Lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty cổ phần kiểm toán và tư vấn a&c - Pdf 95

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIÊU
LỜI MỞ ĐẦU 3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay trong xu thế hội nhập quốc tế, sự phát triển của mỗi quốc gia đều gắn
liền và quan hệ chặt chẽ với cộng đồng quốc tế và khu vực. Mỗi thay đổi về kinh tế,
chính trị đều ảnh hưởng đến các quốc gia. Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều lợi
ích dài hạn, nhưng trước mắt đặt ra không ít thách thức đối với nền kinh tế quốc gia.
Việt Nam đã gia nhập AFTA và đang trong lộ trình cắt giảm thuế quan. Việt Nam
cũng chính thức trở thành thành viên thứ 21 của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á -
Thái Bình Dương (APEC). Trong khuôn khổ APEC, Việt Nam đã đưa ra kế hoạch
hành động quốc gia mang tính tự do hoá thương mại và đầu tư vào năm 2020. Hiệp
định thương mại Việt - Mỹ cũng đã được ký kết và có hiệu lực từ năm 2001. Việt
Nam đang tích cực đàm phán và chuẩn bị các điều kiện để sớm gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO).
Thị trường kiểm toán cũng không nằm ngoài xu thế đó.Vì vậy, để chuẩn bị cho
nền kinh tế hội nhập và phát triển các Công ty kiểm toán phải không ngừng nâng cao
chất lượng dịch vụ cung cấp cho các khách hàng. Bất kỳ một cuộc kiểm toán nào cũng
được thực hiện theo trình tự thống nhất trong đó kế hoạch kiểm toán là bước đầu tiên
của quy trình kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán đúng đắn là cơ sở để kiểm toán viên thu
thập bằng chứng có giá trị góp phần đưa ra các nhận xét chính xác về thực trạng hoạt
động của đơn vị được kiểm toán, giữ vững và nâng cao uy tín và hình ảnh của Công ty
kiểm toán đối với khách hàng. Chính vì vậy, việc tìm hiểu và hoàn thiện Giai đoạn
Lập kế hoạch trong kiểm toán báo cáo tài chính là một vấn đề cần được quan tâm hiện
nay của các Bộ, ban, ngành, các tổ chức cũng như các Công ty kiểm toán. Đó chính là
lý do em chọn đề tài “Lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán Báo cáo tài
chính tại Công ty Cổ Phần Kiểm toán và Tư vấn A&C” làm đề tài cho Báo cáo

trình thực hiện tại Công ty Cổ Phần Kiểm toán và Tư vấn A&C. Tuy nhiên do thời
gian nghiên cứu hạn hẹp, trình độ và những kinh nghiệm thực tế chưa được tích lũy
nhiều nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được các thầy
cô giáo trong Khoa Kế toán- Kiểm toán và các cô chú, anh chị trong Công ty Cổ Phần
Kiểm toán và Tư vấn A&C đóng góp ý kiến để chuyên đề thực tập của em được hoàn
thiện hơn.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn Cô giáo Th.s Bùi Thị Minh Hải và Giám
đốc chi nhánh Công ty Cổ Phần Kiểm toán và Tư vấn A&C tại Hà Nội – Bà Nguyễn
Thị Hồng Thanh cùng toàn thể các anh chị kiểm toán viên, các nhân viên phòng hành
chính trong Công ty đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong giai đoạn thực tập tốt
nghiệp vừa qua.
Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2006
Sinh viên thực hiện
Vũ Quỳnh Hương
PHẦN 1
  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TRONG QUY
TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Tổng quan về kiểm toán báo cáo tài chính
1.1.1 Khái niệm, các đặc điểm chung và mục tiêu của kiểm toán tài chính
Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán và nằm trong hệ
thống kiểm toán nói chung. Kiểm toán tài chính được định nghĩa như sau:
“ Kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán
nhằm xác minh và bày tỏ ý kiến về các Bảng khai tài chính do các kiểm toán viên
chuyên nghiệp tiến hành theo luật định.”
Kiểm toán tài chính chứa đựng đầy đủ “sắc thái kiểm toán” ngay từ khi ra đời
cũng như trong quá trình phát triển. Đặc trưng cơ bản của kiểm toán tài chính bắt
nguồn từ chính đối tượng kiểm toán tài chính và từ quan hệ chủ thể - khách thể kiểm
toán. Mối quan hệ giữa kiểm toán tài chính với toàn bộ hệ thống kiểm toán là mối
quan hệ giữa cái riêng và cái chung: cái riêng nằm trong cái chung song cái chung

kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng Báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở
chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật
liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay
không?”. Mục tiêu của kiểm toán tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy
rõ những tồn tại, sai sót nhằm khắc phục và nâng cao chất lượng thông tin tài chính
của đơn vị. (Khoản 3, 16).
Mục tiêu của kiểm toán tài chính gồm có 2 loại mục tiêu: mục tiêu chung và mục
tiêu đặc thù. Các mục tiêu kiểm toán chung lại được chia thành hai loại cụ thể là sự
hợp lý chung và các mục tiêu khác.
Mục tiêu hợp lý chung bao hàm việc xem xét, đánh giá tổng thể số tiền ghi trên
các khoản mục trên cơ sở cam kết chung về trách nhiệm của nhà quản lý và thông tin
thu được qua khảo sát thực tế ở khách thể kiểm toán trong quan hệ với việc lựa chọn
các mục tiêu chung khác.
1.1.2 Phương pháp kiểm toán trong kiểm toán tài chính
Do đặc điểm của đối tượng kiểm toán, kiểm toán tài chính thường sử dụng tổng
hợp các phương pháp kiểm toán cơ bản, nhằm tìm hiểu và đánh giá tình hình hoạt
động cùng hiệu quả hệ thống kiểm soát nội bộ, trong đó phân thành hai loại là phương
pháp kiểm toán chứng từ (cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu lôgic) và phương
pháp kiểm toán ngoài chứng từ (điều tra, kiểm kê, thực nghiệm).
Xét theo chức năng chung của kiểm toán, kiểm toán tài chính hướng tới việc bày
tỏ các ý kiến trên cơ sở các bằng chứng kiểm toán, để có được các bằng chứng này,
kiểm toán tài chính cần triển khai các phương pháp cơ bản trong từng tình huống cụ
thể, được gọi là phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán.
Ngoài ra, khi xét về đối tượng cụ thể của kiểm toán tài chính là các Báo cáo kế
toán và các bảng tổng hợp tài chính khác, vừa chứa đựng những mối quan hệ kinh tế
tổng quát, vừa phản ánh cụ thể các khoản mục, kiểm toán tài chính phải hình thành
những trắc nghiệm với việc sử dụng liên hoàn các phương pháp cơ bản để đưa ra ý
kiến đúng đắn về các bảng tổng hợp này.
1.1.3 Trình tự kiểm toán tài chính
Do đặc điểm về đối tượng, về quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán nên

pháp lý cụ thể. Đối với kiểm toán độc lập, việc thực hiện kiểm toán dựa trên cơ sở tự
nguyện, xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp cần có BCTC được kiểm toán. Mục
tiêu cụ thể của kiểm toán sẽ được xác định theo thỏa thuận giữa đơn vị (khách thể) với
công ty kiểm toán độc lập. Đối với KTNN, khi tiến hành kiểm toán là kế hoạch kiểm
toán hàng năm do KTNN xây dựng và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Quyết
định kiểm toán doanh nghiệp nhà nước là do Tổng kiểm toán ký, là điều kiện tiên
quyết để bắt đầu 1 cuộc kiểm toán. Quyết định kiểm toán mang tính chất bắt buộc đối
với tổ chức và đơn vị kinh tế nhà nước được lựa chọn kiểm toán, thể hiện quyền của
người sở hữu (Nhà nước) đối với các đối tượng được giao quyền quản lý hoặc sử dụng
tài sản, nguồn vốn từ ngân sách cấp.
Chính vì thế, lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên nằm trong quy trình
kiểm toán BCTC mà các kiểm toán viên cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán
nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như các điều kiện cần thiết khác cho kiểm
toán. Chuẩn mực kiểm toán đầu tiên về thực hành đã được thừa nhận đòi hỏi quá trình
lập kế hoạch phải đầy đủ “Công tác kiểm toán phải được lập kế hoạch đầy đủ và các
trợ lý, nếu có phải được giám sát đúng đắn” (Chuẩn mực kiểm toán thứ tư trong 10
Chuẩn mực Kiểm toán được thừa nhận rộng rãi – GAAS).
Có ba lý do chính khiến kiểm toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán một cách
đúng đắn: thứ nhất, để giúp cho kiểm toán viên có thể thu được những bằng chứng có
giá trị và đầy đủ các tình huống; thứ hai, để giúp giữ các chi phí kiểm toán ở mức hợp
lý; thứ ba và để tránh những bất đồng với khách hàng. Thu được bằng chứng có giá trị
và đầy đủ là điều quan trọng nếu công ty kiểm toán muốn giảm thiểu tối đa trách
nhiệm pháp lý và giữ vững tiếng tốt trong cộng đồng nghề nghiệp. Giữ chi phí ở mức
hợp lý giúp cho công ty đủ sức cạnh tranh và do đó giữ được khách hàng nếu công ty
đã có danh tiếng vì thực hiện công việc có chất lượng. Tránh những bất đồng với
khách hàng có tầm quan trọng đối với việc duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng và
tạo điều kiện thực hiện cuộc kiểm toán có chất lượng và chi phí hợp lý.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 – Lập kế hoạch kiểm toán đã quy định
cụ thể về công tác lập kế hoạch kiểm toán như sau:
“ Kế hoạch kiểm toán phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán. Kế hoạch kiểm

công việc kiểm toán đã và đang thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả
của cuộc kiểm toán, từ đó thắt chặt hơn mối quan hệ giữa công ty kiểm toán và khách
hàng.
Kế hoạch kiểm toán thấu đáo giúp cho kiểm toán viên chú ý đúng mức vào các
điểm “nút” quan trọng của kiểm toán. Những phần có thể có rủi ro, những vấn đề cần
được nhận dạng và nhữg công việc phải được hoàn tất chóng vánh. Kế hoạch kiểm
toán thích hợp là căn cứ để công ty kiểm toán tránh xảy ra những bất đồng đối với
khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch đã lập, kiểm toán viên thống nhất với các khách
hàng về nội dung công việc sẽ thực hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như là
trách nhiệm của mỗi bên…Điều này tránh hiểu lầm đáng tiếc của mỗi bên.
 Trình tự lập kế hoạch trong kiểm toán Báo cáo tài chính
Chuẩn mực kiểm toán đòi hỏi kiểm toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán để
trợ giúp cho cuộc kiểm toán tiến hành có hiệu quả và đúng hạn. Kế hoạch kiểm toán
phải dựa trên cơ sở những hiểu biết về đặc điểm hoạt động kinh doanh của khách hàng
và được xây dựng tuỳ thuộc theo quy mô, độ phức tạp của công việc kiểm toán, kinh
nghiệm của kiểm toán viên…
Theo đoạn 2, VSA 300 – lập kế hoạch kiểm toán: “Kiểm toán viên và công ty
kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán để đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành
một cách có hiệu quả.”
Do đó, lập kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách khoa học và thống nhất
theo chuẩn mực chung được thừa nhận rộng rãi, quá trình này bao gồm 3 bộ phận:
 Lập kế hoạch chiến lược.
 Lập kế hoạch tổng thể.
 Thiết kế chương trình kiểm toán.
Lập kế hoạch chiến lược là bước đầu tiên mà kiểm toán viên và công ty kiểm
toán cần thực hiện trong các cuộc kiểm toán. Với chiến lược được vạch ra cho mỗi
cuộc kiểm toán, kiểm toán viên sẽ lập kế hoạch tổng thể. Kế hoạch tổng thể là cơ sở
để lập chương trình kiểm toán.
Kế hoạch tổng thể được lập cho mọi cuộc kiểm toán cụ thể trong đó mô tả
phạm vi dự kiến và cách thức tiến hành công việc kiểm toán.

thực hiện cuộc kiểm toán, việc phân bổ tổ, nhóm kiểm toán một cách rõ ràng, thuận
tiện cho việc kiểm toán cũng như chỉ đạo kiểm toán của trưởng nhóm;
 Thứ hai, quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán sẽ được tiến hành đúng dự
kiến theo một trật tự và phạm vi được xác định, tiết kiệm thời gian;
 Thứ ba, có phương pháp, kỹ thuật kiểm toán phù hợp với từng loại công việc đã
được dự tính từ trước;
 Cuối cùng, xác định thời gian và số lượng kiểm toán viên cần thiết cho toàn bộ
cuộc kiểm toán.
Như vậy, vai trò của lập kế hoạch chiến lược là vạch ra mục tiêu, định hướng
cơ bản, nội dung trọng tâm, phương pháp tiếp cận và tiến trình của cuộc kiểm toán.
1.2.2.2 Nội dung lập kế hoạch chiến lược
Kế hoạch chiến lược được lập cho các cuộc kiểm toán lớn về qui mô, tính chất
phức tạp, địa bàn rộng hoặc kiểm toán báo cáo tài chính nhiều năm. Kế hoạch chiến
lược do người phụ trách cuộc kiểm toán lập và được Giám đốc (hoặc người đứng đầu)
đơn vị phê duyệt. Nhóm kiểm toán phải tuân thủ các quy định của công ty và phương
hướng mà Giám đốc đã duyệt trong kế hoạch chiến lược. Trong quá trình lập kế hoạch
kiểm toán tổng thể và thực hiện kiểm toán nếu phát hiện những vấn đề khác biệt với
nhận định ban đầu của Ban giám đốc thì phải báo cáo kịp thời cho Ban Giám đốc để
có những điều chỉnh phù hợp.
Nội dung và các bước công việc chủ yếu của công việc lập kế hoạch chiến lược
được quy định cụ thể trong VSA 300 như sau:
Bước 1: Xem xét tình hình kinh doanh của khách hàng (tổng hợp thông tin về
lĩnh vực hoạt động, loại hình doanh nghiệp, hình thức sở hữu, công nghệ sản xuất, tổ
chức bộ máy quản lý và thực tiễn hoạt động của đơn vị) đặc biệt lưu ý đến những nội
dung chủ yếu như: Động lực cạnh tranh, phân tích thái cực kinh doanh của doanh
nghiệp cũng như các yếu tố về sản phẩm, thị trường tiêu thụ, giá cả và các hoạt động
hỗ trợ sau bán hàng
Lập kế hoạch
chiến lược
Tìm hiểu tình hình kinh

sát, kiểm tra
Lập chương
trình kiểm toán
Xác định tài liệu yêu cầu
khách hàng chuẩn bị
Các vấn đề khác
Xác định các mục tiêu
kiểm toán đặc thù
Thiết kế các thủ tục phân
tích
Thiết kế các thủ tục kiểm
toán chi tiết
Xác định các thủ tục kiểm
toán bổ sung
Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ khái quát nội dung và trình tự các bước công việc
trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
Bước 2: Xác định những vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính như chế
độ kế toán, chuẩn mực kế toán áp dụng, yêu cầu về lập báo cáo tài chính và quyền hạn
của công ty.
Bước 3: Xác định vùng rủi ro chủ yếu của doanh nghiệp và ảnh hưởng của nó
tới báo cáo tài chính (đánh giá ban đầu về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát).
Bước 4: Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ.
Bước 5: Xác định các mục tiêu kiểm toán trọng tâm và phương pháp tiếp cận
kiểm toán.
Bước 6: Xác định nhu cầu về sự hợp tác của các chuyên gia: Chuyên gia tư vấn
pháp luật, kiểm toán viên nội bộ, kiểm toán viên khác và các chuyên gia khác như kỹ
sư xây dựng, kỹ sư nông nghiệp
Bước 7: Dự kiến nhóm trưởng và thời gian thực hiện.
Bước 8: Giám đốc duyệt và thông báo kế hoạch chiến lược cho nhóm kiểm
toán. Căn cứ kế hoạch chiến lược đã được phê duyệt, trưởng nhóm kiểm toán lập kế

Trong một lĩnh vực phải chịu nhiều cạnh tranh như kiểm toán, việc có và giữ
được một khách hàng tuy có thể khó khăn, thế nhưng kiểm toán viên vẫn cần thận
trọng khi quyết định tiếp nhận khách hàng. Bởi lẽ, rủi ro có thể phải nhận trách nhiệm
pháp lý của kiểm toán viên rất cao, do đó nếu nhận kiểm toán cho những khách hàng
thiếu trung thực, hoặc thường tranh luận về phạm vi kiểm toán và giá phí hoặc nếu vi
phạm đạo đức nghề nghiệp, kiểm toán viên có thể sẽ gặp phải những bất lợi nghiêm
trọng trong tương lai…Chính vì thế, đoạn 12 VSA 220 – Kiểm soát chất lượng hoạt
Chuẩn bị kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin pháp lý của khách hàng và thực hiện thủ tục phân tích
Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Tìm hiểu hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập KHKT toàn diện và soạn thảo chương trình kiểm toán
động kiểm toán – nêu rõ:“…Trong quá trình duy trì khách hàng hiện có và đánh giá
khách hàng tiềm năng, Công ty kiểm toán phải cân nhắc đến tính độc lập, năng lực
phục vụ khách hàng của Công ty kiểm toán và tính chính trực của Ban quản lý khách
hàng”.
Vì thế nên khi được mời kiểm toán, Công ty kiểm toán phải phân công cho
những kiểm toán viên nhiều kinh nghiệm để thẩm định về khả năng đảm nhận công
việc cũng như dự kiến về thời gian và phí kiểm toán.
 Đối với khách hàng mới
Trước hết, kiểm toán viên cần tìm hiểu lý do mời kiểm toán của khách hàng,
thu thập thông tin về các khía cạnh như lĩnh vực kinh doanh, thu thập thông tin về các
khía cạnh như lĩnh vực kinh doanh, tình trạng tài chính. Kiểm toán viên phải tăng
cường lượng thông tin thu thập khi mà báo cáo tài chính của khách hàng sẽ được sử
dụng rộng rãi, nhất là đối với các công ty cổ phần có niêm yết trên thị trường, những
Công ty có nhiều công nợ…kiểm toán viên cũng cần thu thập thông tin từ các ngân
hàng dữ liệu, từ báo chí, sách báo chuyên ngành…
Trong trường hợp đã có kiểm toán viên tiền nhiệm, kiểm toán viên phải tiếp
xúc với họ và do nguyên tắc bảo mật nên họ chỉ có thể trả lời các câu hỏi của kiểm

hướng tới hiệu quả của cuộc kiểm toán mà còn tuân thủ các Chuẩn mực Kiểm toán
chung được thừa nhận (GAAS). Chuẩn mực Kiểm toán đầu tiên nêu rõ “quá trình
kiểm toán phải được thực hiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ
thành thạo như một kiểm toán viên”.
1
Do đó, khi phân công kiểm toán viên, Công ty kiểm toán cần tuân thủ yêu cầu
trên. Ngoài ra, đối với các khách hàng lâu năm, Công ty kiểm toán nên hạn chế việc
thường xuyên thay đổi kiểm toán viên, nhằm giúp cho họ nắm vững được những nét
đặc thù trong kinh doanh, duy trì được mối liên hệ mật thiết giữa hai bên…Mặt khác,
Công ty kiểm toán phải có chính sách luân chuyển kiểm toán viên để tránh việc quá
quen thuộc với khách hàng, dễ dẫn đến sức ỳ về tâm lý và kiểm tra theo lối mòn, hoặc
mất đi tính khách quan, độc lập…
1.2.3.1.3 Thỏa thuận sơ bộ với khách hàng
Khi thấy rằng có thể nhận lời mời kiểm toán, kiểm toán viên sẽ trao đối và thỏa
thuận sơ bộ với khách hàng về một số vấn đề, chẳng hạn như:
- Mục đích và phạm vi kiểm toán: ví dụ như kiểm toán để xin vay tiền ngân
hàng, để cổ phần hóa…Các dịch vụ khác mà kiểm toán viên có thể phục vụ khách
hàng, như góp ý để cải tiến kiểm soát nội bộ, tư vấn quản lý…
- Việc cung cấp tài liệu kế toán và các phương tiện cần thiết cho cuộc kiểm
toán của khách hàng.
- Vấn đề sử dụng nhân viên của khách hàng để tiết kiệm thời gian và phí kiểm
toán.
- Vấn đề kiểm tra số dư đầu kỳ đối với các khách hàng mới.
- Phí kiểm toán…
Trong quá trình này, kiểm toán viên cần chú ý trình bày rõ về những nét đặc
thù của kiểm toán Báo cáo tài chính để tạo sự thống nhất về nhận thức giữa đôi bên.
1
Đoạn 6 ISA 220
Điều này có ý nghĩa quan trọng ở Việt Nam, bởi lẽ nhiều nhà quản lý còn chưa hiểu
biết về hoạt động này, và do còn có những vấn đề pháp lý của hoạt động kiểm toán

Trong hợp đồng, kiểm toán viên cần nêu rõ loại báo cáo kiểm toán được phát
hành sẽ tùy vào mức độ trung thực và hợp lý, phù hợp với các chuẩn mực và chế độ
kế toán hiện hành. Đồng thời, cần khẳng định với đơn vị là kiểm toán viên không có
trách nhiệm phát hiện mọi sai sót , vì rằng “Giám đốc (hoặc người đứng đầu đơn vị
chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc ngăn chặn, phát hiện và xử lý các gian lận và sai
sót trong đơn vị thông qua việc xây dựng và duy trì thực hiện thường xuyên hệ thống
kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp” ( VSA 240 – Gian lận và sai sót).
Sau khi hai bên ký kết và đã hoàn tất mọi thủ tục pháp lý cần thiết, Công ty
kiểm toán sẽ chính thức trở thành kiểm toán viên của đơn vị. (Phụ lục minh họa biểu
mẫu của một hợp đồng kiểm toán.)
1.2.3.2 Thu thập thông tin cơ sở
Mỗi ngành nghề kinh doanh đều có những đặc điểm riêng biệt, chính đặc điểm
đó ảnh hưởng đến các nguyên tắc kế toỏn đặc thự. Hơn nữa, việc hiểu thấu đáo về
hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng như ngành nghề mà khách hàng đang hoạt
động đó giúp cho kiểm toán viên phân biệt được các sự kiện, nghiệp vụ, thực tiễn và
xét đoán chính xác các thông tin tài chính.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 310 - Hiểu biết về tình hình kinh doanh đó
hướng dẫn: “ Để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải có hiểu
biết cần thiết, đầy đủ về tình hình kinh doanh nhằm đánh giá và phân tích được các
sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị được kiểm toán mà theo kiểm
toán viên thì có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra của
kiểm toán viên hoặc đến báo cáo kiểm toán”
2
.
Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế ISA 310 – Tìm hiểu hoạt động kinh doanh của
đơn vị hướng dẫn: “Để thực hiện công tác kiểm toán tài chính, chuyên gia kiểm toán
phải có hiểu biết đầy đủ về hoạt động kinh doanh của đơn vị để xác định và hiểu biết
các sự kiện, nghiệp vụ và thông lệ của đơn vị, mà theo đánh giá của chuyên gia kiểm
toán, có thể có một tác động quan trọng đến Báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra của
chuyên gia kiểm toán hoặc đến báo cáo kiểm toán”.

báo cáo tài chính và để thực hiện so sánh khách hàng này với các đơn vị khác trong
ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh đó.
Sự hiểu biết về ngành kinh doanh của khách hàng có thể thu thập theo nhiều
cách khác nhau. Đó là qua những cuộc tranh luận đối với kiểm toán viên có trách
nhiệm với hợp đồng trong những năm trước và kiểm toán viên hiện nay trong các hợp
đồng tương tự, cũng như qua các buổi hội nghị với nhân viên của khách hàng, trao đổi
trực tiếp với Ban Giám đốc công ty khách hàng. Kiểm toán viên có thể có những kiến
thức đó qua nghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên ngành và ở Việt Nam kiểm toán viên
có thể lấy các thông tin từ Niêm giám thống kê do Tổng cục thống kê phát hành hằng
năm. Kiến thức đáng kể cũng có thể thu thập theo cách tham gia một cách tích cực vào
các Hiệp hội Kế toán, Kiểm toán và các chương trình huấn luyện.
Những hiểu biết về đặc thù kinh doanh của khách hàng không chỉ hữu ích trong
quá trình xây dựng kế hoạch kiểm toán mà còn giúp cho kiểm toán viên nhanh chóng
xác định được các “khu vực” trọng tâm cần đặc biệt lưu ý khi kiểm toán, đánh giá tính
hợp lý của dự toán kế toán và các giải trình của các nhà quản lý cũng như xét đoán về
sự thích hợp của chế độ kế toán và sự thể hiện của chế độ này.
1.2.3.2.1 Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán chung
Các hồ sơ năm trước thường chứa đựng rất nhiều thông tin khách hàng, về
công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức, điều lệ Công ty, chính sách tài chính, kế toán
Ngoài ra đa phần các Công ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ kiểm toán thường xuyên đối
với mỗi khách hàng. Qua đó kiểm toán viên sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về
công việc kinh doanh của khách hàng
Việc cập nhật và xem xét các sổ sách của Công ty là rất cần thiết nhằm xác
định các quyết định của nhà quản lý có phù hợp với luật pháp của nhà nước, với các
chính sách hiện hành của Công ty hay không mà còn giúp kiểm toán viên hiểu được
bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của chúng trên các Báo cáo tài chính
được kiểm toán.
1.2.3.2.2 Tham quan nhà xưởng
Việc tham quan nhà xưởng, quan sát trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh của
khách hàng sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những điều mắt thấy tai nghe về quy trình

được mục đích của cuộc kiểm toán. Lập kế hoạch đúng đắn là điều cần thiết để đảm
bảo rằng chuyên gia đã có sẵn khi cần và chuyên gia bắt buộc phải có năng lực và độc
lập với Công ty khách hàng.
1.2.3.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Nếu các thông tin cơ sở được thu thập ở trên giúp cho KTV hiểu được về các
hoạt động kinh doanh của khách hàng, thì việc thu thập các thông tin về nghĩa vụ pháp
lý của khách hàng giúp cho KTV nắm bắt được các quy trình mang tính pháp lý có
ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này. Có 3 loại thông tin có liên quan
đến trách nhiệm pháp lý của đơn vị được kiểm toán:
- Các thông tin về sự hiện diện hợp pháp và các quy định cho hoạt động kinh
doanh của đơn vị được kiểm toán (các thông tin về tính hợp pháp về hoạt động của
đơn vị).
- Các quy định về điều lệ quy chế hoạt động của đơn vị không được trái với
các văn bản pháp luật hiện hành.
- Các tuyên bố liên quan đến sát nhập các đơn vị thành viên của đơn vị được
kiểm toán.
Thông thường các văn bản trên được thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban
Giám đốc Công ty khách hàng cụ thể bao gồm các loại sau:
- Giấy phép thành lập và điều lệ của Công ty.
- Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc.
- Các Báo cáo tài chính, BCKT, các biên bản thanh tra hay kiểm tra của năm
hiện hành hay trong vài năm trước.
- Các hợp đồng và cam kết quan trọng.
1.2.3.4 Thực hiện các thủ tục phân tích
Tại đoạn 04 của VSA số 520 - Quy trình phân tích: “ Thủ tục phân tích là việc
phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra xu hướng biến
động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác
hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”.
Tại đoạn 09 của VSA số 520 - Quy trình phân tích: “ KTV phải áp dụng quy
trình phân tích trong quá trình lập KHKT để tìm hiểu tình hình kinh doanh của đơn vị

từng khoản mục trên BCTC.
• Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộ BCTC
Mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là lượng tối đa mà KTV tin rằng ở
mức đó các BCTC có thể bị sai lệch nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến các quyết định của
người sử dụng thông tin tài chính. Nói cách khác đó chính là những sai sót có thể chấp
nhận được đối với toàn bộ BCTC.
Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp KTV thu thập bằng chứng kiểm
toán thích hợp. Cụ thể là nếu các KTV ước lượng mức trọng yếu càng thấp, nghĩa là
độ chính xác của số liệu trên Báo cáo tài chính càng cao, thì số lượng bằng chứng thu
thập càng nhiều và ngược lại. Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu không cố định mà
có thể thay đổi trong suốt cuộc kiểm toán nếu KTV thấy rằng mức ước lượng ban đầu
là quá cao hay quá thấp hoặc một trong các nhân tố dùng để xác định mức ước lượng
ban đầu về tính trọng yếu bị thay đổi. Khi xây dựng ước lượng ban đầu về tính trọng
yếu KTV cần lưu ý những yếu tố ảnh hưởng sau:
 Tính trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là một đối tượng tuyệt đối, gắn
liền với quy mô của Công ty khách hàng. Một sai phạm với quy mô nhất định có thể là
trọng yếu đối với một Công ty nhỏ nhưng lại không trọng yếu đối với một Công ty
lớn. Do vậy, việc xác định và chỉ dẫn một mức giá trị cụ thể bằng tiền cho sự ước
lượng ban đầu về tính trọng yếu áp dụng cho tất cả các khách hàng là điều không thể
làm được.
 Yếu tố định lượng của tính trọng yếu: quy mô sai phạm là một yếu tố quan
trọng để xem xét liệu các sai phạm có trọng yếu hay không. Tuy nhiên, trọng yếu
mang tính chất tương đối nên việc có được các cơ sở quyết định xem một quy mô của
một sai phạm nào có là trọng yếu hay không là một điều cần thiết.
 Yếu tố định tính của trọng yếu: trong thực tế để xác định một sai phạm là trọng
yếu hay không, KTV phải xem xét, đánh giá cả về mặt quy mô (số lượng) và bản chất
(chất lượng) của sai sót đó. Một hành vi gian lận luôn được coi là trọng yếu bất kể quy
mô của nó là bao nhiêu.
Những yếu tố liên quan đến bản chất của sai phạm cần phải được xem xét khi
tiến hành ước lượng ban đầu về tính trọng yếu:

độ chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm để thực hiện công việc này.
1.2.3.5.2 Đánh giá rủi ro kiểm toán
Tại đoạn 03 của ISA 400 - Đánh giá rủi ro và KSNB nêu rằng: “Rủi ro kiểm
toán là rủi ro mà chuyên gia kiểm toán đưa ra một ý kiến không đúng cho những sai sót
trọng yếu trong BCTC. Rủi ro này được chia thành ba mức: rủi ro tiềm tàng, rủi ro
kiểm soát và rủi ro phát hiện”

Tại đoạn 07 của VSA số 400 - Đánh giá rủi ro và KSNB: “Rủi ro kiểm toán là
rủi ro do Công ty kiểm toán và KTV đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi BCTC
đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ
phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”.
Rủi ro kiểm toán mong muốn (DAR – Desired Audit Risk)
Rủi ro kiểm toán mong muốn là rủi ro được xác định một cách chủ quan. Đó là mức
độ mà KTV sẵn sàng chấp nhận là Báo cáo tài chính có thể có sai sót trọng yếu sau
khi cuộc kiểm toán hoàn thành và đã đi đến ý kiến chấp nhận toàn phần. Khi KTV
quyết định một tỷ lệ rủi ro thấp hơn có, điều này có nghĩa là KTV muốn được chắc
chắn hơn là BCTC không bị sai phạm trọng yếu. Mức rủi ro này được xác định phụ
thuộc vào hai yếu tố sau:
- Mức độ mà theo đó người sử dụng bên ngoài tin tưởng vào Báo cáo tài chính
của doanh nghiệp: khi những người sử dụng bên ngoài đặt nhiều niềm tin vào BCTC thì
KTV cần xác định một mức rủi ro kiểm toán thấp, từ đó tăng số lượng bằng chứng kiểm
toán thu thập và tăng độ chính xác trong kết luận đưa ra của mình.
- Khả năng khách hàng gặp khó khăn về tài chính sau khi BCKT công bố:
Trong trường hợp KTV tin rằng khả năng khách hàng gặp khó khăn về tài chính là cao
cần quyết định rủi ro kiểm toán giảm xuống để bảo vệ chất lượng của cuộc kiểm toán.
KTV có thể dựa vào các cơ sở sau đây để phán đoán sự kiện này: khả năng hoán chuyển
thành tiền mặt, các khoản lãi (lỗ) trong các năm trước, các biện pháp nhằm gia tăng quá
trình tài trợ, bản chất công việc kinh doanh của khách hàng.
Căn cứ vào các yếu tố trên KTV sẽ xác định một mức rủi ro kiểm toán mong
muốn cho toàn bộ các BCTC được kiểm toán. Rủi ro kiểm toán mong muốn và bằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status