TRƯỜNG …………………
KHOA………………………
[\[\
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài: Một số giải pháp khai thác, phát triển
tuyến du lịch chủ đề "Con đường di sản
thế giới" nhằm phục vụ cho việc phát
triển du lịch tại Quảng Nam & Đà Nẵng
Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong phát triển du lịch, để đáp ứng được yêu cầu của du khách là muốn
tham quan nhiều nơi, đòi hỏi các đơn vị kinh doanh trong ngành du lịch phải xây
dựng được các chương trình du lịch qua nhiều địa phương, kết nối các điểm thu
hút của các địa phương để xây dựng nên các tuyến du lịch chủ đề khác nhau,
không còn rào cản của địa phương này với địa phương khác, giữa vùng này với
vùng khác.
Với mong muốn thúc đẩy du lịch Việt Nam nói chung, du lịch miền
Trung nói riêng phát triển hơn nữa, trên cơ sở tiềm năng thiên nhiên, văn hóa,
lịch sử của mình, được sự hỗ trợ của Tổng cục du lịch và nhiều địa phương,
tuyến du lịch chủ đề "Con đường di sản thế giới" được hình thành với Quảng
Nam & Đà Nẵng là hai trong nhiều tâm điểm chính của tuyến.
PHẦN 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYẾN DU LỊCH CHỦ ĐỀ
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN PHỤC VỤ CHO ĐỀ TÀI:
1.1.1. Tài nguyên du lịch:
Tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch, là cơ sở phát triển của ngành
du lịch.
Theo Pháp lệnh du lịch: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn
hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục thể lực, trí lực
của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ. Những tài nguyên này
được sử dụng phục vụ cho nhu cầu gián tiếp và trực tiếp của việc sản xuất dịch
vụ du lịch.”
Tài nguyên du lịch có hai dạng là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài
nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch có đặc điểm:
Khối lượng các nguồn tài nguyên là cơ sở xây dựng tiềm năng du
lịch.
Việc khai thác tài nguyên du lịch mang tính thời vụ, đặc biệt là
tài nguyên du lịch ở dạng tự nhiên.
Tài nguyên du lịch chỉ được khai thác nơi được phân bố.
Nếu biết tôn tạo, bảo vệ, trùng tu thì các tài nguyên du lịch có khả
năng được sử dụng lâu dài và bền vững.
1.1.2. Điểm du lịch :
Điểm du lịch là một nơi, một khu vực, một vùng có sức hấp dẫn đặc biệt
đối với dân cư ngoài địa phương và gây ra những thay đổi nhất định trong đời
sống kinh tế của vùng đó do hoạt động kinh doanh du lịch tạo ra.
Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị phân vùng du lịch,
Về mặt lãnh thổ, trong một quốc gia, tuyến du lịch có thể là tuyến nội
vùng hoặc tuyến liên vùng.Trong một tỉnh có tuyến du lịch nội tỉnh và tuyến du
lịch ngoại tỉnh.
1.1.4. Tuyến du lịch chủ đề:
Tuyến du lịch chủ đề là tập hợp các điểm thu hút, hệ thống các cơ sở dịch
vụ trên tuyến hành trình khai thác trên cơ sở một loại hình hay một nét đặc trưng
thu hút nào đó.
Trong một vùng du lịch, nơi có nhiều tài nguyên du lịch phong phú, đa
dạng, có khả năng phát triển nhiều điểm du lịch thường xuất hiện các cụm du
lịch. Các cụm du lịch là sự kết hợp về mặt lãnh thổ của các điểm du lịch cùng
loại hay khác loại với một trung tâm liên kết du lịch có điều kiện kinh tế, cơ sở
hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật tốt và đảm bảo thời gian lưu trú của khách từ 2-3
ngày.
Ví dụ: Tuyến du lịch “Con đường rượu Vang”- Pháp đã đi qua nhiều vùng
trồng nho dùng nấu rượu đặc sắc của Pháp.
Tuyến du lịch “Con đường lịch sử KanSai”- Nhật đã đi qua nhiều di tích
lịch sử nổi tiếng của Nhật.
1.2. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHỦ YẾU KHI XÂY DỰNG TUYẾN DU
LỊCH CHỦ ĐỀ:
1.2.1. Giá trị của các loại tài nguyên du lịch phục vụ cho tuyến du lịch theo
chủ đề:
Trang 4
Giá trị của các tài nguyên du lịch trên tuyến du lịch chủ đề chính là cơ sở
tạo nên sản phẩm du lịch đặc trưng, tạo đặc thù riêng cho tuyến, có ý nghĩa đặc
biệt về mặt thu hút khách du lịch.
Tính thống nhất theo chủ đề và sự đa dạng của tài nguyên du lịch để bổ
sung cho chủ đề thể hiện qua:
Phù hợp với quy mô đoàn khách tức là phải có khả năng đón tiếp,
chất lượng phục vụ đảm bảo tốt cho nhiều đoàn khách trong cùng
một thời điểm.
Cơ sở hạ tầng tại điểm lưu trú và dừng chân phải có khả năng
phục vụ tốt cho mọi mục đích du lịch của du khách như tình trạng
hoạt động tốt của hệ thống giao thông, đường xá, thông tin liên lạc,
nhất là các trung tâm giải trí, vui chơi.
Trang 5
Việc nối liền các điểm thu hút với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
được lựa chọn một cách khéo léo sẽ tạo nên sự cân đối và hợp lý về
không gian cũng như thời gian cho cả tuyến du lịch chủ đề.
1.2.4. Đội ngũ nhân viên phục vụ & hướng dẫn viên trên tuyến du lịch chủ
đề:
Đội ngũ nhân viên phục vụ và hướng dẫn viên phải đảm bảo về số lượng và
giỏi về nghiệp vụ. Bởi vì những nhân viên phục vụ ở khu vực tiền sảnh, khu nhà
hàng, hướng dẫn viên du lịch được xem là người tiếp xúc trực tiếp và thường
xuyên với khách du lịch, là những người quyết định phần lớn chất lượng của các
dịch vụ, các chương trình du lịch trên tuyến cũng như việc trở lại với tuyến
trong các lần đi du lịch sau. Do đó, đây là đội ngũ nhân viên cần chú trọng trong
việc đào tạo cả về chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp.
1.3. NHỮNG NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG & KHAI
THÁC TUYẾN DU LỊCH CHỦ ĐỀ:
1.3.1. Kiểm kê và đánh giá tài nguyên du lịch trên tuyến du lịch chủ đề:
Kiểm kê tài nguyên du lịch phục vụ cho một tuyến du lịch chủ đề người ta
chú ý nhiều đến loại hình du lịch khai thác, các bộ phận cấu thành các tài
nguyên, tập hợp các điểm thu hút xung quanh chủ đề thể hiện được những giá trị
nhất định và khả năng phù hợp với khách hàng.
của quá khứ
Thời kỳ hiện đại
1. Lịch sử
2. Nghệ thuật
3. Truyền thống
1. Khoa học kỹ thuật
2. Nghệ thuật ẩm thực
3. Nhân vật nổi tiếng Du lịch giải trí
Những thiết bị giải trí
Trình diễn văn hoá
Trình diễn thương mại
Những thu hút mô phỏng
Những công viên giải trí Trang 6
Đánh giá tài nguyên du lịch đang được khai thác trước hết cần đánh giá
khả năng hấp dẫn, lôi cuốn thông qua giá trị của các tài nguyên, tính thời sự,
những lợi ích mà nó đem lại cho du khách. Bên cạnh đó, đánh giá khả năng khai
thác kinh doanh của một điểm thu hút thông qua số lượng du khách muốn và có
thể thực hiện việc tham quan điểm thu hút cùng với khả năng chi trả của du
khách tại điểm thu hút đó.
Đối với tài nguyên du lịch tiềm năng, ngoài việc đánh giá dung lượng thị
trường cần đánh giá thêm về nhu cầu vốn; độ dài thời gian cần thiết để cải tạo,
xây dựng, nâng cấp; các tác động đến đời sống văn hóa của cư dân địa phương.
Việc đánh giá và kiểm kê cơ sở lưu trú dựa vào quy mô của hệ thống cơ
sở lưu trú, khả năng lưu trú thông qua số lượng buồng giường. Ngoài ra, còn có
một số chỉ tiêu khác như diện tích sử dụng, trang thiết bị …
Trang 7
Cơ sở phục vụ ăn uống: Cũng như cơ sở lưu trú, phân bố mạng lưới
nhà hàng rất quan trọng trong quá trình kiểm kê và đánh giá hệ thống nhà hàng.
Cơ sở phục vụ dịch vụ bổ sung khác: Việc kiểm kê và đánh giá thông
qua chỉ tiêu quy mô bao gồm số chỗ, diện tích, mức luân chuyển hàng hoá…
Lực lượng lao động trên tuyến du lịch chủ đề: Việc đánh giá và kiểm
kê lực lượng lao động trên tuyến du lịch chủ đề là vô cùng khó khăn. Tùy vào
mỗi công việc cần có những tiêu chuẩn tuyển chọn và đánh giá khác nhau.
Chẳng hạn như việc đánh giá và tuyển chọn nhân viên tiếp xúc trực tiếp không
chỉ căn cứ vào giới tính, sức khoẻ, trình độ văn hóa… mà còn chú ý đến tuổi tác,
hình thức bên ngoài, tình trạng gia đình, sẵn sàng phục vụ, tính kiềm chế và lòng
trung thực
1.3.4. Phát triển tuyến du lịch chủ đề:
Trong phát triển du lịch, để đáp ứng được yêu cầu của du khách là muốn
thăm thú nhiều nơi, đòi hỏi các doanh nghiệp du lịch phải xây dựng cho được
các tuyến du lịch qua nhiều địa phương, không có rào cản của địa phương này
đối với địa phương khác, giữa vùng này với vùng khác, tạo điều kiện thuận lợi
tối đa cho du lịch phát triển, đưa du khách đến các điểm thu hút trong vùng. Vì
vậy, việc phát triển tuyến du lịch chủ đề là xu thế tất yếu của thời đại công
nghiệp hóa - hiện đại hóa, của xu thế nền kinh tế toàn cầu hóa, khu vực hóa.
Phát triển tuyến du lịch chủ đề cách tốt nhất là đặt tuyến trong mối quan
hệ tổng thể với các tuyến điểm trong cả nước, mở rộng quan hệ với các tuyến du
lịch quốc tế, kết nối các điểm du lịch trong khu vực nhằm mục tiêu tăng trưởng
du lịch của các địa phương, quốc gia, khu vực có tuyến đi qua với tốc độ nhanh
và bền vững.
Phát triển tuyến du lịch chủ đề đòi hỏi hình thành rõ chức năng phối hợp
mình.
Theo đánh giá và kết quả nghiên cứu sơ bộ thì các nguồn khách quan
trọng của thị trường du lịch Việt Nam được sắp xếp như sau:
Khách quốc tế:
1. Các công ty lữ hành gửi khách quốc tế và trong nước.
2. Các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.
3. Các công ty, xí nghiệp liên doanh hoặc có quan hệ kinh tế với nước
ngoài.
4. Các mối quan hệ cá nhân.
5. Các đối tượng khách đi lẻ, khách tự đến.
Khách nội địa:
1. Các công ty lữ hành trong nước.
2. Các công ty, xí nghiệp, trường học…
3. Các tổ chức xã hội, đoàn thể.
4. Các đối tượng khách trực tiếp
5. Các mối quan hệ khác.
1.3.5.2. Quan hệ giữa các doanh nghiệp kinh doanh du lịch với nhau &
với khách du lịch:
Đối với tuyến du lịch chủ đề kéo dài qua nhiều địa phương vấn đề không
chỉ là giữa doanh nghiệp lữ hành và các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ lưu trú,
ăn uống, mua sắm mà còn ở chỗ:
Giữa tất cả các loại hình doanh nghiệp du lịch trong nỗ lực quảng
bá chung cho tuyến, cho việc đảm bảo chất lượng phục vụ của từng
doanh nghiệp nhằm đảm bảo uy tín chung cho cả tuyến.
Giữa các doanh nghiệp cùng loại hình trên các địa phương khác
nhau của tuyến:
* Khách sạn ở Đà Nẵng với Hội An trong gởi nhận khách lẫn
nhau.
* Thậm chí giữa các doanh nghiệp thuê xe: thuê xe gắn máy ở
Mức giá hợp lý của các dịch vụ du lịch.
Điều kiện môi trường tự nhiên xã hội
Chất lượng hướng dẫn viên
Sự hài lòng của khách du lịch …
Chất lượng sản phẩm thể hiện phần lớn qua phương thức, thái độ phục vụ
của các đội ngũ nhân viên đối với khách du lịch, vì vậy chất lượng phục vụ đóng
vai trò quan trọng tới chất lượng sản phẩm. Quá trình xây dựng và quản lý chất
lượng phục vụ được chia thành năm nhóm công việc cơ bản là:
Tìm hiểu khách hàng mục tiêu - tiền đề của chất lượng phục vụ
Xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng phục vụ
Xây dựng đội ngũ nhân viên nhằm thực hiện các tiêu chuẩn về
chất lượng phục vụ
Hệ thống kiểm tra thường xuyên: hệ thống đo lường dịch vụ, hệ
thống tiếp nhận và xử lý thông tin từ phía khách hàng, hệ thống tiếp
nhận báo cáo và ý kiến của nhân viên.
Trang 10
Tạo dựng bầu không khí tích cực, dân chủ trong khi làm việc cho
toàn thể nhân viên.
1.3.8. Tổ chức các hoạt động quảng cáo, tuyên truyền cho tuyến du lịch chủ
đề:
Tất cả các hoạt động quảng cáo đều nhằm khơi dậy nhu cầu của du khách
đối với các điểm thu hút, các sản phẩm du lịch thuộc tuyến du lịch chủ đề. Các
sản phẩm quảng cáo phải tạo ra được sự phù hợp giữa các chương trình du lịch
trên tuyến với nhu cầu, mong muốn và nguyện vọng của khách du lịch.
Khi quảng cáo cho các điểm du lịch, các sản phẩm của tuyến thường áp
dụng các hình thức quảng cáo:
Quảng cáo bằng các sản phẩm tập gấp, tập sách mỏng, áp-
phích…
Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng: báo, đài,
THỰC TRẠNG KHAI THÁC, PHÁT TRIỂN TUYẾN DU
LỊCH CHỦ ĐỀ "CON ĐƯỜNG DI SẢN THẾ GIỚI"&
TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN TUYẾN TẠI
QUẢNG NAM & ĐÀ NẴNG
2.1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI QUẢNG NAM & ĐÀ
NẴNG:
2.1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch trong thời gian qua:
2.1.2.1. Thành phố Đà Nẵng:
Bảng 2.1.2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch tại Đà Nẵng 2000-2003
ĐVT: triệu đồng
2001
2002
2003 Chỉ tiêu 2000
Số
lượng
Tđt
338.000-0,25- Khách sạn
130.230160.90023,55188.70017,28181.033-4,06
5,1335.3889,0737.5866,36- Ăn uống
9.33613.40042,9516.800
-1,93Tổng chi phí
215.237249.25823,30282.53913,35283.9204,89Lợi nhuận
19.939
27.15913,1626.737-1,55
Nguồn: Đại diện văn phòng TCDL tại miền Trung
Hoạt động du lịch của Đà Nẵng thời gian qua có bước tăng trưởng khá.
Tốc độ tăng bình quân về doanh thu đạt 10,01% / năm. Các chỉ tiêu về lợi nhuận
và nghĩa vụ đối với Nhà nước tăng khá, trong đó tổng chi phí cũng tăng nhưng
với tốc độ chậm hơn.
Trang 12
Kết quả khích lệ trên là nhờ việc đẩy mạnh cơ sở hạ tầng, giao thông,
chỉnh trang đô thị có nhiều thay đổi tích cực. Công tác đầu tư cơ sở hạ tầng phát
triển du lịch, xây dựng các sản phẩm du lịch mới cũng như chất lượng phục vụ
được chú trọng. Thành phố cũng đã chỉ đạo các ngành chức năng và các địa
phương phối hợp chặt chẽ trong các hoạt động an ninh, an toàn cho du khách.
Hiện tượng bu bám, chèo kéo khách du lịch, các hành động gây ô nhiễm môi
trường du lịch… đều giảm. Việc nâng cấp dịch vụ lưu trú và mở thêm dịch vụ
bổ sung trong khách sạn được chú ý. Các công ty lữ hành nổ lực quảng bá sản
phẩm du lịch của địa phương và các tỉnh lân cận. Các doanh nghiệp vận chuyển
chú trọng nâng cao chất lượng phục vụ khách bằng cách kiện toàn đội ngũ lái xe
vừa chuyên nghiệp vừa có tác phong nghiệp vụ du lịch cao và trang bị thêm
nhiều xe du lịch mới đưa vào phục vụ. Đặc biệt, khu du lịch Furama Resort hoạt
động kinh doanh khá hiệu quả, các chương trình du lịch của tuyến du lịch chủ đề
Số
lượng
Tđt
( % )
Số lượng
Tđt
( % )
1 2 3 4 5 6 7 8
Tổng doanh thu
43.51578.78281,05121.10853,73
7671.48593,612.33056,902.220-4,72- Vận chuyển
9361.38322.516-9,32Trang 13
Bảng 2.1.2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch tại Quảng Nam 2000-2003
ĐVT: triệu đồng
2001
2002
2003
Chỉ tiêu
2000
Số lượng
Tđt
( %)
Số
lượng
Tổng chi phí
36.89074.93186,63111.72754,84109.200-2,26Lợi nhuận
1.87440,587.62514,16
Nguồn: Đại diện văn phòng TCDL tại miền Trung
Du lịch Quảng Nam phát triển nhanh chóng với tốc độ tăng bình quân về
doanh thu là 44,62% / năm. Đây là mức tăng kỷ lục và khá cao so với Đà Nẵng.
Qua số liệu thống kê trên, ta nhận thấy rằng: Doanh thu lữ hành chiếm tỷ
trọng khá khiêm tốn, khoảng 1,85% trên tổng doanh thu của toàn ngành, song
tốc độ tăng trưởng khá cao xấp xỉ bằng 48,60% / năm và năm sau cao hơn năm
trước. Lợi nhuận từ kinh doanh du lịch không ngừng tăng qua các năm, nhưng
so với tốc độ tăng doanh thu thì còn thấp, tỷ lệ so với doanh thu còn khiêm tốn,
khoảng 2,68%. Chi phí quảng bá lớn dẫn đến tổng chi phí tăng cao làm tổng lợi
nhuận tăng chậm lại. Do doanh thu tăng nhanh nên đóng góp vào Ngân sách
Nhà nước tăng đáng kể, tốc độ tăng bình quân 32,26% / năm.
Kết quả được như trên là nhờ các doanh nghiệp du lịch đã chú trọng hơn
trong việc đầu tư xây dựng, nâng cấp trang thiết bị, mở thêm nhiều dịch vụ bổ
sung nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách tốt hơn. Công tác
tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch, mở rộng thị trường cho chương trình du
lịch của tuyến du lịch chủ đề “Con đường di sản thế giới” cùng hai di sản văn
hoá thế giới là Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn được quan tâm hơn nên đã thu
hút được lượng khách lớn đến tham quan. Đặc biệt, Sở Du Lịch Quảng Nam kết
hợp với các Sở Du lịch các tỉnh, thành lân cận, các doanh nghiệp liên quan đến
du lịch tổ chức thành công nhiều liên hoan, lễ hội du lịch như “Gặp gỡ đêm rằm
doanh của mình, cũng như ở Đà Nẵng các doanh nghiệp chỉ hoạt động vận
chuyển khách là chính, các chương trình chủ yếu phục vụ khách lẻ và còn quá
đơn giản, chưa tạo những ấn tượng đặc sắc cho du khách. Hiện tượng cạnh tranh
mãnh liệt về giá và giành giật khách còn diễn ra khá phổ biến giữa các doanh
nghiệp.
2.1.2.2. Tình hình phát triển ngành kinh doanh khách sạn:
2.1.2.2.a. Thành phố Đà Nẵng:
Bảng 2.1.2.2.a: Tình hình phát triển khách sạn tại Đà Nẵng 1996 - 2003
1996
2000
2003
Cslt
Phòng
Cslt
Phòng
Chỉ tiêu
Cs
TSố
331.480
66
200,0
2.318
156,62
71
107,6
2.394
161,76
3-5 sao
2130
169,2
850139,34
25
113,6
890145,90
Đạt TC
1874036
200,0
838
2000 là 36,67% và năm 2003 là 37,18%.
Tuy nhiên vẫn chưa có một tổ chức nào để liên kết, xâu chuỗi các khách
sạn này lại. Vấn đề cạnh tranh về giá diễn ra khá gây gắt.
2.1.2.2.b. Tỉnh Quảng Nam:
Bảng 2.1.2.2: Tình hình phát triển khách sạn tại Quảng Nam 1996 - 2003
1996
2000
2003
Cslt
Phòng
Cslt
Phòng
Chỉ tiêu
Cs
lt
(cái)
Phòng
(cái)
58320
111,1
711
122,0
78390,0
2.168
304,9
3-5 sao
001
100,0
14466,7
580439,4
Đạt TC
1730416
94,1444
139,3
2.1.2.3. Tình hình phát triển ngành kinh doanh ăn uống:
2.1.2.3.a. Thành phố Đà Nẵng:
Hệ thống nhà hàng tại Đà Nẵng tương đối phong phú và đa dạng, đáp ứng
khá tốt cho việc phục vụ khách du lịch và khách địa phương. Các nhà hàng phân
bố chủ yếu ở trung tâm thành phố và khu vực ven biển. Trong đó, số nhà hàng
có trong khách sạn là 37, số nhà hàng thuộc các đơn vị, cá nhân nằm ngoài
khách sạn là 100. Trong quá trình kinh doanh, các nhà hàng vẫn ở tình trạng
hoạt động riêng lẻ, độc lập, chưa có mối quan hệ cụ thể nào.
2.1.2.3.b. Tỉnh Quảng Nam:
Mạng lưới các nhà hàng rãi khắp tỉnh, nhưng có sự tập trung cao ở Hội
An. Theo thống kê, từ năm 1997, Hội An đã có 214 hộ kinh doanh ăn uống,
trong đó có 128 nhà hàng. Nhà hàng đặc sản ở Hội An ngày càng nhiều và thu
hút đông đảo du khách bởi những món ăn đặc sản. Mặc dù chính quyền địa
phương cùng với ngành du lịch đã quan tâm đến công tác quy hoạch du lịch
nhưng tình hình hiện nay rất dễ xảy ra nguy cơ quá tải nhà hàng tại Hội An.
2.1.2.4. Tình hình phát triển ngành kinh doanh vận chuyển:
2.1.2.4.a. Thành phố Đà Nẵng:
Phát huy ưu thế là cửa ngõ trung chuyển khách, Đà Nẵng đã chú trọng
đầu tư, nâng cấp các phương tiện vận chuyển để tạo điều kiện tốt nhất cho việc
đưa đón khách.
Toàn thành phố, hiện nay, có 310 xe các loại với trên 4000 chỗ ngồi làm
nhiệm vụ vận chuyển khách du lịch. Hầu hết, các loại xe đều có chất lượng khá
trở lên, trong đó xe 4-9 chỗ ngồi là 104 chiếc, 12-15 chỗ ngồi là 98 chiếc, 24-26
chỗ ngồi là 34 chiếc và trên 30 chỗ ngồi là 21 chiếc. Loại hình phương tiện taxi
cũng tăng, hiện nay cả thành phố có 4 hãng taxi với hơn 300 chiếc. Hoạt động
và tập trung chủ yếu chỉ ở Hội An. Từ chỗ chỉ có 33 điểm (1997) đến nay đã có
hơn 50. Đây được coi là “ thiên đường mua sắm”. Quảng Nam vẫn chưa có sự
sắp xếp về mặt không gian và hình thành một tổ chức chung để tránh cạnh tranh
không lành mạnh về giá gây thiệt hại lẫn nhau.
2.2. THỰC TRẠNG KHAI THÁC TUYẾN DU LỊCH CHỦ DỀ
"CON ĐƯỜNG DI SẢN THẾ GIỚI" TẠI QUẢNG NAM & ĐÀ
NẴNG:
2.2.1. Tình hình khai thác khách tại các di sản thế giới:
Trang 18
2.2.1.1. Tình hình khai thác khách tại phố cổ Hội An: (Số liệu ở bảng
2.2.1.1 phần phụ lục)
Với việc được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới và là một
trong những tâm điểm chính của tuyến du lịch chủ đề “Con đường di sản thế
giới”, Hội An đã có những bước tiến vượt bậc trong việc thu hút và khai thác
khách.
Theo số liệu thống kê, số lượt khách đến với Hội An ngày càng tăng trong
các năm 2000, 2001, 2002 và đã có giảm nhẹ vào năm 2003 (- 4,21%) do ảnh
hưởng của đại dịch SARS. Trong đó, lượt khách quốc tế giảm mạnh 20,72%
nhưng đây lại là cơ hội cho khách nội địa được tăng lên 13,58% bởi trong thời
gian này hầu hết các đơn vị kinh doanh du lịch đều có xu hướng giảm giá thành
tất cả các dịch vụ, các sản phẩm du lịch để có thể duy trì được tình hình kinh
doanh của mình. Tuy vậy, tốc độ tăng bình quân của tổng lượng khách đến Hội
An vẫn đạt ở mức khá 15,085% trong giai đoạn 1999 - 2003.
Khách du lịch quốc tế vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượt khách đến
được gần 63.095 lượt khách quốc tế. Tuy nhiên, do tốc độ tăng trưởng chậm hơn
khách du lịch nội địa nên thị phần khách quốc tế đã giảm từ 84,42% năm 1999
xuống còn 69,83% năm 2003.
Khách nội địa có tốc độ tăng trưởng cao, với mức bình quân là 72,80%
cho cả giai đoạn 1999 - 2003. Đặc biệt, năm 2002, Mỹ Sơn đã đón 24.917 lượt
khách nội địa, tăng hơn 6 lần so với năm 1999. Nếu như năm 1999, khách nội
địa chiếm 15,58% thị phần thì trong năm 2003 thị phần khách nội địa đã chiếm
30,17% thị phần.
Quy mô nguồn khách du lịch kể cả quốc tế và nội địa đều tăng nhanh so
với nguồn khách đến với Quảng Nam và đến với vùng du lịch trọng điểm Bắc
Trung Bộ (Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam). So với Quảng Nam, tổng
lượt khách đến với Mỹ Sơn chiếm tỷ trọng 19,39% năm 1999 và đã tăng lên
21,58% năm 2002. Do tăng chậm hơn so với nhịp độ tăng trưởng của khách nội
địa, thị phần khách quốc tế có xu hướng giảm. Song xét về số lượng tuyệt đối thì
cả khách quốc tế và khách nội địa có xu hướng tăng mạnh.
2.2.2. Thực trạng khai thác tuyến du lịch chủ đề “Con đường di sản thế
giới” tại Quảng Nam và Đà Nẵng:
Tuyến du lịch chủ đề “Con đường di sản thế giới” ra đời đã tạo cơ hội lớn
cho du lịch Quảng Nam và Đà Nẵng phát triển ngày càng lớn mạnh. Song, trong
thời gian qua , việc khai thác và phát triển tuyến tại hai địa phương này vẫn chưa
mang lại hiệu quả cao bởi do:
Khai thác tài nguyên du lịch:
Đà Nẵng, bên cạnh tài nguyên biển độc đáo, còn có nguồn tài nguyên văn
hóa đặc sắc. Thế nhưng rất nhiều di tích có giá trị, nhiều tài nguyên biển như
bảo tàng Đà Nẵng, nghĩa địa Y Pha Nho, Bán đảo Sơn Trà, bãi biển Tiên Sa,
suối nước nóng Phước Nhơn, công viên nước Đà Nẵng… vẫn chưa được khai
thác khai thác tương xứng với tiềm năng hoặc chưa được kết hợp với quần thể
tài nguyên văn hóa ở các vùng lân cận. Công tác trùng tu, tôn tạo các giá trị văn
hóa phục vụ kinh doanh du lịch cũng chỉ ở mức độ tiến hành ở một số điểm trên
có sự đầu tư lớn để sẵn sàng đón tiếp khách , đặc biệt là khách quốc tế.
Điều kiện sẵn sàng đón tiếp:
Từ khi tuyến du lịch chủ đề “Con đường di sản thế giới” ra đời và đưa vào
hoạt động đã làm cho hệ thống các nhà hàng, cơ sở lưu trú, các trung tâm lữ
hành “mọc lên như nấm” tại Quảng Nam và Đà Nẵng.
Đà Nẵng
Cơ sở lưu trú: Từ 33 khách sạn năm 1996 tăng lên 71 khách
sạn năm 2003.
Cơ sở ăn uống: 37 nhà hàng trong khách sạn và hơn 100 nhà
hàng nằm ngoài khách sạn.
Trung tâm lữ hành: có 43 đơn vị kinh doanh lữ hành .
Quảng Nam:
Cơ sở lưu trú: Từ 18 khách sạn năm 1996 tăng lên 78 khách
sạn năm 2003.
Cơ sở ăn uống: Tại Hội An hiện nay có 124 đơn vị kinh
doanh ăn uống, một số khác nằm tại Tam kỳ
Trung tâm lữ hành: 3 trung tâm lữ hành quốc tế, 9 trung tâm
lữ hành nội địa, 2 chi nhánh lữ hành quốc tế.
Tuy nhiên, chất lượng của các đơn vị kinh doanh du lịch này chưa cao. Hệ
thống các khách sạn có cấp hạng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế, chất lượng hệ
thống dịch vụ chưa hoàn hảo và đồng bộ. Cơ cấu loại hình lưu trú chưa đa dạng,
chưa thực sự phù hợp với từng đối tượng khách, quy mô đầu tư còn nhỏ lẻ, phân
tán nên hiệu quả đầu tư thấp.
Việc khai thác và quảng bá các chương trình du lịch trên tuyến du lịch này
tại các trung tâm lữ hành còn quá hạn chế. Các hãng lữ hành chưa tự vượt xa
hơn trong việc kí kết hợp đồng với các công ty lữ hành nước ngoài, chưa phát
Trang 21
huy được tính hiệu quả của việc quảng cáo, chưa đưa đến cho khách hàng một
cách rõ nét tính hấp dẫn của Quảng Nam và Đà Nẵng trên tuyến du lịch chủ đề
"Con đường di sản thế giới".
2.2.3.2. Chương trình du lịch được khai thác nối liền hai địa phương:
Đà Nẵng - Hội An - Cù Lao Chàm - Đà Nẵng (4 ngày / 3đ êm)
Đà Nẵng - Hội An - Mỹ Sơn - Bà Nà. (3 ngày / 2 đêm)
2.2.3.3. Chương trình du lịch được khai thác liên vùng:
Đà Nẵng - Hội An - Huế (3 ngày / 2 đêm )
Đà Nẵng - Hội An - Bà Nà - Huế (4 ngày / 3 đêm )
Đà Nẵng - Hội An - Cù Lao Chàm - Huế (4 ngày / 3 đêm )
Đà Nẵng - Hội An - Bạch Mã - Huế (4 ngày / 3 đêm )
Đà Nẵng - Mỹ Sơn - Hội An - Huế (4 ngày / 3 đêm )
Trang 22
Đà Nẵng - Mỹ Sơn - Hội An -Bà Nà - Huế (5 ngày / 4 đêm )
Đà Nẵng - Hội An - Huế - Phong Nha (5 ngày / 4 đêm )
Đà Nẵng - Mỹ Sơn - Hội An - Huế - Phong Nha (6 ngày / 5 đêm)
Thống kê các chương trình du lịch trên tuyến du lịch chủ đề "Con đường
di sản thế giới" mà các công ty lữ hành ở Quảng nam và Đà Nẵng đang chào
bán, ta thấy: Bảo tàng Chàm có mặt nhiều nhất, tỷ lệ xuất hiện trong các chương
trình là 89%, kế đến là Hội An 84%, Huế 71%, Mỹ Sơn 48%, Ngũ Hành Sơn
42%. Và trong các chương trình trên, chương trình 4 ngày 3 đêm Đà Nẵng-Hội
An- Mỹ Sơn- Huế là thu hút nhiều đối tượng khách nhất.
2.2.4. Mức đóng góp của tuyến du lịch “Con đường di sản thế giới” cho du
lịch của Đà Nẵng và Quảng Nam: (Số liệu ở bảng 3 phần phụ lục )
Việc hình thành tuyến du lịch “Con đường di sản thế giới” sau sự kiện Mỹ
Sơn và Hội An được công nhận là di sản văn hóa thế giới đã đưa du lịch cả Đà
Nẵng và Quảng Nam phát triển lên một tầm cao mới.
Mức đóng góp của “Con đường di sản thế giới” cho du lịch Đà Nẵng và
Quảng Nam là khá lớn. Quy mô nguồn khách du lịch kể cả khách quốc tế lẫn
khách nội địa đều tăng nhanh so với nguồn khách đến với cả 2 địa phương.
Năm 2003, tuy ảnh hưởng của dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp nhưng
về chia nhau”. Đó là nguyên câu nói rất hình tượng của ông Huỳnh Tấn Vịnh –
Phó giám đốc công ty liên doanh Furama khi nói với các nhà quản lý du lịch các
tỉnh miền Trung về việc cùng liên kết thực hiện “Con đường di sản thế giới” tại
miền Trung.
Dù mới khởi xướng được không lâu, nhưng việc ra đời chương trình liên
kết du lịch này đã tạo được niềm tin cho các doanh nghiệp, các tổ chức du lịch,
và các địa phương về tiềm năng phát triển, cơ hội kinh doanh. Vì vậy, ngay sau
khi Ban điều hành “Con đường di sản thế giới” đã thành lập và đi vào hoạt động
ổn định, ngoài rất nhiều cuộc họp đã được tiến hành để triển khai hoạt động,
cũng trong thời gian này, 3 đoàn nhà báo quốc tế với hơn 40 phóng viên, nhà
báo đã đến nghe và giới thiệu, đưa bài và hình ảnh “Con đường di sản thế giới”.
Ban điều hành cũng đã hình thành website:www.worldheritageroad.com để
quảng bá và giới thiệu “Con đường di sản thế giới” ra thế giới. Trang web này
được chính thức đưa vào sử dụng từ tháng 6 năm 2002. Tính đến thời điểm hiện
nay, số người biết và truy cập trang web này vào khoảng 115.128 lượt người.
Nhìn chung, trang web được xây dựng tương đối quy cũ, trang trí đẹp,
màu sắc, hình ảnh mang đậm văn hóa Chăm. Các thông tin giới thiệu về các
điểm thu hút được phân theo khu vực lãnh thổ địa lý mà tuyến du lịch chủ đề
"Con đường di sản thế giới" đi qua giúp người truy cập dễ dàng tìm thấy được
những thông tin cần thiết một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, người truy cập có
thể tìm thấy những địa chỉ liên lạc của các đơn vị thành viên của tuyến. Tuy
nhiên, trang web vẫn còn có một số hạn chế nhất định. Trở ngại lớn nhất cho
người truy cập là trang web chỉ được thiết kế với một ngôn ngữ duy nhất là tiếng
Anh. Điều này sẽ khiến trang web không thể được quảng bá rộng rãi cho tất cả
các đối tượng khách, đặc biệt là những khách sử dụng hiếm khi sử dụng tiếng
Anh làm ngôn ngữ giao tiếp. Ngoài ra, trang web chưa đưa ra các chương trình
du lịch trên từng địa phương để tiện cho khách trong việc tìm kiếm, lựa chọn
chương trình du lịch thích hợp đồng thời có thể tạo ra những giao dịch giữa
khách hàng với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch thành viên. Việc đưa phần
tư vấn du lịch cho ngay trong trang web sẽ giúp người truy cập biết và hiểu sâu
du lịch “Con đường di sản thế giới”.
Tính đến cuối tháng 5/2002 “Con đường di sản thế giới” đã có 17 thành
viên chính thức là các doanh nghiệp khách sạn, lữ hành, ban quản lý các điểm
tham quan trên địa bàn 3 tỉnh, và tính cho đến thời điểm hiện nay số thành viên
chính thức đã tăng lên con số là 100 thành viên. Chương trình “Con đường di
sản thế giới” cũng nhận được sự hỗ trợ của Vietnam Airlines, Ngân hàng
Thương mại cổ phần Á Châu (ACB) và Saigon Times Group,công ty Mai Linh,
bia Foster, Coca-Cola…. Để “Con đường di sản thế giới” có điều kiện hoạt động
tốt khi chưa thu phí của các thành viên, Vietnam Airlines đã tài trợ 5.000 đô-la
Mỹ, khách sạn Furama Resort tài trợ 10.000 đô-la Mỹ, ACB đưa thẻ tín dụng
ACB và Visa Card vào thanh toán trong hệ thống các dịch vụ của “Con đường
di sản thế giới”, Saigon Times Group hỗ trợ việc quảng bá trên các tờ báo bằng
tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp.
Mối liên kết cũng đã được nối giữa “Con đường di sản thế giới” với “Con
đường Romantic” (Đức) và “Con đường lịch sử KanSai” (Nhật Bản). Thông qua
đó, Ban điều hành cũng đã nhận được nhiều thông tin bổ ích, nhiều kinh nghiệm
quý báu cho hoạt động. Riêng Hội cứu hộ Hoàng gia Úc đã tổ chức một khoá
huấn luyện cho nhân viên cứu hộ nằm trong chương trình liên kết này.
Các thành viên của “Con đường di sản thế giới” được hỗ trợ trong việc
đào tạo cán bộ và nhân viên, được tư vấn về nghiệp vụ kinh doanh. Ngoài ra, với
tư cách là thành viên của “Con đường di sản thế giới”, các doanh nghiệp được
ngân hàng tin cậy hơn trong việc vay vốn phát triển kinh doanh, được các tổ