Một số biện pháp khai thác cái đẹo trong thơ trữ tình Xuân Diệu - Pdf 13

Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Phần mở đầu
"Đẹp đối với chúng ta cần thiết nh ánh sáng,
nh khí trời, nh cơm ăn áo mặc.
Đẹp là một điều chúng ta gặp hàng ngày"
- Vũ Kiêu -
I.
Lí do chọn đề tài
1. Lý do khách quan
Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ Mới giai đoạn 1930 -
1945. Ông hoàng của thơ tình ấy đã đốt lòng ham muốn của mình thành
ngọn lửa tình yêu không bao giờ tắt. Trớc sau, Xuân Diệu luôn luôn thể hiện
cái tôi trữ tình khao khát giao cảm của một tâm hồn cô đơn, của một tấm
lòng "đìu hiu nh dặm khách" . Thơ ông đã thể hiện một quan điểm mới mẻ
và độc đáo về cái đẹp. Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu là sự kết tinh cái
đẹp của tinh thần dân tộc và cái đẹp của thời đại. Vẻ đẹp con ngời và cuộc
sống trần thế đã khơi nguồn cho mọi cảm hứng sáng tạo trong thơ ông.
Chính điều đó đã góp phần nâng cao và khẳng định vị trí lớn lao của Xuân
Diệu trong nền văn học Việt Nam thế kỉ XX.
Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu là cái đẹp của lý tởng thẩm mỹ, bắt
nguồn từ sự phong phú, hội nhập trong hồn thơ muôn hình vạn trạng của sự
sống, những say đắm tha thiết cha từng có ở chốn "nớc non lặng lẽ này".
Đó là cái đẹp của sự trau chuốt nghệ thuật, thể hiện qua những phơng thức
phản ánh cuộc sống một cách nhuần nhuyễn có sự kết hợp Đông - Tây, kim
- cổ và tạo nên một phong cách "mới nhất trong các nhà Thơ Mới". Cái đẹp
mang tính lịch sử xã hội là cái đẹp khơi dậy ý thức cá nhân của cái tôi độc
đáo trong thơ trữ tình Xuân Diệu 1930 - 1945. Cái đẹp có sức mạnh cản hoá
và làm say đắm lòng ngời mọi thế hệ.
Tác phẩn của Xuân Diệu chiễm số lợng khá lớn trong chơng trình văn
lớp 11 nhng việc đánh giá thơ trữ tình Xuân Diệu cũng cha thống nhất và
1

những công trình nghiên cứu mỹ học, lý luận văn học và phơng pháp dạy
2
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
học văn để khẳng định phạm trù cái đẹp, đặc biệt là cái đẹp trong thơ trữ
tình Xuân Diệu dạy ở nhà trờng THPT hiện nay.
1. Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu cái đẹp với t cách là một
phạm trù cơ bản của mỹ học
Để khẳng định phạm trù cái đẹp trong sự vận động đa dạng của ý thức
thẩm mỹ, chúng tôi đã tìm thấy tập luận văn nổi tiếng của Tsecnsepxki :
"Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực" (1855). Tập luận văn
này nghiên cứu cái đẹp trong mối quan hệ với hiện thực cuộc sống. Tsecn-
sepxki đã khẳng định: "Cái đẹp là sự sống. Một sinh thể đẹp là qua chúng,
ta nhìn thấy cuộc sống đúng theo quan niệm của ta.".
Cuốn "Nguyên lý mỹ học Marx - Lênin" (1963) của Viện Hàn Lâm
khoa học Liên xô đã đề cập tới cái đẹp của hình tợng nghệ thuật, của nội
dung và hình thức trong các loại hình và thể loại nghệ
thuật.
Các công trình "Cái đẹp - một giá trị" (Đỗ Huy), "Mỹ học Marx - Lê
nin" (Vũ Minh Tâm), "Đẹp" ( Vũ Kiêu), "Tìm hiểu mỹ học Marx - Lê nin"
(Hoài Lam) cho rằng cái đẹp trong tác phẩm văn học chính là cái sự phản
ánh cuộc sống sinh động, trân thực. Cái đẹp đó "
Gắn với chiều sâu thẳm
vốn chứa đựng ý nghĩa rõ ràng, vốn mang tính khát vọng yêu cầu giải
đáp".
Dựa vào những định hớng nêu trên, bản luận văn sẽ tập trung tìm hiểu và
khai thác cái đẹp theo quan niệm cái đẹp là một chỉnh thể thống nhất hài
hòa mang tính thẩm mỹ trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức nghệ
thuật, trong đó chú trọng những "
thông tin thẩm mỹ"
có sức lay động lòng

(tháng 4 -
1986), Uyên Thao trong "Tạp chí giáo dục phổ thông" (số 72 năm 1960) và
Phan Cự Đệ trong "
Phong trào Thơ Mới"
(Nhà xuất bản KHXH - 1982) cho
rằng: "Thái độ tha thiết và sự vội vàng gấp gáp trong thơ Xuân Diệu là
biểu hiện của tình yêu vị kỉ và phủ nhận cuộc đời"...
3. Tìm hiểu một só công trình nghiên cứu về phơng pháp dạy học thơ
trữ tình Xuân Diệu ở nhà trờng THPT.
Mấy năm gần đây " vấn đề Xuân Diệu" đã đợc nhiều ngời nhắc đến, đặc
biệt đã có một số công trình nghiên cứu về phơng pháp giảng dạy thơ trữ
tình Xuân Diệu ở trờng phổ thông.

những công trình nghiên cứu này, các
tác giả đã đề cập đến việc khai thác cái đẹp thuộc hình thức cũng nh cái đẹp
trong nội dung, t tởng của thơ trữ tình Xuân Diệu:
4
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48

Cuốn "
Dạy văn, dạy cái hay cái đẹp"
của Nguyễn Duy Bình (NXB
- GD Hà Nội - 1983)

Cuốn "Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học" của Phan Trọng
Luận
(NXB GD Hà Nội - 1983)

Cuốn "
Thơ với lời bình"

lý 2000) và đề xuất các biện pháp khai thác cái đẹp trong các bài thơ đó
5
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
theo quan điểm của phơng pháp dạy học văn mới. Đồng thời tiến hành thực
nghiệm ở một bài thơ cụ thể.
- Đối tợng nghiên cứu:
+ Quá trình dạy học ba bài thơ: "Vội vàng", "Đây mùa thu tới", "Thơ
duyên".
+ Học sinh tiến hành thực nghiệm: Lớp 11 A3, 11 A1 THPT Ninh Giang
- Hải Dơng.
+ Học sinh lớp 11 Văn, Toán trờng Năng khiếu Hải Dơng.
IV.
Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
1.
Mục đích:
Chúng tôi tiến hành luận văn này mong muốn góp sức mình vào quá
trình tìm ra con đờng, cách thức dạy học thơ trữ tình Xuân Diệu ở trờng
trung học phổ thông đạt hiệu quả cao, cụ thể hoá những phơng pháp dạy học
văn nói chung vào việc dạy học thơ trữ tình Xuân Diệu nhằm giúp học sinh
nhận thức một cách sâu sắc thơ trữ tình Xuân Diệu. Ngoài ra, ngời viết còn
nhằm:
- Tìm hiểu cái hay, cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu với t cách là
một chỉnh thể thống nhất, toàn vẹn giữa nội dung đẹp và hình thức đẹp.
- Xây dựng và phát triển khuynh hớng nghiên cứu "hiện tợng Xuân
Diệu"
từ góc độ mỹ học
2. Nhiệm vụ của đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về cái đẹp, nghiên cứu cái đẹp trong thế
giới nghệ thuật thơ trữ tình Xuân Diệu nói chung và thể hiện cụ thể trong ba
bài thơ đợc tuyển chọn trong chơng trình

1.Quan niệm về cái đẹp
F. M Poteveky đã viết: "Nhu cầu về cái đẹp và về sự sáng tạo thể hiện
vẻ đẹp đó gắn bó keo sơn với con ngời, không có nó, có thể con ngời sẽ
không còn muốn sống trên đời".
Cái đẹp là cái thẩm mĩ tích cực là phạm trù lớn nhất của lý luận mĩ học.
Mỗi ngời có quan niệm khác nhau về cái đẹp, song xét về phạm vi đúng sai
thì lại khác:
Trong cuốn "Tìm hiểu mĩ học Marx - Lê nin", Hoài Lam đã khẳng định:
"Với t cách là cái thẩm mĩ, cái đẹp là bất kỳ một sự vật hay hiện tợng toàn
vẹn cụ thể, cảm tính nào có nội dung phù hợp với nội dung qui luận phát
triển tất yếu khách quan của xã hội và thế giới, và hình thức thể hiện nó
ngày càng tơng ứng với nội dung đó bao nhiêu, nó càng đẹp hơn bấy
nhiêu. Cũng có thể nói rằng cái đẹp là cái thẩm mĩ có chứa đựng trong
bản chất của nó những khả năng phát triển tiến bộ, nói chung của xã hội
và thế giới"
1
.
Theo B. A.E Ren - Groxx : "Cái đẹp đó là cái xinh hơn hết, cái xinh
nhất. Khái niệm này đợc sử dụng để đánh giá một đối tợng hay một hiện t-
ợng nào đó nói chung".
2
Theo "Nguyên lý Mỹ học Mác Lê nin": "Khi đánh giá thẩm mĩ các sự
vật của hiện thực nh là những cái đẹp, chúng ta không chỉ tính tới chuyện
hình thức của chúng có tơng ứng với nội dung mà nội dung phải có nghĩa
1
Hoài Lam, Tìm hiểu mỹ học Mác Lênin - NXB Văn hoá, Hà Nội 1979, T197
2
B.A.E.Ren.Groxx. Mỹ học, khoa học diệu kì, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1984, T77
8
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48

3
. Thiên
nhiên càng ngày càng mang dấu ấn con ngời đợc nhân tính hoá. Nắm đợc
qui luật cái đẹp con ngời trở thành "bà đỡ" thiện nghệ cho cái đẹp tự nhiên
và cái đẹp trong cuộc sống.
1
Hoài Lam, Nguyên lý mỹ học Mác Lê Nin - NXB SGK Mác Lê nin, Hà Nội, 1984, T57
2
V,G Bielinxki - "Phê bình văn học " - trích theo Phan Tiến Dũng - TCVH số 7 năm 1984
3

3
Hoài Lam , sdd - trang 207 và 210.
9
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Công cuộc xây dựng tự nhiên giàu đẹp phục vụ con ngời vừa là biểu hiện
thực sự của văn minh, vừa là bản thân cái đẹp "một cái đẹp to lớn, mới mẻ
và gắn liền với hạnh phúc con ngời"
1
.
2.2 Cái đẹp trong xã hội
Cái đẹp trong xã hội chủ yếu đợc xét trên hai lĩnh vực cái đẹp trong đấu
tranh với thiên nhiên (lao động sản xuất) và cái đẹp trong đấu tranh xã hội.
* Cái đẹp trong lao động sản xuất:
Đó là cái đẹp của lao động sáng tạo và xây dựng tự nhiên. Cái đẹp trong
sản xuất gồm những con ngời đẹp trong cải tạo thiên nhiên và cải tạo bản
thân. Con ngời đẹp là con ngời bằng khả năng thể lực và tinh thần dội vào
sản xuất, tạo năng suất cao và sản phẩm đẹp.
Lao động không những là bản thân cái đẹp mà còn là nguồn sức mạnh
vô tận tạo ra con ngời cao đẹp lẫn đất nớc đẹp giàu.

năng nghệ thuật cần thiết để phản ánh chân thực nó.
Nếu khoa học biểu đạt chân lý bằng khái niệm, thì nghệ thuật biểu hiện
cái đẹp bằng hình tợng thông qua hệ thống chất liệu của "sản phẩm nghệ
thuật". Hình tợng của mỗi loại hình nghệ thuật đợc cấu thành từ các yếu tố
nghệ thuật nh: màu sắc, đờng nét trong hội hoạ hay âm điệu, giai điệu hoà
âm, trong âm nhạc... và từ ngữ, hình ảnh trong văn học. Vì vậy bức tranh
của Tề Thạch Bạch,
bản Xônát ánh trăng của Bethôven, Tháp Epphé, Chùa Một Cột hay hình t-
ợng Anna Karênina... có những đặc trng khác nhau.
Cái đẹp trong nghệ thuật là bất tử, "nghĩa là nghệ thuật biến vẻ đẹp
thành vĩnh cửu, giữ gìn, nâng niu nó cho tất cả mọi ngời bắt nó phải sống
hàng thế kỷ mang lại niềm vui cho mọi ngời"
1
.
Cái đẹp trong nghệ thuật là sự thống nhất biện chứng giữa nội dung đẹp
và hình thức đẹp. Nội dung đẹp là: "Nội dung của lý tởng sống đợc chiếu
sáng một cách sâu sắc và lấp lánh, góp phần định hớng hoạt động con ng-
ời. Hình thức đẹp là hình thức tổ hợp cấu trúc và vật chất - cái bản chất
bên trong của nội dung một ngoại hình có sức cuốn hút mĩ cảm"
2
.
Cái đẹp trong nghệ thuật có sức mạnh lạ kỳ, nó xua tan cảm giác nhạt
nhoà nhàn chán, nó mài sắc t duy và giác quan của ta, nó giáo dục bồi dỡng
năng lực cảm thụ thế giới, nó giúp ta tự hoàn thiện bản thân. Tiếng hát thần
kỳ của mụ phù thuỷ Xiêcxe và các tiên quỷ ám ảnh ta trên eo biển Uyliat và
Ôđixê, bản dơng cầm tuyệt mỹ của "chú dế sau lò sởi" với "ánh trăng
mảnh dẻ " va vào cửa kính giúp nhân loại có thiên tài Môza...
Nhìn chung, cái đẹp trong nghệ thuật có sức mạnh tổng hợp giá trị mỹ
học và đạo đức, triết học, chính trị, khoa học... Cái đẹp luôn hiện hữu trong
thế giới con ngời trong đời sống nội tâm phong phú. Nói nh Gocki "Con ng-

tiết nghệ thuật theo một trật tự nhất định, "vang lên nhạc điệu khác thờng",
"ngôn từ và trật tự là một cặp nhảy hoàn mĩ chẳng chịu rời nhau nửa b-
ớc"
3
. Từ những đặc trng này, hình tợng thơ bao giờ cũng khơi gợi những
"khoái cảm thẩm mĩ " độc đáo và diệu kỳ đối với ngời đọc.
2. Cái đẹp trong thơ trữ tình
Căn cứ vào cách phản ánh cuộc sống ngời ta phân chia thơ thành hai
loại: thơ trữ tình và thơ tự sự
"Thơ trữ tình là thể loại mà trong đó những cảm xúc và suy t của nhà
thơ hoặc của nhân vật trữ tình trớc các hiện tợng đời sống đợc thể hiện
1
Goorki "Bàn về văn học" Tập I - T107
2
Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đớivới hiện thực - Tsecnxepxki - Sdd - T120
3
Eliô - "Tìm một định nghĩa cho thơ" - Mã Giang Lân - TCVH số 12 - 1995
12
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
một cách trực tiếp. Tính chất cá thể hoá của cảm nghĩ và tính chất chủ
quan hoá của sự thể hiện là những dấu hiệu tiểu biểu của thơ trữ tình"
4
.
Về nội dung, thơ trữ tình có đối tợng phản ánh hẹp, nó là trạng thái tâm
hồn tình cảm của con ngời đợc bày tỏ một cách trực tiếp. Cái sự kiện của đơì
sống hiện thực đợc thơ trữ tình phản ánh một cách gián giếp thông qua tâm
trạng của tác giả. Cái đẹp trong thơ trữ tình chính là cái đẹp của thế giới nội
tâm của thi nhân đợc bộc bạch và gửi gắm trong những hình ảnh thơ. Đó là
cảm xúc trữ tình đợc thăng hoa, là quan điểm trữ tình đẹp đẽ thể hiện năng
lực thẩm mỹ độc đáo của cái tôi trữ tình nhà thơ.

cũng nh khi vui, ngời đề nồng nàn tha thiết" (Thế Lữ). Từ tình yêu đơn
phơng (Yêu, Nớc đổ lá khoai), đến đồng cảm (Mời yêu, Đa tình), từ tình
đầu, (Tình thứ nhất, Xuân đầu), đến tình kiếp sau (Vô biên, Giục giã), từ
lúc gần gũi (Phải nói, Rạo rực), đến khi chia ly (Xa cách, Bên ấy bên
này), bao giờ Xuân Diệu cũng yêu ngấu nghiễn cái màu mỡ của cuộc
sống. Tất cả những vui, buồn, yêu, ghét, hờn giận, nhớ nhung ấy có thể
hợp thành cuốn từ điển tình yêu giá trị. Cái đẹp phong phú này là một
đặc trng của thơ trữ tình Xuân Diệu.
Thơ trữ tình Xuân Diệu không những giàu có về cảm xúc mà còn đa
dạng trong những cảm nhận tinh tế những biến thái tinh vi của ngõ ngách
tâm trạng. Vì Xuân Diệu có "cái mà ngời ta gọi là một tâm hồn. Tôi sẵn
sàng lặn dò mọi điều huyền bí, những cái ấy làm giàu nội tâm"
1
Hồn
Xuân Diệu lắng nghe bớc đi của thời gian (Đây mùa thu tới), hoà nhập
cùng thiên nhiên, vũ trụ (Thơ duyên), và mở rộng lòng mình để tận hởng
cuộc sống, (Vội vàng)... bao giờ ông cũng tỏ ra là ngời "nghe thấu sự mơ
hồ nh đã thạo dò ra những điều tinh tế"
2
.
Đặc biệt Xuân Diệu không dừng ở kiểu nghe, nhìn, và xúc cảm của
thơ ca truyền thống, ông cảm nhận thế giới bằng tất cả ngũ quan và tâm
linh vô thức. Ta sẽ thấy "nhạc" và "gió" có "mùi": (Huyền diệu), ánh
trăng lạnh nhờ vào cộng hởng cảm giác (Nguyệt cầm) ... Từ cái vô hình
mơ hồ nhng hiện hữu trong cảm nhận:
"Không gian nh có dây tơ
Bớc đi sẽ đứt động không hờ sẽ tiêu"
(Chiều)
cho đến phút giây đồng vọng từ kỉ niệm và tâm thức:
"Làm sao định nghĩa đợc tình yêu

Danh từ "lý tởng" phát sinh từ tiếng cổ Hy Lạp, biểu thị khái niệm của
con ngời về sự hoàn thiện, con ngời hoàn thiện và xã hội hoàn thiện. Trong
ý thức con ngời, lý tởng là ớc mơ, "là mục đích đặc trng cho phơng hớng
tổng quát vơn lên trong cuộc sống của con ngời đó"(E. Gromốp).
Cái đẹp - lý tởng phần lớn phụ thuộc vào quan niệm. Một nguyên tắc mĩ
học cơ bản của Xuân Diệu là lấy cái đẹp giữa tình yêu và tuổi trẻ của con
ngời làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của thế giới vạn vật.
Từ cổ chí kim, thơ ca thờng thiên về cái đẹp thiên nhiên và cuộc sống:
"Thơ xa yêu cảnh thiên nhiên đẹp
1
Nguyễn Đăng Mạnh - "Dẫn luận nghiên cứu tác gia văn học" - Giáo trình ĐHSP 1993 - T110
15
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Mây gió trăng hoa tuyết núi sông"
(Hồ Chí Minh - Thiên Gia Thi)
Hàn Mặc Tử coi thơ ca cấu thành từ bốn yếu tố của cái đẹp: "trăng, hoa,
nhạc, hơng"... Nhng Xuân Diệu lại đa ra một nguyên tắc mĩ học rất mới có
giá trị nhân bản lớn lao, đó là cái đẹp gắn bó với con ngời.
Xuân Diệu đã gắn sự vận động của tạo hoá theo hoạt động và ý thức của
con ngời. Mọi lao động và sáng tạo nghệ thuật đều vì con ngời, chỉ có vẻ
đẹp của con ngời mới xứng đáng là trung tâm mĩ học "Con ngời là kiểu
mẫu và kích thớc - để đo lờng vạn vật" Protagôrax. Quan niệm lấy con ngời
làm tiêu chuẩn cho cái đẹp bắt nguồn từ thời Phục Hng, Sexpia cũng từng
thốt lên: "Kỳ diệu thay là con ngời - Thật là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu
của muôn loài" (Hamlet - Hồi II - Cảnh II).
Đối với Xuân Diệu, con ngời là cốt lõi của mọi cảm hứng thẩm mĩ với
động lực thúc đẩy mạnh mẽ tình yêu trần thế. Lý tởng thẩm mĩ trong thơ
ông gắn liền với lẽ sống tiến bộ của nhà thơ.
Thơ trữ tình Xuân Diệu là cái tôi của Thơ Mới vùng vẫy trong sự bế tắc
của thời đại, mang nét đẹp buồn bã tinh tế của cổ nhân. Nó đậm nồng những

và "đem chất sống thực tế vào thơ"
1
. Nói nh Hà Minh Đức: "Cái đẹp trong
thơ là sự thống nhất thẩm mĩ giữa những phẩm chất của thực taị khách
quan với cái đẹp trong tâm hồn nhà thơ"
2
. Nh vậy, lý tởng thẩm mĩ đã giúp
nhà thơ thực hiện thiên chức sáng tạo theo qui luật cái đẹp bằng ý thức, cảm
xúc và lẽ sống của mình. Lý tởng thẩm mĩ đã tạo cho thơ Xuân Diệu chất
thơ tràn nhựa sống.
Bản chất của cái đẹp là sự sống đ ợc sống lại nhiều tầng trong thơ trữ tình
Xuân Diệu
"Cái đẹp là cuộc sống" mà bản chất cuộc sống luôn vận động, hơn nữa,
Xuân Diệu coi con ngời giữa trần thế và hiện tại là tối cao nên bản chất cái
đẹp trong thơ trữ tình của ngời luôn vận động và đổi mới. Cái gì sống thì
luôn biến hoá và "hoạt khí" kéo theo cái đẹp thì không có giới hạn và không
bao giờ cũ. Đây là một hệ quả tất yếu của lý tởng thẩm mĩ nói trên.
ý thức về sự đổi thay và có cái nhìn "xanh non biếc vờn", Xuân Diệu coi
cái đẹp phải là cái mới mẻ, "tơi nguyên" và "đầu tiên". Chúng có ý nghĩa
kết tinh sự chuyển vận của vạn vật, chúng lại thanh lọc và làm phong phú
tâm hồn nhà thơ, chúng gắn với hơi thở nồng ấm mới mẻ của thời đại. Chỉ
có cái Mới mới đủ sức trẻ hoá và đáp ứng nhu cầu giao cảm khẩn thiết của
Xuân Diệu. Niềm giao cảm sẽ trở nên phongphú linh diệu trong kho báu
tâm hồn của vạn ngời. Chọn cái "tình thứ nhất", "đêm thứ nhất", "xuân
1

2
Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại" - Hà Minh Đức - NXB Giáo dục - 1997 - T54
2
17

Gần thêm nữa thế vẫn còn xa lắm"
ở Xuân Diệu nỗi cô đơn tinh thần chuyển thành cảm giác cô đơn của
nhục thể rất nhân bản, rất hùng tráng.
1
Nguyễn Duy Bình - Sdd - T40
18
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
"Trời xanh trêu nh chén xanh êm
Biển đắng không nguôi nỗi khát thèm
Nên lúc môi ta kề miệng thắm
Trời ơi, ta muốn uống hồn em".
(Vô biên)
Tình yêu trong thơ ông cũng giản dị, đời thờng, đó là hạnh phúc đợc
sống vì nhau và đợc bên nhau. Xuân Diệu khẳng định chỉ có tình yêu giữa
cuộc đời thực sẽ mãi mãi xanh tơi, chỉ có tuổi trẻ con ngời là nguồn sống
dào dạt nhất:
"Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cời
Vĩnh viễn anh yêu em nh yêu sự thật
Và cây đời mãi mãi xanh tơi
Cây đời mãi mãi xanh tơi".
(Cây đời mãi mãi xanh tơi)
Lý tởng thẩm mĩ của Xuân Diệu bắt nguồn từ cuộc sống và làm giàu cho
cuộc sống. Còn gì đáng hoan nghênh hơn khi t tởng của một nhà thơ bảo vệ
cho lẽ sống tiến bộ và phẩm chất cao đẹp của con ngời?
3.2 Thế giới nghệ thuật - một sức mạnh truyền cảm trong thơ trữ tình
Xuân Diệu
3.2.1 Thiên nhiên và phụ nữ - hai hình t ợng kỳ diệu của cái đẹp tự nhiên
trong thơ trữ tình Xuân Diệu
Lý tởng về cái đích của cuộc sống hoàn thiện khiến hình tợng con
ngời mới trong thơ trữ tình Xuân Diệu xoay quanh hai kiểu hình tợng

muôn đời ngời".
Cái đẹp của thiếu nữ trong thơ trữ tình Xuân Diệu không có cái hiện thực
của "tiên nga mơ mộng cảnh xa vời" (Thế Lữ) hay vẻ dân dã bắn bó với
làng quê nh "em là cô gái trong khung cửi" (Nguyễn Bính) mà quyết liệt
không mơ hồ . Càng về sau, nhà thơ càng đem cái đẹp chung của những "cô
gái mở đờng" (Tố Hữu), "cô giái xeo giấy" (Chế Lan Viên)... vào lý tởng
thẩm mĩ của mình. Xét đến cùng hình tợng những cô gái ấy là cái tôi Xuân
Diệu nhập vai.
Thiên nhiên trong thơ trữ tình Xuân Diệu tràn đầy hơi thở trẩn thế - tức
là thiên nhiên đợc ngời hoá. Thiên nhiên đất trời là nơi để Xuân Diệu gửi
gắm lòng say mê cuộc sống và khát vọng tình yêu, ông ký thác vào đó
những tâm sự cô đơn. rặng liễu mùa thu với nỗi buồn tang tóc, hàng cây
20
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
thay lá, mảnh trăng chia lìa đơn chiếu, góc phố nhỏ đìu hiu, đám mây buồn
u ám... Có khi thiên nhiên dạt dào và tràn trể những dòng vận chuyển, "gió
vừa chạy, vừa rên, vừa tắt thở", "sắc hạ rụng rung rinh bốn phía hè", " n-
ớc suối đã lờ đờ khép mắt"...
Trong thế giới hình tợng "cơn gió lạ kỳ", " bông hoa ngàn vẻ" thì "vầng
trăng" muôn vàn cánh thể hiện là biểutợng cho sự vĩnh cửu của cái đẹp và
nghệ thuật Xuân Diệu viết nhiều về trăng bao quát tất cả "Trăng" "Hoa
đêm, Nguyệt cầm, Buồn trăng"... "là "một cái đẹp, một lý tởng".
"Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ
Đa hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy"
(Ca tụng)
Sức hấp dẫn độc đáo của thiên nhiên trong thơ trữ tình Xuân Diệu là cái
gì đó vừa trần tục vừa gắn bó với con ngời lại bao hàm khát vọng lý tởng.
Nhng "môi em, mắt em, nụ cời em , tâm hồn em" trở thành linh hồn và sinh
lực của thiên nhiên. Những đất trời, cỏ cây, sông núi, thấm đợm vẻ đẹp đầy
sắc dục của ngời đàn bà lên hơng giữa tình yêu. Đây là một đặc điểm độc

Cái mới là cách bài trí hình ảnh, chi tiết và hình tợng nhịp nhàng tơng giao
trên trục cơ bản là quan hệ giao cảm diễn ra hai chiều quan hệ, khách thể
(thế giới) và chủ thể (cái tôi Xuân Diệu). "Cái đợc biểu hiện" là quan điểm
mĩ học truyền thống, "cái biểu hiện" là hình ảnh, câu chữ, nhịp điệu... mang
hơi thở thời đại.
3.2.3. Cái đẹp độc đáo của ngôn ngữ hình ảnh và nhạc điệu trong thơ trữ
tình Xuân Diệu
"Nội dung có tính thẩm mĩ chỉ tồn tại trong hình thức sáng tạo độc đáo
của nó"
1
. Thơ trữ tình Xuân Diệu có "cái đẹp bên trong" là những t tởng, quan
điểm lẽ sống... và "cái đẹp bên ngoài" là ngôn ngữ chi tiết cấu trúc, nhạc
điệu ... có tác dụng quyết định đối với việc xây dựng hình tợng trong thơ.
Ngôn ngữ thơ trữ tình Xuân Diệu có chiều sâu của t tởng và rung cảm
thẩm mĩ có cái bay bổng của trí tởng tợng diệu kỳ, có tính chất Rađium cô
đọng, hàm súc, mang đậm dấu ấn cá nhân - Xuân Diệu. Hệ thống từ ngữ của
Xuân Diệu thiên về giá trị biểu cảm tinh tế bởi nhà thơ có sở trờng diễn tả
những biến thái tinh vi. Đó là hệ thống từ láy, từ tợng hình đạt tới độ giao hoà
linh diệu của trờng phái tợng trng... Xuân Diệu a sử dụng từ ngữ gây cảm giác
mạnh và chú ý phát huy khả năng cao độ của tính từ. Hệ thống từ ngữ đắt giá có
sức khái quát cao độ sự phát triển của quá trình.
1
Nguyễn Duy Bình - Sđd - T59
22
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Trong vờn sắc đỏ rũa màu xanh
Đã nghe rét mớt luồn trong gió
(Đây mùa thu tới)
Hệ thống từ ngữ có khả năng diễn tả đầy đủ các động tác mạnh bạo, bộc
bạch nhiệt tình, hởng thụ, hăm hở cuống quýt.

Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
phá cái đẹp trong đời sống nội tâm con ngời trên cơ sở tinh thần dân tộc và
sự thức tỉnh cái tôi Thơ Mới.
T tởng mĩ học trong thơ trữ tình Xuân Diệu đợc bắt nguồn từ truyền
thống dân tộc "trong ý thức của nhân dân, cái đẹp là cái bên trong, ở trong
bản chất chứ không phải cái đẹp bên ngoài".(Guxep - Mỹ học folclo)
Cái đẹp gắn với cái hữu ích (tốt gỗ hơn tốt nớc sơn), cái đẹp không rời
phẩm chất đạo đức, (Cái nết đánh chết cái đẹp)... Cái đẹp có sức mạnh cản
hoá lòng ngời.
Trên cơ sở đó thơ trữ tình Xuân Diệu hấp thụ t tởng tiến bộ của thời đại
và đa quan điểm dân gian phát triển thêm một bậc. Xuân Diệu luôn có ý
thức rèn rũa hệ thống ngôn từ hình ảnh, nhạc điệu để hình tợng nghệ thuật
trong thơ ấy có giá trị thẩm mĩ cao. Mỗi một tác phẩm thơ trữ tình Xuân
Diệu phải là một chỉnh thể thống nhất toàn vẹn giữa nội dung đẹp và hình
thức đẹp.
Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu không phải là cái đẹp "ý niệm" hay
cái đẹp chỉ có trong cảm xúc đơn thuần mà là cái đẹp hiện hữu trong cuộc
sống cái đẹp là sự sống chỉ có mảnh đất đẹp trần thế mới là nguồn dinh d-
ỡng vô tận cho cái đẹp trên trang thơ. Nh vậy hạnh phúc của con ngời thiết
thực và thúc đẩy cuộc sống.
B. Cơ sở thực tiễn
I. Dạy học văn nhằm phát huy chủ thể học sinh và chú
trọng giáo dục thẩm mỹ cho học sinh
1. Dạy học lấy học sinh làm nhân vật trung tâm
Bản chất của quá trình dạy học lấy học sinh làm nhân vật trung tâm là
hoạt động có tính chất nhân văn sâu sắc "Trong phơng pháp dạy học lấy
học sinh làm nhân vật trung tâm toàn bộ quá trình dạy học đều hớng vào
nhu cầu khả năng và lợi ích của học sinh bàn tiếp về dạy học lấy học sinh
làm trung tâm"
1

ngời truyền tin, ngời môi giới cho quá trình giao tiếp.
3. Coi giáo dục thẩm mĩ cho học sinh là mục tiêu hàng đầu
Văn chơng là loại hình nghệ thuật ngôn từ, hiệu quả dạy văn là kết quả
hình thành và phát triển nhân cách thẩm mĩ ở học sinh, hiệu quả dạy văn đợc
đo bằng lắng đọng trong học sinh, song cũng cần có lao động thẩm mĩ.
Trong nghị quyết đại hội IV của đảng cộng sản việt nam đề ra phơng h-
ơng "Tăng cờng giáo dục thẩm mĩ cho học sinh thông qua văn học nghệ
thuật và các bộ môn khác, xây dựng quan điểm thẩm mĩ của chủ nghĩa
Marx - Lênin, phê phán những quan điểm thẩm mĩ không vô sản, bồi dỡng
1
Phơng pháp dạy học Văn - NXb ĐHQG Hà Nội - 1996 - T46
25

Trích đoạn Thực trạng dạy học thơ tình Xuân Diệu TCVH số 4 Sđd M Gooki toàn tập Q 5 T Nguyễn văn Lon g Thơ Xuân Diệu NXB Giáo dục 1993 T Cái tôi trữ tình và phơng thức biểu hiện cái tôi tình yêu trong thơ Xuân Diệu trớc cách mạng Lu Khánh Thơ-TCVH Số 10-
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status