấn đề chung của đề tài
1. Lý do chọn đề tài:
Hà Nội, mảnh đất ngàn năm văn vật, "thứ nhất kinh kỳ", luôn tồn tại
sống trong tiềm thức của mỗi người con đất Việt. Để rồi "dù có bốn phương
trời, lòng vẫn nhớ về Hà Nội", Hà Nội như là một biểu tượng văn hóa bậc
nhất của con người và đất nước ta. Và nằm trong lòng thủ đô là khu phố cổ 36
phố phường của thành Thăng Long cũ. Nếu như Hà Nội là trái tim của Việt
Nam, thì phố cổ chính là trái tim của thủ đô yêu dấu. Cùng hướng về kỷ niệm
1000 năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, thủ đô đang có những bước
chuyển mình mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực để xứng đáng là trung tâm văn hóa,
kinh tế, chính trị lớn nhất cả nước.
Đóng góp vào sự phát triển chung đó là khu phố cổ Hà Nội với sức hấp
dẫn lan tỏa mạnh mẽ, với những giá trị văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc
dân tộc. Không phải ngẫu nhiên mà năm 2004, phố cổ Hà Nội được công
nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và nhận được sự quan tâm xứng
đáng của các ban ngành có liên quan. Đây là một bằng chứng của lịch sử về
sự sức sáng tạo trong lao động, sự hài hòa về con người trong môi trường
cuộc sống của cư dân thành Thăng Long còn tồn tại đến ngày nay mà không
phải thành phố lớn nào trên thế giới cũng có được. Với tư cách là một tài
nguyên du lịch đầy tiềm năng, đã và đang được khai thác có hiệu quả cho
ngành du lịch, phố cổ Hà Nội mang đến cho du khách những cảm xúc khó tả
và những kỷ niệm khó quên. Là một sinh viên ngành Văn hóa du lịch, em
nhận thấy đây là một đề tài khoá luận phù hợp với khả năng và niềm yêu thích
của mình. Với mong muốn tìm hiểu kỹ lưỡng và đưa ra những ý kiến đóng
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH KHU PHỐ CỔ HÀ NỘI
1.1. Phố cổ Hà Nội - giá trị truyền thống và hiện đại
1.1.1. Quan niệm về phố cổ
Cho đến thời điểm hiện nay, đất nước ta đã bước vào thiên niên kỷ thứ
ba và liền kề với ngày kỷ niệm Thăng Long - Hà Nội tròn 1000 năm tuổi, thế
nhưng chưa có nhà khoa học chuyên ngành; liên ngành nào; dù bằng những
bằng chứng xác thực, những tư liệu lịch sử và lý luận thuyết phục; có thể đưa
ra khái niệm hoặc một định nghĩa cụ thể nào về phố cổ Hà Nội là một di sản
văn hóa cấp quốc gia vào cuối năm 2004 (quyết định số 14/2004/QĐ -
BVHTT) thì những quan niệm về phố cổ được đánh giá theo khía cạnh là một
di sản văn hóa. Các di sản văn hóa và di tích lịch sử là sản phẩm lao động của
nhiều thế hệ trước và là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của ngành du lịch.
Các di tích lịch sử văn hóa không chỉ là di sản văn hóa quý giá của mỗi
địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước hay thậm chí là của nhân loại. Đó còn
là bằng chứng trung thành, xác thực nhất và cụ thể nhất về thời điểm hay thời
kỳ văn hóa. Nó mang trong mình những giá trị truyền thống, kiến trúc, thuần
phong mỹ tục để đóng góp tích cực vào việc phát triển về mọi mặt đời sống
vật chất cũng như đời sống tinh thần của con người.
Di sản văn hóa cũng được coi là bức thông điệp giữa hiện tại và tương
lai. Nó chính là một dây truyền thống nối liền hiện tại và tương lai. Thông qua
những di tích lịch sử văn hóa đó mà mỗi thế hệ lớn lên lại có thể soi mình vào
cuộc sống của cha ông và hiểu rõ nguồn cội của thế hệ mình
8
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
Di tích lịch sử còn là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn. Là một di
sản văn hóa cấp quốc gia, phố cổ được tạo dựng bởi con người. Chính những
con người bản địa và nhập cư trải qua hàng thế kỷ ở vùng đất "địa linh nhân
kiệt" này bằng quá trình sống, cách ứng xử và cả nếp sinh hoạt hàng ngày đã
tại nên một khu phố cổ - cái cốt lõi, tinh tuý, trái tim của Hà Nội từ lúc nào
không hay.
Cho dù nhìn nhận dưới góc độ, quan điểm, khía cạnh hay khái niệm nào
đi chăng nữa thì giá trị của khu phố cổ Hà Nội vẫn luôn được ghi nhận và trân
trọng, gìn giữ suốt bao thế hệ người Hà Nội - Việt Nam.
1.1.2. Giá trị khu phố cổ
Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội là một đô thị lớn hình thành lâu đời
nhất ở Việt Nam. Từ giữa thế kỷ VI, nơi đây là trung tâm đầu tiên của nước
Vạn Xuân với toà thành cổ đầu tiên mà sử sách còn ghi ở cửa sông Tô Lịch.
Trải qua mấy trăm năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc từ thế kỷ VII đến thế
kỷ X là trung tâm An Nam đô hộ phủ đời Đường. Từ thế kỷ XI nơi đây đã
thực sự trở thành trung tâm đầu não - kinh đô của quốc gia Đại Việt với tên
gọi là Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội định hình và phát triển rực rỡ về mọi
mặt. Từ Lý, Trần, Lê trải qua các triều đại nơi đây luôn giữ một vị trí xứng
đáng, quan trọng đối với đất nước. Đến thế kỷ XIX tuy không còn là kinh đô
nhưng Thăng Long vẫn là một đô thị bậc nhất ở Việt Nam: dân cư đông đúc,
buôn bán sầm uất, phố phường nhộn nhịp. Ca dao cổ Việt Nam có câu:
"Hà Nội ba sáu phố phường
Hàng mứt, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh"
Có rất nhiều bài ca dao và thơ nói về con số truyền thống 36 phố giống
như trên, ví dụ:
"Rủ nhau chơi khắp Long thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
10
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
Hàng Bồ, Hàng Bạ, Hàng Gai,
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay…"
Hoặc là:
"Ba mươi sáu mặt phố phường
Hàng Giấy, Hàng Bạc, Hàng Ngang, Hàng Đào
Người đài các, kẻ thanh tao
Qua Hàng Thợ Tiện lại vào Hàng Gai…"
sao kể hết. Bên cạnh đó, giá trị văn hóa - nghệ thuật của khu phố cổ còn được
thể hiện qua các hội thi tài giữa các ngành nghề, các lễ hội dân gian truyền
thống, các sản phẩm thủ công bày bán trên phố, qua các món ăn dân dã mang
hồn quê hay thậm chí là qua nếp sống hồn hậu, thanh lịch của người dân nơi
này.
Về mặt kiến trúc, chỉ còn một số đình chùa còn mang kiến trúc thời Lê,
còn hầu hết những ngôi nhà cổ trong khu phố cổ hiện nay được xây vào cuối
thế kỷ 19. Điểm nổi bật của kiến trúc này là nhà hình ống. Chúng cũng còn
được gọi là "nhà ở hàng phố". Phần lớn các kiểu nhà truyền thống mà ngày
nay chúng ta vẫn có thể thấy trong khu vực phố cổ được xây từ cuối thế kỷ
XIX hoặc được xây lại vào đầu thế kỷ XX. Cấu trúc dài, hẹp của kiểu nhà này
là kết quả của tình trạng thiếu không gian trong thành phố và do khoản thuế
của triều đình đối với chiều rộng mặt tiền cửa hàng. Nhà hình ống quay ra mặt
phố, chiều rộng trung bình của mặt tiền từ 2m tới 4m, trong khi đó chiều dài
có thể từ 20m tới 60m và có một số trường hợp lên tới 150m. Nhà có nhiều
lớp và cách nhau bằng những sân trong, các sân trong thông thoáng để lấy ánh
sáng tự nhiên. Sân trong còn là nơi diễn ra các hoạt động đa năng của nhà.
Ngoài sân trong, trong các ngôi nhà này trước đây còn có các mảnh vườn nhỏ.
Ngoài ra còn có những công trình công cộng đặc trưng cho khu phố cổ,
trong đó có đền và đình của nhiều dòng họ khác nhau từ nông thôn chuyển
12
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
đến, hay các ngôi đền được xây để tưởng nhớ ông tổ nghề Thế kỷ XX cũng
để lại phong cách đặc trưng của nó, từ phong cách hiện đại Xô - Viết đến
những mặt tiền cầu kỳ kiểu pháp thời kỳ đầu đổi mới, cho đến những cái có
thể gọi là "kiến trúc mới" của thập kỷ 1990 với đá rửa và các mảng kính lớn.
Khu phố cổ Hà Nội là một tổng thể kiến trúc độc đáo, một cảnh quan đô thị
vừa hiện đại vừa mang dáng dấp phương Đông mà không nơi nào khác trên
thế giới có được.
Tại khu phố cổ Hà Nội, yếu tố "thị" nổi lên cũng không kém yếu tố
0
33 vĩ độ
Bắc và 105
0
44 đến 106
0
2 kinh độ Đông, tọa lạc ngay giữa vùng châu thổ sông
Hồng (sông Nhị Hà). Đây là chỗ khúc sông đang chuyển dồng từ hướng Tây
Bắc - Đông Nam sang hướng Bắc Nam với độ dài khoảng 30 km. Đặc điểm
nơi đây được chuyển hóa thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông.
Chính tại nơi đây đã hình thành nên đô thị cổ nhất nước ta, theo truyền thuyết:
“Hà Nội có nguồn cội từ một làng ven sông Tô, trung tâm là núi Nùng mà
phát triển lên, làng ấy có tên là Long Đỗ”.
Ngược dòng lịch sử, từ xa xưa người Việt cổ đã cư trú, sinh sống tại đây
từ thời đại đồng thau, thời đại của nền Văn minh lúa nước vùng châu thổ sông
Hồng với quốc gia Văn Lang của các đời vua Hùng trong buổi lập nước bình
minh của lịch sử. Cơ sở cho việc lập luận trên là trong báo cáo của nhà Hà
Nội học Nguyễn Vinh Phúc: “Ngành khảo cổ học đã cho biết, ngay tại nội
thành cũng có rìu đá mái, có mũi giáo và trồng đồng. Các di vật đó khoảng
vài ba nghìn tuổi. Tại ngoại thành dấu vết cư dân cổ còn dầy hơn. Khắp
năm huyện đều có đồ đá mới, đồ đồng. Điều này cho thấy vùng đất Hà Nội
có người làm ăn sinh sống từ các thiên niên kỷ thứ ba, thứ hai trước Công
14
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
nguyên. Thuở đó làng dựng trên những dải đất cao ven sống và đầm, hồ
lớn nhỏ”.
Từ những đặc điểm địa lý, tự nhiên trên, Hà Nội xưa là nơi cư trú lâu đời
của cư dân bản địa. Tại nơi đây xóm làng quần tụ trên những gò đất cao ven
sông Tô, sông Nhuệ, sông Đuống… Về sau, nhà nước Âu Lạc bị Triệu Đà
thôn tính kéo theo sự phân hóa của nền văn minh bản địa. Người Việt cổ bước
An Dương Vương. Năm 944 Ngô Quyền mất, loạn lạc nổi lên, từ đó gây ra
nạn cát cứ của 12 sứ quân. Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân lên
ngôi vua lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng đóng đô ở Hoa Lư (968 - 1009) đặt tên
nước là Đại Cồ Việt.
1.2.2. Thăng Long thời Lý - Trần - Hồ
Trong quá trình liên tục đấu tranh để bảo vệ và củng cố nền độc lập dân
tộc, người Việt tiến ra đóng đô ở giữa đồng bằng thể hiện ý chí kiên cường
của dân tộc. Sự kiện dời đô từ Hoa Lư về Đại La của Lý Công Uẩn - Lý Thái
Tổ vào mùa thu năm Canh Tuất 1010 được xem là một bước tiến quan trọng
trong lịch sử dân tộc, mở đầu giai đoạn xây dựng đất nước trên quy mô lớn,
phục hồi dân tộc và phục hưng văn hóa dân tộc sau một nghìn năm Bắc thuộc
và chống Bắc thuộc. Trong chiếu thiên đô của vua Lý Thái Tổ đã ghi: “Ở
trung tâm bờ cõi đất nước, có cái thế rồng cuộn hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn
phương Đông Tây Nam Bắc, tiện hình thế núi sông sau trước. Ở nơi đó dịa
thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ vì
ngập lụt, muôn vật đều phong nhiêu tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chổ
ấy là nơi hơn cả, thực là chổ bốn phương tụ hội, là nơi đô thành bậc nhất
của đế vương muôn đời!” và “đóng nơi trung tâm mưu toan việc lớn, tính
kế lâu dài cho con cháu đời sau”. Với tầm nhìn chiến lược vua Lý Thái Tổ
đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của kinh đô với vận mệnh của đất nước
và vương triều. Miền đất được chọn để xây thành Thăng Long vốn là nơi tập
trung đông đúc, buôn bán phát triển thịnh vượng, ruộng đồng phì nhiêu trù
phú….
16
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng: "Đó là thành thị ngã ba sông, đô thị
sông, đô thị trên bờ phải sông Cái với hai sông nhánh là Tô Lịch, Kim Ngưu,
tất cả cùng bọc lấy và luôn giới hạn trong không gian đô thị", thì kinh thành
Thăng Long - Hà Nội cổ được bao bọc bởi ba con sông chính và được dân
gian cảm khái là:
bán, những làng nghề thủ công thường tập trung theo lối phường hội để hỗ trợ
nhau trong sản xuất và buôn bán, bởi vì: "buôn có bạn, bán có phường".
Bên cạnh đó bốn cổng thành là bốn khu chợ lớn.
- Đông Bạch Mã, sau này người Pháp chuyển lên chợ Đồng Xuân ngày
nay
- Tây Hoàng Hoa nay là chợ Ngọc Hà
- Bắc Yên Quang nay là chợ Châu Long
- Cửa Nam nay vẫn còn đó những tên quen thuộc như Đình Ngang, Cấm
Chỉ.
Đây là những nơi diễn ra hoạt động mua bán trao đổi trực tiếp của
"thành" và "thị". Phố phường chợ bến trên bến dưới thuyền tạo nên một
quang cảnh buôn bán sầm uất. Dân cư nơi đây sinh sống làm nghề thủ công
truyền thống theo phường với nhiều mặt hàng phong phú như: làm nghề thủ
công truyền thống theo phường với nhiều mặt hàng phong phú như: làm gốm
sứ, làm giấy, đồ trang sức mỹ nghệ, đúc đồng, rèn sắt, làm mộc … Bên cạnh
đó là những xưởng thợ thủ công tập trung của Nhà nước phong kiến như
xưởng đúc tiền, đóng thuyền, làm vũ khí, xe điệu, võng lọng của vua qua…
Chính những tổ chức phường hội này là tiền tố cơ bản hình thành nên 36 phố
phường và sau này là khu phố cổ. Trong khoảng 100 năm, sau khi trở thành
kinh đô, Thăng Long đã được xây dựng trở thành trung tâm chính trị - kinh tế
- văn hóa - lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước. Thành luỹ, đê điều, các loại
18
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
kiến trúc cung điện, dân gian, văn hóa, tôn giáo …. Tất cả hòa quyện với nhau
tạo nên dáng vẻ riêng của kinh thành.
Năm 1226 nhà Trần nối ngôi nhà Lý, nền văn minh Đại Việt tiếp tục
phồn thịnh. Nhà Trần củng cố lại Hoàng thành, xây thêm cung điện. Kinh
thành vẫn giữ ranh giới cũ nhưng đông đúc hơn. Khu vực này còn tiếp nhiều
khách nước ngoài đến làm ăn sinh sống. Kinh tế công thương nghiệp thành thị
sinh ra tầng lớp thị dân và lối sống thị dân, thậm chí đã có sinh hoạt giải trí
và sự mở rộng quan hệ ngoại thương nên thế kỷ XVII - XVIII là giai đoạn
hưng thịnh của các thành thị trên quy mô cả nước, đứng đầu vẫn là Thăng
Long. Về phương diện kinh tế, Thăng Long là một phức hợp kinh tế gồm
nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, trong đó thương nghiệp đóng
vai trò chi phối. Bên cạnh đó Thăng Long còn là một trung tâm văn hóa lớn
với các danh nhân, với nếp sống thanh lịch và các công trình nghệ thuật và
kiến trúc đồ sộ.
1.2.4. Thăng Long - Hà Nội thời Tây Sơn và nhà Nguyễn thế kỷ XIX
Trải qua thời kỳ nội chiến kéo dài hơn 200 năm, năm 1786 người anh
hùng áo vải Nguyễn Huệ chỉ huy quân Tây Sơn tiến ra Đàng Ngoài lật đổ
chúa Trịnh và trao chính quyền lại cho vua Lê. Nguyễn Huệ về Nam, Lê
Chiêu Thống không điều hành nổi việc nước, các cánh quân nổi lên giành
quyền binh. Quân Tây Sơn hai lần ra Bắc dẹp loạn. Năm 1788 Lê Chiêu
Thống trốn khỏi Thăng Long sang Trung Quốc cầu cứu nhà Mãn Thanh, sau
đó "cõng rắn cắn gà nhà" trở về Đại Việt cùng với 29 vạn quân xâm lược nhà
Thanh. Quân Tây Sơn rút khỏi Thăng Long chờ lệnh Nguyễn Huệ. Ngày
22/12/1788 Nguyễn Huệ lên ngôi lấy hiệu là Quang Trung rồi lập tức lên
đường ra Bắc đuổi giặc. Năm 1789 Quang Trung tiến vào Thăng Long đánh
đồn Ngọc Hà và đồn Đống Đa, đại thắng quân Thanh. Quang Trung đóng đô
ở Huế, Thăng Long là thủ phủ của Bắc Thành (Bắc Bộ ngày nay).
20
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
Năm 1802 Quang Trung Nguyễn Huệ qua đời, Nguyễn Ánh lên thay
đóng đô ở Phú Xuân (Huế). Thăng Long được gọi là bắc thành tổng trấn,
quản 11 trấn. Năm 1831 Minh Mạng cải cách hành chính bỏ các trấn chia cả
nước thành 29 tỉnh, trong đó có tỉnh Hà Nội bao gồm Thăng Long, huyện Từ
Liêm của trấn Sơn Tây và ba phủ ứng Hòa, Thường Tín, Lý Nhân của trấn
Sơn Nam. Thăng Long trở thành tỉnh lỵ Hà Nội. Năm 1848 vua Tự Đức cho
dỡ các cung điện cũ trong thành và các công trình kiến trúc quan trọng như
Văn Miếu Quốc Tử Giám di dời vào kinh đô Huế. So với trước đây sự phát
thống của phố vẫn còn nguyên vẹn, các gia đình vẫn tiếp tục buôn bán các
mặt hàng truyền thống dù sự chuyển đổi giữa các ngành hàng Những giá trị
văn hóa được kết tinh từ lâu đời vẫn tỏa sáng và sống động trong cách sống
và quan niệm của người dân phố cổ. Chính nhờ đó mà Hà Nội vẫn giữ được
khu 36 phố phường với những giá trị to lớn của một thời Thăng Long - Đông
Đô - Hà Nội cho đến bây giờ và sẽ còn mãi về sau.
22
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
CHƯƠNG 2:
NHỮNG TIỀM NĂNG CỦA KHU DI TÍCH KIẾN TRÚC -
LỊCH SỬ - VĂN HÓA PHỐ CỔ HÀ NỘI ĐỂ PHỤC VỤ DU
LỊCH
2.1. Khái quát chung về Khu Phố Cổ Hà Nội
2.1.1. Vị trí địa lý, cảnh quan môi trường
Mùa thu năm Canh Tuất (1010), Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư ra thành
Đại La và đổi tên là Thăng Long, khi ấy vùng đất này “ Ở trung tâm bờ cõi
đất nước, có cái thế rồng cuộn hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây
Nam Bắc, tiện hình thế núi sông sau trước. Ở nơi đó dịa thế rộng mà bằng
phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ vì ngập lụt, muôn vật đều
phong nhiêu tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chổ ấy là nơi hơn cả, thực là
chổ bốn phương tụ hội, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời ”.
Thăng Long - Hà Nội nằm trong toạ độ địa lý: 105 độ 34 phút - 21 độ 12
phút vĩ độ Bắc, ở trung tâm đồng bằng hình tam giác thuộc lĩnh vực của sông
Cái (sông Hồng) do phù sa sông Hồng và các phụ lưu của nó bồi đắp thành.
Trung tâm Thăng Long - Hà Nội ở phần trung tâm của tam giác này, có
mối giao thông thuận lợi với các vùng trong khu vực và lan toả các miền
trong cả nước.
Với khí hậu phân chia bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông và những tập
hợp yếu tố địa lý - lịch sử đó là của Thăng Long - Hà Nội đã để lại cho hôm
nay không ít những giá trị văn hóa tinh thần và vật chất mà chúng ta phải có
là dạng kiến trúc chợ phố nên các nhà thường sâu, thấp, tối Hè phố nhỏ,
hẹp, không có cây xanh. Lượng người cư trú buôn bán trong các phố cổ này
thường đông nên môi trường sinh sống. Qua thời gian, do sự phát triển về dân
24
Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc d©n lËp §«ng §«
số và nhu cầu cuộc sống hàng ngày nên mỗi số nhà ngày một tăng nhan khẩu
và hộ khẩu. Có những nhà có tới 3 thế hệ cùng ở và 5-6 gia đình sinh sống.
Cũng chính vì vậy, việc cơi nới là không thể tránh khỏi. Giao thông trên
Thành Phố có nhiều phức tạp. Các nhà bên trong lấn ra hè chiếm dụng để
buôn bán. Đường phố hẹp, lưu lượng người đông làm cho môi trường ở đây
ngày càng đáng quan tâm. Hà Nội có riêng một Ban quản lý khu phố này. Hy
vọng rằng hoạt động của nó sẽ giúp cho Phố Cổ Hà Nội được bảo tồn và phát
triển.
2.1.2. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của khu phố cổ Hà Nội
2.1.2.1. Khu phố cổ Hà Nội từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV
Năm 1010, trung tâm Hà Nội cổ được Lý Thái Tổ gọi là " Cao Vương cố
đô Đại La Thành ". Trước khu vực này là khu làng cổ đầu tiên của Hà Nội có
tên gọi theo truyền thuyết là Long Đỗ, sau phát triển thành huyện, rồi được
đổi thành quận - mang tên gọi là Tống Bình, là trung tâm, dinh luỹ chủ yếu
của chính quyền đô hộ phương Bắc. Khi vùng đất này được Lý Thái Tổ chọn,
cũng là thời điểm bắt đầu phát triển của đô thị cổ Hà Nội.
Song thời Trần, từ năm 1225 đến hết thế kỷ XIV, kinh thành với quy mô
và cấu trúc không đổi, mà chỉ sữa chữa, mở mang và phát triển thêm khu vực
kinh tế dân cư. Năm 1230 vua Trần tu sửa thành Đại La. Năm 1243 đắp lại
thành Cấm thành, tạo khu Long Phượng thành, xây kiên cố các cửa Long
Phượng thành và Hoàng thành. Thăng Long lúc này có đủ tài liệu để chứng
minh.
Cũng như các thành thị ở phương Đông khác, khu công thương nghiệp ở
phía Đông có mối liên hệ chặt chẽ với khu nông nghiệp ở phía Tây Hoàng
thành, những nghề thủ công tập trung nhiều ở phía Đông và phía Tây. Gần