Lêi më ®Çu.
2
Phần I: lý luận Cơ bản về phân tích cấu trúc tài chính
doanh nghiệp
I.> Khái niệm và ý nghĩa của phân tích cấu trúc tài chính
doanh nghiệp
1. Khái niệm:
1.1. Khái niệm về tài chính doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp là một hệ thống các quan hệ tài chính biểu hiện qua quá
trình huy động và sử dụng vốn để tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp.
Huy động vốn (chức năng tài trợ), phản ánh quá trình hình thành dòng tiền tệ từ
các nguồn lực bên trong và bên ngoài nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động
trong lâu dài với chi phí thấp nhất.
Sử dụng vốn (chức năng đầu t), là quá trình phân bổ vốn làm sao cho việc sử
dụng vốn có hiệu quả nhất.
1.2. Khái niệm về cấu trúc tài chính doanh nghiệp:
Cấu trúc tài chính doanh nghiệp là một khái niệm đề cập đến các bộ phận cấu
thành nên hệ thống tài chính của doanh nghiệp, trong đó phản ánh cơ cấu tài sản, cơ
cấu nguồn vốn và cả mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp. Cấu
trúc tài chính liên quan đến chính sách tài trợ của doanh nghiệp.
Cơ cấu tài sản thể hiện quan hệ tỷ lệ giữa các loại tài sản, cơ cấu này phản ánh
tình hình phân bổ vốn cho sản xuất kinh doanh, thông qua đó có thể đánh giá đợc
tình hình tài chính của doanh nghiệp lành mạnh hay không lành mạnh.
Cơ cấu nguồn vốn thể hiện quan hệ tỷ lệ giữa các loại nguồn vốn, thông qua cơ
cấu này có thể đánh giá đợc tình hình huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh từ những nguồn khác nhau.
1.3. Khái niệm về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp:
Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp là phân tích khái quát tình hình đầu t
và huy động vốn của doanh nghiệp, chỉ ra các phơng thức tài trợ tài sản để làm rõ
những dấu hiệu về cân bằng tài chính. Thông qua phân tích cấu trúc tài chính, nhà
quản lý có thể tìm ra phơng cách tốt nhất trong việc kết hợp giữa tài sản và nguồn
ảnh hởng của từng nhân tố đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Từ đó có
những giải pháp hữu hiệu nhằm ổn định và tăng cờng tình hình tài chính của doanh
nghiệp.
Nhìn chung, việc phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp mang lại những
ý nghĩa sau:
Đối với bên trong doanh nghiệp:
Qua phân tích cấu trúc tài chính mới có thể đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình
huy động, phân phối và sử dụng các loại vốn, nguồn vốn của doanh nghiệp, phát
hiện những nhân tố hiện tại hay tiềm tàng của sự mất cân bằng tài chính. Trên cơ sở
đó đề ra những biện pháp khắc phục và hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn.
Đối với bên ngoài doanh nghiệp:
Nguồn thông tin đợc cung cấp từ việc phân tích cấu trúc tài chính sẽ là công cụ
không thể thiếu phục vụ cho công tác quản lý của các cơ quan nhà nớc về việc đánh
giá tình hình thực hiện các chế độ, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp. Đồng
thời nó cũng là cơ sở để các nhà đầu t xem xét và quyết định có nên đầu t vào doanh
nghiệp hay không, đầu t nh thế nào là hợp lý
Có thể nói phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định
trong việc duy trì hoạt động của doanh nghiệp . Vì vậy việc thờng xuyên tiến hành
phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp là một điều hết sức cần thiết.
II.> Các phơng pháp và tài liệu phục vụ cho công tác phân tích
cấu trúc tài chính của doanh nghiệp
1. Các phơng pháp phân tích
1.1. Phơng pháp so sánh:
Phơng pháp so sánh là phơng pháp đợc sử dụng phổ biến nhất trong phân tích
kinh tế bằng cách tiến hành so sánh một chỉ tiêu kinh tế cần phân tích với chỉ tiêu
đã đợc chọn làm gốc so sánh.
Phơng pháp so sánh bao gồm ba vấn đề sau:
Tiêu chuẩn so sánh
Điều kiện so sánh
Đảm bảo có cùng đơn vị đo lờng: giữa các chỉ tiêu so sánh cần thống nhất về
đơn vị tính cả về thời gian, hiện vật và giá trị.
Điều kiện so sánh theo không gian: khi so sánh giữa các doanh nghiệp thì
ngoài các điều kiện nêu trên cần đảm bảo các doanh nghiệp phải có cùng loại hình
kinh doanh và qui mô là nh nhau.
1.1.3. Kỹ thuật so sánh:
Có các dạng so sánh sau:
Trình bày báo cáo tài chính dạng so sánh ngang: tức là xác định mức biến
động tuyệt đối và mức biến động tơng đối của từng chỉ tiêu phân tích qua nhiều kỳ
liên tiếp, từ đó có thể xác định đợc xu hớng biến động của chỉ tiêu phân tích.
Trình bày báo cáo tài chính dạng so sánh dọc: tức là chọn một chỉ tiêu trên
báo cáo tài chính làm qui mô chung và tính tỷ lệ phần trăm của các chỉ tiêu có liên
quan so với chỉ tiêu qui mô chung đó. Từ đó có thể đánh giá cấu trúc của các chỉ
tiêu tài chính ở doanh nghiệp.
Trong các dạng so sánh trên ngời ta thờng sử dụng các kỹ thuật so sánh sau:
So sánh bằng số tuyệt đối: là hiệu số giữa trị số kỳ phân tích và trị số kỳ gốc của
chỉ tiêu kinh tế, phản ánh mức độ đạt đợc về khối lợng, qui mô của chỉ tiêu phân
tích.
5
So sánh bằng số tơng đối: là thơng số giữa trị số kỳ phân tích và trị số kỳ gốc
của chỉ tiêu kinh tế, biểu hiện tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích.
So sánh bằng số bình quân: đây là kỹ thuật so sánh mà trong quá trình tính toán
đã san bằng mọi chênh lệch về trị số của chỉ tiêu. Số bình quân có thể là số tuyệt
đối hoặc số tơng đối. So sánh bằng số bình quân phản ánh đặc điểm chung của một
đơn vị, bộ phận hoặc một tổng thể chung có cùng một tính chất.
1.2. Phơng pháp loại trừ:
Phơng pháp loại trừ là phơng pháp nhằm xác định mức độ ảnh hởng của từng
nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, bằng cách khi xác định sự ảnh hởng của nhân tố này
thì loại trừ ảnh hởng của các nhân tố khác.
Có hai phơng pháp thể hiện:
1
) = a
1
xb
1
xc
1
xd
1
Số liệu kỳ gốc : F
0
= f(a
0
,b
0
,c
0
,d
0
) = a
0
xb
0
xc
0
xd
0
Đối tợng phân tích : F = F
1
-F
1
x(b
1
-b
0
)xc
0
xd
0
Mức độ ảnh hởng của nhân tố c:
F(c) = a
1
xb
1
x(c
1
-c
0
)xd
0
Mức độ ảnh hởng của nhân tố d:
F(d) = a
1
xb
1
xc
1
x(d
1
-d
báo tài chính của doanh nghiệp.
Trờng hợp chỉ quan sát, đánh giá mối quan hệ giữa một nhân tố ảnh hởng đến
chỉ tiêu phân tích thì ta dùng phơng pháp hồi qui đơn.
Trờng hợp quan sát, đánh giá mối quan hệ giữa nhiều nhân tố ảnh hởng đến chỉ
tiêu phân tích thì ta dùng phơng pháp hồi qui bội.
Trên đây là bốn phơng pháp thờng vận dụng trong công tác phân tích cấu trúc tài
chính. Việc áp dụng phơng pháp nào trong bốn phơng pháp trên là tuỳ thuộc vào
đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, ngoài ra còn tuỳ
thuộc vào khả năng tổ chức phân tích, dự đoán và tổng hợp dự liệu của nhà phân
tích. Từ đó kết quả phân tích sẽ là cơ sở cho nhà quản trị ra quyết định trong hoạt
động của doanh nghiệp.
2. Nguồn tài liệu phục vụ cho công tác phân tích
2.1. Bảng cân đối kế toán:
Khái niệm: Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh
tổng quát tình hình tài sản của đơn vị theo hai mặt biểu hiện là kết cấu tài sản và
nguồn hình thành tài sản (nguồn vốn) dới hình thái tiền tệ tại một thời điểm nhất
định. Thời điểm đó thờng là ngày cuối kỳ hạch toán.
ý nghĩa: Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý
doanh nghiệp. Với các số liệu trên bảng cân đối kế toán, có thể phân tích tình hình
sử dụng vốn, khả năng huy động nguồn vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Điều này thể hiện:
7
Về mặt kinh tế: Số liệu phần tài sản trên bảng cân đối kế toán đợc dùng để
nghiên cứu, đánh giá một cách tổng quát qui mô và kết cấu tài sản của doanh
nghiệp. Còn số liệu phần nguồn vốn phản ánh các nguồn tài trợ cho tài sản, qua đó
có thể đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Về mặt pháp lý: Số liệu phần tài sản trên bảng cân đối kế toán thể hiện giá trị
tài sản hiện có mà doanh nghiệp có quyền quản lý và sử dụng phục vụ cho hoạt
động của doanh nghiệp. Còn phần nguồn vốn thể hiện phạm vi trách nhiệm và nghĩa
vụ của doanh nghiệp về các loại nguồn vốn với chủ nợ và chủ sở hữu.
động trong một môi trờng kinh doanh đợc cấu thành bởi nhiều nhân tố kinh tế khác
nhau. Vì vậy trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp không tránh khỏi quy luật tác
động qua lại của tự nhiên giữa doanh nghiệp với môi trờng kinh doanh. Cho nên khi
phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp cần đặt trong bối cảnh chung của nền
kinh tế trong nớc và các nớc trong khu vực. Các nhà phân tích thờng hay quan tâm
đến những thông tin nh: sự tăng trởng hay suy thoái kinh tế, tỷ lệ lạm phát, các
chính sách thuế , chính sách tiền tệ của nhà nớc Thông qua chúng, nhà phân tích
8
có thể rút ra tính chu kỳ của một số biến động kinh tế thờng xuất hiện, chẳng hạn
quan thời kỳ tăng trởng thì sẽ đến giai đoạn suy thoái và ngợc lại. Từ đó có thể dự
báo những nguy cơ hay cơ hội đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong tơng lai.
Nguồn thông tin theo ngành: Khi phân tích cấu trúc tài chính của doanh
nghiệp cần dựa vào những thông tin liên quan đến hoạt động chung của toàn ngành
nh: trình độ công nghệ, tính chất cạnh tranh, xu hớng vận động của ngành Những
thông tin này sẽ là cơ sở để đánh giá tiềm lực tài chính của từng ngành, lĩnh vực
kinh doanh và đánh giá rủi ro của doanh nghiệp.
Thông tin về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp đều
có đặc điểm kinh doanh riêng nh phơng hớng hoạt động, tính thời vụ, tính chu kỳ
của hoạt động hay mối liên hệ với nhà cung cấp, khách hàng Vì vậy khi phân tích
cần nắm rõ đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp để có những đánh giá hợp lý về
tình hình tài chính của doanh nghiệp.
III.> Nội dung phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp
1. Phân tích cấu trúc tài sản của doanh nghiệp:
Phân tích cấu trúc tài sản của doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng. Các
chỉ tiêu phân tích sẽ cho phép chúng ta đánh giá đợc tình hình phân bổ vốn cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tốt hay xấu, từ đó có thể điều chỉnh
cơ cấu sử dụng vốn ngày càng hợp lý hơn. Một doanh nghiệp nếu có cơ cấu vốn hợp
lý thì không chỉ sử dụng vốn có hiệu quả mà còn tiết kiệm đợc vốn trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
Chỉ tiêu này cho biết giá trị đầu t tài chính chiếm bao nhiêu % trong tổng tài sản
của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này đánh giá đợc tình hình đầu t của doanh nghiệp nh
thế nào, đồng thời so sánh giữa hiệu quả đầu t và đầu t tài chính của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu đầu t tài chính ở đây bao gồm đầu t chứng khoán, góp vốn liên doanh,
đầu t bất động sản và các khoản đầu t khác. Để chi tiết hơn, ngời ta phân chỉ tiêu
này thành hai loại:
Chỉ tiêu đầu t tài chính ngắn hạn: Đó là những khoản đầu t có thời gian thu hồi
không quá một năm nh: các chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn Các khoản
đầu t này có khả năng hoán chuyển thành tiền rất nhanh, vì vậy đôi khi nó đợc sử
dụng nh một công cụ thanh toán nhanh. Chỉ tiêu này càng cao phản ánh khả năng
tạo ra nguồn lợi tức trớc mắt cho doanh nghiệp càng lớn.
Chỉ tiêu đầu t tài chính dài hạn: có thời hạn thu hồi lớn hơn một năm. Ngợc lại
với đầu t ngắn hạn, chỉ tiêu các khoản đầu t tài chính dài hạn càng cao thể hiện khả
năng tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho doanh nghiệp càng cao.
Đầu t tài chính là một hình thức doanh nghiệp sử dụng để khơi thông nguồn vốn
dôi thừa, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đặc biệt trong bối cảnh hiện
nay, khi mà nền kinh tế nớc ta đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng với các
chính sách khuyến khích đầu t trong và ngoài nớc, đồng thời với việc hình thành thị
trờng chứng khoán ở Việt Nam thì hoạt động đầu t tài chính trong các doanh nghiệp
Việt Nam có xu hớng gia tăng và ngày càng phổ biến, đặc biệt là các doanh nghiệp
có qui mô lớn.
Với một doanh nghiệp có tỷ trọng đầu t tài chính lớn chứng tỏ tình hình tài
chính của doanh nghiệp đó là tốt, đồng thời cũng cho thấy mức độ liên kết tài chính
giữa doanh nghiệp với những doanh nghiệp khác, mở ra những cơ hội cho các hoạt
động tăng trởng bên ngoài của doanh nghiệp.
1.3. Tỷ trọng hàng tồn kho:
Hàng tồn kho là một bộ phận tài sản đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ
của doanh nghiệp đợc tiến hành liên tục. Tuy nhiên dự trữ hàng tồn kho ở mức nào
cho hợp lý luôn là vấn đề quan tâm của mọi doanh nghiệp. Bởi vì việc duy trì một
mức tồn kho quá nhiều hay quá ít đều ảnh hởng không tốt đến hiệu quả sử dụng vốn
cao vào thời kỳ mà nhu cầu về nó lớn nhất và ngợc lại.
Tính chất sản phẩm: những sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài thì tỷ trọng hàng
tồn kho cao.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: nếu công tác cung ứng sản
phẩm cho sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp đợc tổ chức tốt, đáp ứng kịp thời so
với nhu cầu của thị trờng thì giá trị chỉ tiêu này thấp.
Giai đoạn phát triển của doanh nghiệp: nếu doanh nghiệp đang ở trong giai
đoạn tăng trởng, khi mà doanh thu liên tục tăng cao thì lợng hàng tồn kho có thể đ-
ợc gia tăng để đáp ứng nhu cầu của thị trờng. Ngợc lại, trong giai đoạn suy thoái thì
chỉ tiêu này có khuynh hớng giảm.
1.4 Tỷ trọng khoản phải thu khách hàng:
Đây là một bộ phận tài sản phát sinh do doanh nghiệp bán chịu hàng hoá, dịch
vụ cho khách hàng. Chỉ tiêu này đợc xác định qua công thức:
Chỉ tiêu này cho biết giá trị khoản phải thu khách hàng chiếm bao nhiêu % trong
tổng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ vốn của doanh
nghiệp bị khách hàng chiếm dụng ngày càng nhiều. Hầu hết các doanh nghiệp đều
mong muốn chỉ tiêu này càng thấp càng tốt. Vì vậy doanh nghiệp cần có biện pháp
thúc đẩy quá trình thu hồi nợ của khách hàng. Tuy nhiên khi phân tích chỉ tiêu này
cần xét đến các nhân tố sau:
Phơng thức bán hàng của doanh nghiệp: là bán buôn hay bán lẻ.
Chính sách tín dụng của doanh nghiệp cũng nh mối quan hệ giữa doanh
nghiệp với khách hàng: nếu doanh nghiệp có thời hạn tín dụng dài, số dự nợ định
mức cho khách hàng cao thì các khoản phải thu khách hàng sẽ chiếm tỷ trọng lớn.
Đây là một hình thức kích thích tiêu thụ nên cần đánh giá tính hợp lý và hiệu quả
của nó khi áp dụng.
Hiệu quả của công tác thu hồi nợ: nếu tỷ trọng nợ phải thu khách hàng quá
cao không phải do phơng thức bán hàng hay chính sách tín dụng của doanh nghiệp
thì điều này thể hiện khả năng quản lý nợ của doanh nghiệp cha đợc tổ chức tốt.
Doanh nghiệp cần tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất biện pháp khắc phục kịp thời
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
TSCĐ thuê tài chính. Giá trị chỉ tiêu này phụ thuộc vào đặc điểm loại hình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là sản
xuất công nghiệp nặng thì tài sản cố định thờng chiếm tỷ trọng rất lớn, ngợc lại đối
với các doanh nghiệp thơng mại, dịch vụ thì giá trị tài sản cố định lại chiếm tỷ trọng
thấp. Trong trờng hợp này, để đánh giá tình hình đầu t cơ sở vật chất_kỹ thuật thì
các nhà phân tích phải sử dụng chỉ tiêu trung bình ngành. Ngoài ra chỉ tiêu này còn
chịu ảnh hởng của chu kỳ hoạt động, qui mô hoạt động, chính sách và nguồn vốn
đầu t dài hạn của doanh nghiệp
2. Phân tích cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp
2.1. Phân biệt các nguồn tài trợ:
Tỷ trọng tài sản
cố định
=
Giá trị tài sản cố định
Tổng tài sản
x
100%
Tỷ trọng tài sản
cố định
=
Nguyên giá tài sản cố định
Tổng tài sản
x
100%
Tỷ trọng tài sản
cố định
=
Giá trị còn lại tài sản cố định
Tổng tài sản
x
Nợ dài hạn bao gồm vay dài hạn, nợ dài hạn và nợ khác. Các khoản nợ dài hạn
đến hạn trả không thuộc mục này vì nó đợc xem nh nợ ngắn hạn.
Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn chỉ đợc sử dụng tạm thời vào hoạt động sản
xuất kinh doanh trong một năm hoặc trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Nguồn
vốn này có tính chất ngắn hạn và thờng đợc sử dụng để đầu t cho tài sản ngắn hạn
( TSLĐ, các khoản đầu t có tính chất ngắn hạn).
Nguồn vốn tạm thời = Nợ ngắn hạn
Nợ ngắn hạn gồm: nợ dài hạn đến hạn trả, vay ngắn hạn, phải trả ngời bán, nợ l-
ơng, thuế, bảo hiểm xã hội
2.2. Nội dung phân tích cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp
2.2.1. Phân tích tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp:
13
Tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp phản ánh khả năng chủ động về tài
chính của doanh nghiệp trong việc tài trợ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh và đầu t của mình, thể hiện qua các chỉ tiêu:
Tỷ suất nợ:
Nợ phải trả bao gồm các khoản nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ khác. Chỉ tiêu này
phản ánh mức độ tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp bởi các khoản nợ, từ đó cho
thấy trong tổng tài sản, thực chất có bao nhiêu % là thuộc sở hữu của doanh nghiệp.
Tỷ suất nợ càng cao thể hiện tính tự chủ của doanh nghiệp càng kém, bởi vì nó phản
ánh giá trị tài sản chủ yếu đợc tài trợ bởi nguồn vốn nợ phải trả, hay nói cách khác
mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ càng nhiều. Điều này cũng đồng
nghĩa với khả năng thanh toán của doanh nghiệp bị giảm sút, doanh nghiệp sẽ
không có khả năng thanh toán kịp thời các khoản nợ tới hạn một khi nợ cần thanh
toán ngày càng tăng. Đây là một dấu hiệu bất lợi cho doanh nghiệp trong tơng lai về
khả năng tiếp cận các khoản vay nợ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình, từ đó làm cho hiệu quả hoạt động bị kém đi. Đối với hầu hết các chủ nợ, họ
đều mong muốn đầu t vào một doanh nghiệp có tỷ suất nợ càng thấp càng tốt, điều
đó có nghĩa là khả năng thu hồi vốn vay và lãi của họ đối với là cao. Nh vậy, tỷ suất
nợ là cơ sở để các nhà đầu t đánh giá rủi ro và cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Tuy
=
Nợ phải trả
Nguồn vốn chủ sở hữu
x
100%
14
đối với các khoản nợ phải trả càng đợc đảm bảo, ngay cả khi doanh nghiệp hoạt
động bị thua lỗ. Do vậy, các chủ nợ thờng thích những doanh nghiệp có tỷ suất nợ
trên vốn chủ sở hữu thấp.
Trên đây là ba chỉ tiêu thờng đợc sử dụng trong phân tích tính tự chủ về tài
chính của doanh nghiệp. Từ những số liệu này sẽ là cơ sở để các nhà đầu t, các nhà
quản trị có thể lựa chọn một tỷ lệ hợp lý giữa nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn
vay nợ nhằm đảm bảo chi phí sử dụng vốn là thấp nhất.
2.2.2. Phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ.
Khi phân tích cấu trúc nguồn vốn, sự ổn định về nguồn tài trợ luôn là vấn đề đợc
chú trọng hàng đầu của mọi doanh nghiệp, nó quyết định đến hiệu quả và phơng h-
ớng hoạt động của doanh nghiệp trong lâu dài. Căn cứ vào thời hạn sử dụng và chi
phí sử dụng vốn, nguồn vốn của doanh nghiệp đợc chia làm hai loại: nguồn vốn th-
ờng xuyên và nguồn vốn tạm thời. Để phân tích sự ổn định về tài trợ, ngời ta xác
định hai chỉ tiêu dựa vào hai nguồn vốn này.
Tỷ suất nguồn vốn thờng xuyên cao chứng tỏ phần lớn nguồn vốn của doanh
nghiệp đợc tài trợ bởi nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu. Đây là hai chỉ tiêu mà
tính ổn định của nó đợc đảm bảo trong một thời gian nhất định (trên 1 năm), có
nghĩa là doanh nghiệp sẽ không chịu áp lực trong thanh toán về nguồn vốn sử dụng
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong ngắn hạn. Nh vậy, giá trị chỉ tiêu
tỷ suất nguồn vốn thờng xuyên càng cao thể hiện sự ổn định của nguồn tài trợ càng
tốt. Ngợc lại, khi tỷ suất nguồn vốn thờng xuyên thấp hay tỷ suất nguồn vốn tạm
thời cao chứng tỏ phần lớn nguồn tài trợ của doanh nghiệp là nợ ngắn hạn, áp lực về
x
100%
15
sở cho những quyết định của nhà đầu t trong việc có nên tiếp tục đảm bảo cung cấp
tín dụng cho doanh nghiệp hay không và nếu tiếp tục thì cung cấp ở mức nào để có
thể giảm thiểu rủi ro trong công tác thu hồi nợ. Còn đối với các nhà quản trị thì các
số liệu này sẽ là căn cứ để có thể dự đoán mức vay nợ hợp lý trong khả năng nợ của
mình sao cho đảm bảo chi phí sử dụng vốn là thấp nhất, từ đó có thể cải thiện cấu
trúc nguồn vốn lành mạnh hơn, tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp.
3. Phân tích cân bằng tài chính doanh nghiệp
3.1. Khái quát chung về cân bằng tài chính doanh nghiệp
Cân bằng tài chính là sự cân đối giữa tài sản và nguồn vốn. Cấu trúc tài sản cho
ta thấy tài sản của doanh nghiệp bao gồm hai phần lớn: TSCĐ có thời gian lu
chuyển trên một năm và TSLĐ có thời gian lu chuyển dới một năm. Còn cấu trúc
nguồn vốn thì liên quan đến vấn đề huy động vốn từ các nguồn khác nhau gắn với
những trách nhiệm pháp lý nhất định, cụ thể là trách nhiệm trong thanh toán nợ vay.
Đối với nguồn vốn chủ sở hữu tuy không chịu áp lực trong thanh toán nhng chi phí
sử dụng vốn chủ sở hữu lại phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp và kèm theo những rủi ro nhất định. Vì vậy vấn đề cần quan tâm là: khi vệc
sử dụng vốn luôn gắn liền với những chi phí nhất định thì nên quyết định đầu t vốn
đó vào mục đích gì, lúc nào, với qui mô và chi phí ra sao thì sẽ mang lại hiệu quả
cao nhất. Ngoài ra khi phân tích các nguồn huy động vốn của doanh nghiệp, ta có
thể thấy đợc khả năng tự chủ về tài chính và tính ổn định trong tài trợ của doanh
nghiệp. Nh vậy, có thể nói nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc tài sản và cấu trúc
nguồn vốn là nghiên cứu mối quan hệ tơng thích giữa việc huy động vốn và sử dụng
vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó chỉ ra sự an toàn, tính bền vững và cân
đối trong tài trợ và sử dụng vốn của doanh nghiệp. Các yếu tố này thể hiện cân bằng
tài chính của doanh nghiệp. Nội dung chính của cân bằng tài chính là thể hiện mối
quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn thông qua các phơng thức, chính sách tài trợ
TSCĐ và TSLĐ, khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối với các chủ nợ. Việc
nghiệp. Phơng pháp này thờng đợc sử dụng để phân tích bên ngoài về vốn lu động
của doanh nghiệp.
Vốn lu động ròng là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá cân bằng tài chính
của doanh nghiệp, từ công thức thứ hai có thể cho ta biết đợc TSCĐ của doanh
nghiệp có đợc tài trợ một cách vững chắc hay không?, doanh nghiệp có đủ khả năng
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không? Điều này thể hiện qua các trờng hợp sau:
Trờng hợp 1: VLĐR < 0 hay NVTX < TSCĐ & ĐTDH
Trong trờng hợp này, NVTX không đủ tài trợ cho TSCĐ và ĐTDH mà doanh
nghiệp phải dùng NVTT để bù đắp phần thiếu hụt. Điều này sẽ gây áp lực lớn cho
doanh nghiệp trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn. Cân bằng tài chính trong
trờng hợp này là khá nguy hiểm. Việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để thay thế chỉ
là một giải pháp tạm thời, nếu điều này xảy ra liên tục thì sự tồn tại của doanh
nghiệp sẽ bị đe doạ, doanh nghiệp có thể bị đẩy tới tình trạng là phải bán bớt hay
thanh lý TSCĐ để trang trải cho các khoản vay ngắn hạn. Vì vậy khi doanh nghiệp
đang ở trạng thái cân bằng tài chính này thì cần phải nhanh chóng tìm hiểu những
nguyên nhân nào tác động đến sự thay đổi của nguồn vốn thờng xuyên, sự tăng
(giảm) của TSCĐ và ĐTDH để có những điều chỉnh kịp thời, tạo ra một cân bằng
mới mang tính bền vững hơn.
Trờng hợp 2: VLĐR = 0 hay NVTX = TSCĐ & ĐTDH
Cân bằng tài chính tốt hơn so với trờng hợp 1 do NVTX đủ đáp ứng nhu cầu
TSCĐ và ĐTDH mà không cần phải sử dụng đến NVTT. Tuy nhiên trong thực tế thì
tốc độ tăng của TSCĐ tơng đối nhanh và không đồng bộ với NVTX nên rất dễ mất
cân đối. Vì vậy cân bằng tài chính trong trờng hợp này chỉ mang tính tạm thời, độ
an toàn cha cao và có nguy cơ mất tính bền vững.
Trờng hợp 3: VLĐR > 0 hay NVTX > TSCĐ & ĐTDH
Trong trờng hợp này, việc tài trợ từ các nguồn vốn dài hạn là tốt. Vì NVTX
không chỉ đáp ứng nhu cầu TSCĐ và ĐTDH mà còn sử dụng một phần để tài trợ
cho tài sản ngắn hạn. Ngoài ra, chỉ tiêu này dơng có nghĩa là TSLĐ > nợ ngắn hạn.
Điều đó chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt, có thể trang trải đợc các
khoản nợ ngắn hạn với tài sản quay vòng nhanh. Nh vậy, đây là một cân bằng tài
=
Hàng tồn
kho
+
Các
khoản
phải thu
-
Nợ ngắn hạn
(không tính vay
ngắn hạn)
Sở dĩ không tính vay ngắn hạn vì đây là nguồn vay có chỉ định, có mục đích và
đặc biệt là khi sử dụng lại phát sinh chi phí vốn.
Trong thực tế có các trờng hợp sau:
NCVLĐ ròng < 0 HTK+ Các khoản phải thu < Nợ ngắn hạn
Điều này cho thấy các khoản nợ ngắn hạn(không tính vay ngắn hạn) không
những đáp ứng đủ nhu cầu ngắn hạn của doanh nghiệp mà còn d thừa để tài trợ cho
các tài sản khác. Đây là một tình trạng rất tốt với doanh nghiệp bởi vì nó thờng chỉ
xảy ra trong trờng hợp khách hàng ứng trớc tiền hàng, khi đó các khoản phải thu
gần nh bằng 0, bên cạnh đó doanh nghiệp lại đợc các chủ nợ ngắn hạn cung cấp đủ
vốn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, hầu hết các doanh nghiệp
đều mong muốn nhu cầu VLĐ ròng <0.
NCVLĐ ròng > 0 HTK + Các khoản phải thu > Nợ ngắn hạn
Điều này thể hiện nợ ngắn hạn(không tính vay ngắn hạn) không đủ tài trợ cho
hàng tồn kho và các khoản phải thu của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp phải sử
dụng nguồn vốn dài hạn để bù đắp cho phần thiếu hụt trong nhu cầu VLĐ. Trờng
hợp này thờng xảy ra đối với các doanh nghiệp kinh doanh các hàng hoá mang tính
18
thời vụ hoặc có chu kỳ sản xuất dài. Ngoài ra, khi doanh nghiệp đang hoạt động
trong một nền kinh tế suy thoái, hàng hoá bị ứ đọng, khách hàng gặp khó khăn
đợc cung cấp, doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong việc xác định các nguồn vốn
cần huy động sao cho vừa đáp ứng đợc nhu cầu VLĐ, vừa giảm thiểu đợc chi phí sử
dụng vốn mà vẫn đảm bảo một trạng thái cân bằng tài chính an toàn.
Phần II: PHÂN TíCH CấU TRúC TàI CHíNH tại công ty vạn
tờng
19
a. giới thiệu khái quát về công ty vạn tờng
I.> Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Công ty Vạn Tờng là tiền thân của trung đoàn công binh 476 trực thuộc Bộ T
Lệnh Quân Khu V, đợc thành lập vào năm 1976. Lúc này, do đặc điểm của nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung, trung đoàn chỉ hoạt động mang tính cầm chừng, qui
mô hoạt động nhỏ, hẹp, cơ sở vật chất sơ sài, ít có hiệu quả. Nhiệm vụ chủ yếu của
công ty lúc bấy giờ là xây dựng các công trình phòng thủ quốc phòng, các công
trình dân dụng công nghiệp, giao thông mà quân đội và nhà nớc giao cho.
Khi đất nớc chuyển sang giai đoạn mới, tình hình kinh tế- chính trị, xã hội ổn
định cho phép chúng ta phát triển kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
mà trớc mắt là việc đầu t, phát triển cơ sở hạ tầng trên tất cả các lĩnh vực. Chính
điều này đã kéo theo sự ra đời của hàng loạt các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực xây dựng cơ bản tạo nên một môi trờng cạnh tranh khá gây gắt và phức tạp.
Điều này càng đem lại bất lợi cho công ty khi phải hoạt động trong một môi trờng
nh vậy trong điều kiện khả năng về vốn của công ty còn nhiều hạn chế, năng lực
trang thiết thi công và đội ngũ cán bộ kỹ thuật thợ bậc cao đang còn thiếu, việc thực
hiện qui chế đấu thầu trong xây dựng cơ bản theo qui định của chính phủ đã ảnh h-
ởng trực tiếp đến việc tiếp nhận thi công công trình. Đứng trớc tình hình đó, nhờ sự
nổ lực và đồng tâm của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty cùng với sự
lãnh đạo sáng suốt của ban giám đốc đã từng bớc đa công ty đi qua những khó
khăn, tiếp tục đứng vững trên thơng trờng.
Để có đợc vị trí nh ngày hôm nay, trong những năm qua công ty đã không
ngừng củng cố và xây dựng phơng thức hoạt động sản xuất kinh doanh cho phù hợp
với đặc điểm của công ty, khai thác thị trờng để tạo công ăn việc làm cho cán bộ
Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
- Tổng doanh thu
- Lợi nhuân trớc thuế
- Nộp thuế cho ngân sách
-Thu nhập bình quân
CBCNV
- Số lợng CBCNV
117.570.191.000
2.179.603.000
(2.181.089.000)
930.238
2016 ngời
137.255.230.000
3.493.790.000
2.024.180.000
1.148.782
2436 ngời
170.331.092.000
5.002.076.000
(903.854.000)
1.215.221
3018 ngời
II.> Chức năng, nhiệm vụ của công ty Vạn tờng
1. Chức năng của công ty:
Với t cách là một doanh nghiệp xây dựng cơ bản nhà nớc thuộc diện kinh tế
quốc phòng trực thuộc Bộ T Lệnh Quân Khu V, chức năng chủ yếu của công ty là
chuyên kinh doanh xây lắp các công trình xây dựng cơ bản do quân đội và nhà nớc
giao cho, tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các doanh nghiệp nói riêng và cho toàn
bộ nền kinh tế quốc doanh nói chung, góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế của
đất nớc trong tiến trình hội nhập kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
của các bộ phận trong công ty, công ty đã xây dựng mô hình tổ chức sản xuất kinh
doanh nh sau:
Chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị sản xuất:
Xí nghiệp 378:
Xí nghiệp 491:
Xí nghiệp 203:
Các đội, phân xởng trực thuộc: bao gồm:
Các đội xây lắp, điện: đội 1,2,5,6,7,9,10,11
Các đội sản xuất vật liệu: đội 12,14
Phân xởng cơ khí máy xây dựng
Đội xe máy thi công công trình: đội 13
Các đội dò tìm, xử lý bom mìn: đội 15,16,17
Xí nghiệp khảo sát- thiết kế:
Nhà khách: đợc xây dựng nhằm phục vụ chỗ ăn ở cho cán bộ trong ngành ở nơi
khác đến công tác. Bên cạnh nhiệm vụ chủ yếu đó, công ty còn tận dụng để kinh
doanh dịch vụ cho thuê hội trờng, phòng ở.
2. Những thuận lợi và khó khăn trong kinh doanh hiện nay:
2.1. Những thuận lợi:
Tình hình kinh tế-chính trị xã hội ổn định cho phép đất nớc thực hiện phát triển
kinh tế theo hớng CNH và HĐH mà trớc mắt là việc đầu t phát triển cơ sở hạ tầng
trên tất cả các lĩnh vực. Điều này cho thấy lĩnh vực hoạt động của công ty đang có
nhiều thuận lợi về thị trờng việc làm và mang tính lâu dài.
Cơ sở vật chất- kỹ thuật của công ty ngày càng đợc trang bị đầy đủ hơn. Đặc
biệt trong những năm qua, công ty đã không ngừng nổ lực trong việc mở rông qui
mô hoạt động và hiện nay đã có điạ bàn trải rộng trên khắp các tỉnh thành trong cả
nớc.
Xí
nghiệp
491
Xí
thu hồi công nợ của công ty.
Cơ chế tín dụng của ngân hàng có nhiều thay đổi cũng làm ảnh hởng đến việc
vay vốn đảm bảo cho thi công công trình.
Ngoài ra, năng lực tổ chức quản lý của một số cán bộ cấp cơ sở còn hạn chế,
việc phân công phân nhiệm cho cán bộ nhân viên thuộc quyền cha tốt nên có một số
đơn vị hoàn thành nhiệm vụ cha cao làm ảnh hởng đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của công ty.
IV.> đặc điểm tổ chức quản lý của công ty
1. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại công ty
Cơ cấu tổ chức của công ty hiện nay đợc tổ chức theo kiểu chức năng. Chịu
trách nhiệm quản lý cao nhất tại công ty về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
là ban giám đốc. Dới ban giám đốc là trởng phòng của các phòng ban chức năng
chịu trách nhiệm tham mu cho việc ra quyết định của ban giám đốc, đồng thời trực
tiếp quản lý toàn bộ hệ thống trực tuyến của công ty. Có thể mô tả bộ máy quản lý
tại công ty Vạn Tờng qua sơ đồ sau:
2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban
Ban giám đốc: là cấp quản lý cao nhất của công ty, trực tiếp quản lý sản xuất
kinh doanh và chịu trách nhiệm trớc cơ quan nhà nớc và các tổ chức cá nhân có liên
quan về tình hình và hiệu quả kinh doanh của công ty.
Ban giám đốc công ty
Phòng
kế
hoạch-
kinh
doanh
Phòng
kỹ thuật-
dự toán
Phòng
tài
tăng giảm tài sản và nguồn vốn, tổng hợp, quyết toán tài chính quý, năm, lập báo
cáo theo quy định, phản ánh kịp thời tình hình sản xuất kinh doanh tại Công ty và ở
các đơn vị trực thuộc, xác định kết quả cuối cùng của một kỳ kinh doanh, xác định
giá trị của tất cả các tài sản và nguồn vốn của Công ty tại các thời điểm cần thiết
Ngoài ra, còn đại diện cho Công ty thực hiện nghĩa vụ với Nhà Nớc trong việc nộp
ngân sách, cung cấp thông tin chính xác cho phòng kinh doanh và ban giám đốc,
lập các báo cáo kế toán, quyết toán với Nhà Nớc vào cuối quý, cuối năm.
Phòng quản lý dò tìm và xử lý bom mìn, vật nổ: lập các hồ sơ đấu thầu, hồ sơ dự
toán về hoạt động xử lý bom mìn. Quản lý toàn bộ hoạt động thi công, rào phá bom
mìn từ việc lập kế hoạch chi phí cho đến việc tổ chức thực hiện và bớc cuối cùng là
xác định kết quả kinh doanh.
Ban chính trị: quản lý các tổ chức chính trị của công ty nh công đoàn, thanh
niên, phụ nữ ,đề xuất sắp xếp công tác cho cán bộ công nhân viên trong công ty.
Ban hành chính: phụ trách công tác hành chính tổng hợp, quản lý trang thiết bị,
cơ sở vật chất tại cơ quan công ty. Căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ của Công ty để
tổ chức nhiệm vụ và công việc cho từng cán bộ công nhân viên tinh gọn và hợp lý.
Tổ chức quản lý bồi dỡng, bố trí sử dụng lao động phù hợp hơn, trên cơ sở này xây
dựng đơn giá tiền lơng, tiền thởng cho từng cấp bậc lao động hợp lý và đảm bảo yêu
cầu về công tác hành chính quản trị, phục vụ tốt điều kiện làm việc và công tác
trong quá trình sản xuất - kinh doanh của Công ty.
Ban lao động- tiền lơng: quản lý về tiền lơng và các khoản trích theo lơng cho
cán bộ công nhân viên, đồng thời theo dõi giờ công lao động, ngày làm việc, tăng
ca, nghỉ phép Chịu trách nhiệm về công tác quản lý về lao động và tiền lơng cho
cán bộ công nhân viên của công ty.
Mối quan hệ giữa các phòng, ban công ty, và đơn vị cơ sở là mối quan hệ chức
năng, cùng phối hợp cung cáp và trao đổi thông tin để tạo điều kiện thuận lợi cho
mỗi đơn vị hoàn thành nhiệm vụ của mình đồng thời cùng chịu sự lãnh đạo trực tiếp
của ban lãnh đạo công ty.
V.> đặc điểm Tổ chức kế toán của công ty
1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán của công ty:
định các hồ sơ về xây dựng cơ bản hoàn thành liên quan đến nguồn kinh phí và các
dự án đầu t của công ty. Trực tiếp theo dõi việc tiến hành các thủ tục về bảo lãnh
Kế toán tr|ởng
(Tr|ởng phòng)
Kế toán
thanh toán
(Phó phòng)
Kế toán
ngân
hàng, thủ
quỹ
Kế toán
tổng hợp
Kế toán
TSCĐ và
công nợ
Kế toán
thuế
Kế toán
hoạt động
rào phá
bom mìn
25
hợp đồng, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh tạm ứng và lập các dự án vay vốn đầu t với
ngân hàng để trình ký duyệt.
Kế toán tổng hợp: Là ngời tham mu và chịu trách nhiệm trớc kế toán trởng về
những sai sót trong quá trình lập báo cáo kế toán. Tổng hợp, xử lý các chứng từ để
phản ảnh vào sổ kế toán theo chế độ qui định của nhà nớc và quân đội. Căn cứ sổ
sách chi tiết và các sổ tổng hợp lập báo cáo cho bộ phận văn phòng, nhận các báo
cáo từ các đơn vị trực thuộc, lập các báo cáo chung cho toàn Công ty. Tham gia
2. Hình thức kế toán áp dụng tại công ty
Hệ thống các chứng từ, biểu mẫu ghi chép hạch toán ban đầu nh: hoá đơn
GTGT, phiếu nhập, xuất nguyên vật liệu, phiếu thu, phiếu chi, đợc qui định rõ dựa
trên hệ thống các chứng từ do Nhà Nớc ban hành. Mọi chứng từ ban đầu phát sinh
đều phải có chữ kí của giám đốc và kế toán trởng mới có giá trị pháp lý và làm cơ
sở cho việc hạch toán vào các sổ sách có liên quan.
Hình thức kế toán áp dụng tại công ty là hình thức Chứng Từ-Ghi Sổ. Các loại sổ
sách đợc sử dụng tại công ty bao gồm: sổ, thẻ chi tiết, các bảng tổng hợp chi tiết,
bảng tổng hợp chứng từ gốc, chứng từ-ghi sổ, sổ cái và các loại sổ sách cần thiết