ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN MINH
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ LOẠI VI KHUẨN, KHÁNG SINH
TỒN DƯ TRONG SỮA BÒ NUÔI TẠI TỈNH VĨNH PHÚC
VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60.62.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN QUANG TUYÊN
THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc sử dụng để
bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Minh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo khoa
Sau Đại học và khoa Chăn nuôi Thú y - Trƣờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên
đã giành nhiều thời gian, công sức giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực
hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn GS.TS. Nguyễn Quang Tuyên - Phó viện
trƣởng Viện khoa học sự sống – Đại học Thái Nguyên, TS. Phạm Thị Ngọc -
1.3.6
1.3.7
1.4
1.4.1
1.4.2
1.4.3
1.4.4
1.4.5
1.4.6
1.5
1.5.1
1.5.2
Tác hại của tồn dƣ vi sinh vật và kháng sinh trong sữa tƣơi
Tác hại của tồn dƣ vi sinh vật trong sữa tƣơi
Tác hại của tồn dƣ kháng sinh trong sữa tƣơi
Nguyên nhân của sự tồn dƣ vi sinh vật và kháng sinh trong sữa tƣơi
Nguyên nhân của sự tồn dƣ vi sinh vật trong sữa tƣơi
Nguyên nhân của sự tồn dƣ kháng sinh trong sữa tƣơi
Đặc điểm của một số loại vi sinh vật gây viêm vú bò
Vi khuẩn Staphylococcus aureus (Sta. aureus)
Vi khuẩn Streptococcus agalactiae (Strep. agalactiae)
Mycoplasma bovis (M. bovis)
Corynebacterium bovis (C. bovis)
Nhóm vi khuẩn môi trƣờng
Nhóm vi khuẩn cơ hội
Nhóm vi khuẩn khác
Đặc điểm của một số loại kháng sinh có trong sữa tƣơi
Penicillin và họ β – lactam
Streptomycin và nhóm Aminoglycoside (AG)
Nhóm sulfamid
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG, VẬT LIỆU
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
42
http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
2.1
2.1.1
2.1.2
2.2
2.2.1
2.2.2
2.2.3
2.2.4
2.2.5
2.2.6
2.2.7
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.4
2.4.1
2.4.2
2.4.3
2.4.4
2.4.5
2.4.6
2.4.7
2.4.8
42
42
42
42
42
42
43
43
43
43
43
43
43
44
44
44
44
45
45
47
48
49
50
2.4.10 Xác định tồn dƣ kháng sinh trong sữa bằng phƣơng pháp vi sinh vật 52
2.5
3.1
Phƣơng pháp xử lý số liệu
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi bò sữa tại tỉnh Vĩnh Phúc
55
Kết quả điều tra vệ sinh thức ăn, nguồn nƣớc, chuồng trại và kiểm tra
sức khoẻ đàn bò
Kết quả điều tra hiện trạng vệ sinh vắt sữa
Kết quả điều tra tình tình hình bò sữa bị viêm vú thể lâm sàng
Kết quả điều tra tình hình sử dụng khán g sinh trong điều trị bò sữa
Kết quả kiểm tra một số chỉ tiêu vệ sinh ảnh hƣởng đến chất lƣợng
sữa tƣơi
Kết quả kiểm tra một số vi khuẩn hiếu khí tại nền chuồng nuôi bò sữa
Kết quả kiểm tra một số vi khuẩn hiếu khí trên da bầu vú bò sữa
Kết quả kiểm tra bò viêm vú phi lâm sàng bằng phƣơng pháp CMT
Kết quả phân lập và giám định các loại vi khuẩn có trong mẫu sữa
Kết quả phân loại một số vi khuẩn có trong mẫu sữa
Kết quả phân loại vi khuẩn Staphylococcus spp theo cơ sở lấy mẫu
Kết quả phân loại vi khuẩn Streptococcus spp theo cơ sở lấy mẫu
Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng vi khuẩn phân lập đƣợc
Kết quả kiểm tra tồn dƣ kháng sinh trong mẫu sữa thu thập ở từng bò
nuôi tập trung
Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình trạng tồn dƣ vi sinh vật,
kháng sinh trong sữa tƣơi
Con giống
Chuồng trại và bãi chăn thả
Vệ sinh môi trƣờng chăn nuôi thú y
Điều trị và loại thải bò sữa
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận
Đề nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng việt
Tài liệu tiếng nƣớc ngoài
59
4 CAMP Christie – Atkins – Munch – Peterson
5 CFU Conoly Forming Unit
6 CMT California mastitis tets
7 CNS Coagulase Negative Staphylococcus
8 CO Coliforms
9 dd dung dịch
10 FPT Four plate Test
11 HPLC Hight performanece Liquid Chromatography
12 MRL Maxinum residue level
13 OS Other Streptococcus
14 PABA Acid para amino benzoic
15 Sal Salmonella
16 SCC Somatic cell count
17 Sta Staphylocccus
18 Strep Streptococcus
19 TB Trung bình
20 TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
21 TSVK Tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số
TT
Bảng Nội dung Trang
1 Bảng 3.1 Số lƣợng và sản lƣợng sữa của đàn bò sữa ở Vĩnh Phúc 56
2 Bảng 3.2a Kết quả điều tra vệ sinh thức ăn, nguồn nƣớc 59
3 Bảng 3.2b
Kết quả điều tra vệ sinh chuồng trại bằng dung dịch sát trùng
và kiểm tra sức khoẻ đàn bò
61
bằng dd sát trùng
62
4 Hình ảnh 04
Đồ thị biểu diễn kết quả điều tra sát trùng núm vú sau
khi vắt sữa
64
5 Hình ảnh 05
Đồ thị biểu diễn kết quả điều tra bò sữa bị viêm vú thể
lâm sàng
65
6 Hình ảnh 06 Đồ thị biểu diễn tần xuất sử dụng mỗi loại kháng sinh 67
7 Hình ảnh 07
Đồ thị biểu diễn kết quả kiểm tra bò viêm vú bằng
phƣơng pháp CMT
72
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số
TT
Hình ảnh Nội dung
1
Ảnh 01 Kiểm tra khuẩn lạc
2 Ảnh 02 Vi khuẩn Sta.aureus trên môi trƣờng thạch máu
3 Ảnh 03 Vi khuẩn Sta.aureus trên môi trƣờng Bair packer
4 Ảnh 04 Thử phản ứng CAMP
5 Ảnh 05 Phản ứng CMT
6 Ảnh 06 Tồn dƣ kháng sinh trong sữa
0
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
mang lại hiệu quả kinh tế cao và ngày càng thu hút đƣợc nhiều hộ nông dân tham
gia (Cục thống kê Vĩnh Phúc)[6].
Tuy nhiên, sữa tƣơi là loại thực phẩm có giá trị dinh dƣỡng cao và rất dễ
bị ô nhiễm bởi sự tồn dƣ vi sinh vật, kháng sinh, ảnh hƣởng đến sức khoẻ ngƣời
tiêu dùng. Nguyên nhân của vấn đề trên là do chăn nuôi bò sữa ở nhiều nơi còn
mang tính nhỏ lẻ, không đồng bộ từ khâu nguyên liệu đến tiêu thụ sản phẩm.
Một bộ phận lớn ngƣời chăn nuôi chƣa thực sự hiểu về một sản phẩm sữa tƣơi
đạt tiêu chuẩn vệ sinh, dinh dƣỡng dẫn đến các yếu tố ảnh hƣởng đến vệ sinh an
toàn sữa tƣơi chƣa đƣợc quan tâm đúng mức nhƣ thức ăn, nƣớc dùng trong chăn
nuôi bò sữa, vệ sinh chuồng trại, vệ sinh vắt sữa, dùng kháng sinh điều trị khi bò
sữa bị bệnh là nguyên nhân chính dẫn đến sữa tƣơi bị ô nhiễm vi sinh vật và
tồn dƣ kháng sinh.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Xác định một số loại vi khuẩn, kháng sinh tồn dư trong sữa bò nuôi tại tỉnh
Vĩnh Phúc và đề xuất biện pháp phòng chống ”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Điều tra thực trạng chăn nuôi bò sữa ở Vĩnh Phúc về các yếu tố nhƣ vệ
sinh thức ăn, nƣớc dùng trong chăn nuôi bò sữa (kể cả nƣớc cho uống), vệ sinh
chuồng trại, vệ sinh vắt sữa, tình hình sử dụng kháng sinh
- Phân lập, xác định một số loại vi khuẩn và độc tố của chúng có trong
sữa tƣơi.
- Xác định một số loại kháng sinh tồn dƣ trong sữa tƣơi.
- Đề xuất giải pháp để cải thiện môi trƣờng chăn nuôi bò sữa nhằm đảm
bảo an toàn vệ sinh sữa tƣơi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tác hại của tồn dƣ vi sinh vật và kháng sinh trong sữa tƣơi
* Vi khuẩn Salmonella: Là loại vi khuẩn nguy hiểm gây bệnh cho cả
ngƣời và động vật, tính biến dị cao với khoảng gần 2.000 serovar đƣợc tìm thấy.
Bệnh thƣờng gặp ở những ngƣời trên 40 tuổi với tỷ lệ chết 25%.
* Vi khuẩn Listeria monocytogenes: Là loại vi khuẩn gây bệnh cho cả
ngƣời và gia súc. Ở ngƣời bệnh thƣờng tấn công vào nhóm phụ nữ mang thai,
thai nhi, trẻ em với tỷ lệ chết cao (20 – 30%).
Sự tiêu thụ sữa tƣơi và các sản phẩm lên men từ sữa là nguồn lây chính
bệnh Listeria. Ngƣời ta gọi bệnh Listeria là “Bệnh thực phẩm lên men”. Sự thực,
ở các loại thực phẩm lên men có pH ≤ 4,8 luôn tìm thấy Listeria từ sản phẩm có
pH 5,7 – 8,9.
Vi khuẩn đƣợc thải qua sữa khi bò bị bệnh với số lƣợng 2.103 – 2.104 vi
khuẩn/ml sữa, đồng thời tế bào soma trong sữa tăng lên từ 1,4.10 5 – 5.106 tế
bào/ml.
* Vi khuẩn Campylobacter: Là loại vi khuẩn gây bệnh cho ngƣời là C.
jejuni, C. coli, C. fetus với triệu chứng của viêm dạ dày, ruột, rối loạn tiêu hoá
với số lƣợng rất nhỏ (2 – 3 vi khuẩn/ml).
* Vi khuẩn Yersinia enterocolitica:
Là vi khuẩn gây bệnh viêm dạ dày – ruột cho ngƣời và một số động vật
máu nóng, trong đó có bò. Ở trẻ em bị bệnh có triệu chứng viêm dạ dày – ruột,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
sƣng hạch lâm ba, màng treo ruột. Còn ở ngƣời trƣởng thành, ngoài rối loạn tiêu
hoá, bệnh còn tiến triển thành viêm khớp thể cấp tính và mãn tính hoặc rối loạn
tuyến giáp.
Trong các dòng Yersinia enterocolitica dòng có động lực mạnh nhất là
serotyp 0:3. Bệnh Yersinia do sữa xảy ra ở nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Bỉ,
Canada, Australia, Brazil, Pháp, Nhật, Anh.
Ở Mỹ hàng năm có khoảng 20.000 ca bệnh do Yersinia gây ra. Nguyên
nhân chủ yếu do dùng sữa tƣơi bị nhiễm trùng, khử trùng không đạt hiệu quả hoặc
lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm hiện nay đang là vấn đề
bức xúc của toàn xã hội, nó gây hậu quả nghiêm trọng là hiện tƣợng kháng
kháng sinh trong điều trị và tồn dƣ kháng sinh trong sản phẩm động vật. Sau đây
là nghiên cứu của một số tác giả về kháng kháng sinh và tồn dƣ trong sản phẩm
động vật:
Theo Phạm Khắc Hiếu và cộng sự (1996)[3] khi nghiên cứu tính kháng
sinh của E. coli phân lập từ lợn con bị bệnh phân trắng tại các tỉnh phía Bắc từ
1975 – 1995 cho thấy số chủng E. coli kháng với Penicillin tăng dần từ 40 chủng
vào năm 1975 – 1976 lên 100 chủng vào năm 1985 – 1986 và 183 chủng vào
năm 1995 – 1996. Streptomycin có tỷ lệ kháng tăng dần từ 40% - 51% - 77,03%.
Trong 7 loại kháng sinh nghiên cứu vào năm 1975–1976 có 3 loại chƣa bị kháng
thì đến năm 1995–1996 đã có 100% thuốc bị kháng với các tỷ lệ khác nhau.
Theo Nguyễn Thị Vịnh (1998)[37] kháng sinh đƣợc dùng trong chăn nuôi
để phòng trị bệnh, đặc biệt với mục đích kích thích tăng trƣởng, kháng sinh đƣợc
dùng với hàm lƣợng thấp, kéo dài, điều đó gây hậu quả tai hại là chọn lọc ra
nhiều vi khuẩn đề kháng hơn là dùng một liều điều trị đầy đủ trong thời gian
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
ngắn. Sau khi giết mổ, lƣợng kháng sinh còn lại trong thú sản rất thấp, song vi
khuẩn đề kháng và gen đề kháng có khả năng lan truyền từ động vật sang thông
qua tiếp xúc trực tiếp hoặc thông qua thức ăn nƣớc uống nhiễm vi khuẩn đó. Tuy
số liệu về vấn đề này chƣa nhiều, nhƣng có nhiều nghi ngại rằng việc sử dụng
kháng sinh trong chăn nuôi đã góp phần làm khó khăn và dẫn đến thất bại trong
điều trị bệnh cho ngƣời và động vật do hậu quả của vi khuẩn đề kháng.
Hiện tƣợng vi khuẩn kháng thuốc xuất hiện từ thập kỷ 40 của thế kỷ trƣớc,
đến ngày nay đang là mối lo ngại hàng đầu trong điều trị bệnh trên thế giới.
Ngày 12/1/1941, Penicilin lần đầu tiên đƣợc sử dụng để cứu sống một công an ở
Oxford bị nhiễm trùng huyết do Staphylococcus aureus thì đến tháng 6/1997 một
thành niên Nhật Bản đã chết vì nhiễm Sta. aureus mà không thuốc nào chữa
salmonella ở các nƣớc trong khu vực Tây Thái Bình Dƣơng cho thấy, nhìn
chung các chủng S.typhimurium đã xuất hiện tăng mức độ kháng các loại kháng
sinh thông dụng nhƣ Ampicillin, Chloramphenicol. Tỷ lệ kháng Fluoroquinolon
đã có trong khu vực là đáng báo động vì nếu sử dụng thuốc này quá rộng rãi
dẫn đến tính trạng kháng thuốc mắc phải, do các vi khuẩn kháng thuốc truyền
cho nhau.
Cũng theo thông báo của WHO về độ kháng kháng sinh của các chủng
Acinetobacter và Shigella flexneri tại các nƣớc trong khu vực Tây Thái Bình
dƣơng cho thấy, đối với Acinetobacter tại Hàn Quốc và Singapo các kháng sinh
hầu hết có tỷ lệ kháng cao. Một số thuốc đƣợc kiểm tra nhƣ Gentamycin kháng
10% ở Brunei tăng lên 78% ở Hàn Quốc, Fluoroquinolon kháng 4,5% ở Nhật
Bản tăng 64% ở Hàn Quốc. Đối với Shigella flexneri mức độ kháng kháng sinh
cũng rất cao, với Ampicillin tỷ lệ kháng từ 59 – 96% trong đó tỷ lệ kháng ở Việt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
Nam là 87,3%, Chloramphenicol kháng 54 – 90,1% và Việt Nam tỷ lệ kháng là
85,7% (thông tin kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh, 2000)[32].
Ở Việt Nam, tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh cũng rất phổ biến phù
hợp với nhận định rằng, tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn ở các nƣớc
đang phát triển thƣờng nghiêm trọng và có chiều hƣớng gia tăng trong khi đó ở
các nƣớc đã phát triển mức độ kháng thuốc của các vi khuẩn tại Bệnh viện và
cộng đồng lại có xu thế giảm dần (Phạm Văn Ca, 2000)[4].
Sự kháng thuốc của vi khuẩn có đƣợc bằng nhiều cách, có thể do đặc tính
di truyền đề kháng đƣợc một số loại kháng sinh; do chọn lọc loại thải chỉ giữ lại
các vi khuẩn kháng thuốc; hoặc do đột biến di truyền trong đó vi khuẩn có gen
kháng thuốc ngoài nhiễm sắc thể là nguy hiểm nhất vì khả năng lan truyền thông
tin theo chiều ngang rất nhanh. Đó cũng là lý do xuất hiện vi khuẩn kháng thuốc
ở cả những cơ thể khoẻ không phải điều trị bệnh. Nguyên nhân gây gia tăng vi
khuẩn kháng thuốc thƣờng đƣợc cho là do sử dụng kháng sinh một cách thiếu
chung cho ngƣời và động vật sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng.
1.2. Nguyên nhân của sự tồn dƣ vi sinh vật và kháng sinh trong sữa tƣơi
1.2.1. Nguyên nhân của sự tồn dư vi sinh vật trong sữa tươi
Vi sinh vật tồn dƣ trong sữa bò tƣơi có rất nhiều nguyên nhân, có thể do
bệnh động vật truyền qua sữa hoặc lây nhiễm từ môi trƣờng bên ngoài: da bầu
vú, núm vú, chất độn chuồng, không khí chuồng nuôi, tay ngƣời vắt sữa, dụng cụ
vắt sữa, chứa sữa , cụ thể:
1.2.1.1. Vi sinh vật có trong sữa do bệnh động vật truyền qua sữa
* Bệnh Lao: Sữa nhiễm vi khuẩn lao do bò bị lao, vi khuẩn
Mycobacterium tuberculosis có thể lây sang ngƣời lớn và trẻ em sau khi dùng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
sữa và các chế phẩm sữa. Sau khi Pasteur hoá ở nhiệt độ thấp cũng có thể gây
bệnh lao. Vi khuẩn lao có thể tồn tại trong sữa chua đƣợc 20 ngày, trong pho mát
2 tháng, trong bơ 120 ngày, trong sữa thƣờng có vi khuẩn lao sống hơn 10 ngày.
Trong môi trƣờng lỏng chúng bị diệt ở 60 0C trong 30 phút. Vì thế không đƣợc
dùng sữa bò đã bị nhiễm vi khuẩn lao (http://baigiang.violet.vn)[15].
* Bệnh sẩy thai truyền nhiễm do Brucella: Ngƣời bị bệnh do uống sữa có
nhiễm Brucella hoặc sữa bò chứa Brucella abortus bovis. Vi khuẩn Brucella tồn
tại trong sữa chua từ 1 – 4 ngày, trong bơ từ 41 – 67 ngày, trong pho mát 42
ngày, bị thanh trùng khi Pasteur ở 610C trong 30 phút. Ngƣời mắc bệnh có triệu
chứng đau nhức bắp thịt, xƣng khớp xƣơng, viêm sƣng dịch hoàn, sốt, sẩy thai
(http://baigiang.violet.vn)[15].
* Bệnh Lở mồm long móng: Vi rút Lở mồm long móng sống trong sữa đƣợc
30 – 45 ngày, bị tiêu diệt ở 500C. Trẻ em uống sữa này có thể bị viêm dạ dày, ruột
dẫn đến những chứng nhiễm khuẩn thứ phát (http://baigiang.violet.vn)[15].
1.2.1.2. Vi sinh vật có trong sữa do lây nhiễm từ da bầu vú, núm vú
Theo Nelson Philpot. W (1980)[53] một biện pháp vệ sinh thích hợp là các
bầu vú phải đƣợc rửa sạch và lau khô. Các núm vú phải đƣợc làm khô với các
ô nhiễm phân là điều không tránh khỏi. Khi bò nằm, phần bầu vú sẽ áp xuống
nền chuồng, đây chính là nguyên nhân làm ô nhiễm bầu vú gây viêm vú, đặc biệt
là những bầu vú bị tổn thƣờng, xây sát.
Theo Nelson Philpot W (1980)[53] chất nền chuồng là nguồn tàng trữ
mầm bệnh vi khuẩn môi trƣờng chính đối với bề mặt đầu núm vú Thông
thƣờng rơm để cả cọng sạch chứa Coliform thấp, nhƣng có lẽ lại chứa liên cầu
khuẩn cao. Sử dụng các loại hoá chất sát trùng hoặc vôi bột để duy trì số lƣợng
Coliform thấp có lẽ là không thực tế, vì phải đòi hỏi phải sử dụng thƣờng xuyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
mới đạt đƣợc kết quả tốt. Hàng ngày cần phải dọn đi chất độn chuồng hữu cơ của
1/3 bề mặt chuồng cho thấy làm giảm hàm lƣợng Coliform bám ở bầu vú.
Sự lƣu thông không khí tối đa trong chuồng nuôi bò sữa góp phần làm
giảm số lƣợng vi khuẩn môi trƣờng. Bất kỳ yếu tố nhƣ mƣa, ẩm độ, nƣớc tiểu,
nƣớc uống và thậm chí cả nƣớc rửa bầu vú đều tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển của vi khuẩn môi trƣờng và chúng cần phải làm giảm tối đa.
1.2.1.4. Vi sinh vật có trong sữa do lây nhiễm từ máy vắt sữa
Theo Nelson Philpot W (1980)[53] máy vắt sữa là một công cụ quan trọng
đối với ngành khai thác sữa hiện đại. Vấn đề quan trọng đƣợc đề cập tới là máy
vắt sữa có thể là nguyên nhân làm lây lan truyền các vi khuẩn gây viêm vú từ bò
sữa này sang bò sữa khác thông qua lớp đệm cốc vắt sữa của máy vắt sữa. Máy
vắt sữa cũng có thể làm lây truyền vi khuẩn từ các phần bầu vú bị nhiễm qua
dụng cụ vắt sữa đến các phần bầu vú không bị nhiễm. Những yếu tố quan trọng
nhất góp phần làm cho máy vắt sữa gây bệnh là tác động của các giọt sữa nhỏ và
lỗi của quá trình co bóp. Những giọt sữa nhỏ có thể chứa vi khuẩn gây bệnh
viêm vú, chúng có thể xâm nhập sâu vào trong kênh núm vú và gây bệnh.
1.2.1.5. Vi sinh vật có trong sữa do lây nhiễm từ tay người vắt sữa
Theo Paul Pozy, Phùng Quốc Quảng (2001)[24] ngƣời có nhiệm vụ vắt
sữa, đó là ngƣời vắt sữa. Ngƣời vắt sữa phải có hiểu biết và yêu mến bò, khi vắt
1.2.2. Nguyên nhân của sự tồn dư kháng sinh trong sữa tươi
Một thực trạng hiển nhiên là không thể không dùng kháng sinh để phòng và
trị bệnh cho động vật. Những kháng sinh đƣợc bán trên thị trƣờng nhiều loại
không đảm bảo hàm lƣợng, chất lƣợng nên phòng và trị bệnh có hiệu quả chƣa
cao, dẫn đến việc lạm dụng kháng sinh. Sữa là sản phẩm đƣợc khai thác ngay
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
trong và sau quá trình điều trị một cách thƣờng xuyên, liên tục, đồng thời sữa
cũng là một đƣờng thải thuốc, do vậy sự có mặt của kháng sinh tồn dƣ trong sữa
thƣơng phẩm lại có nguyên nhân liên quan đến nhận thức của ngƣời chăn nuôi
và cán bộ thú y.
Theo điều tra của Võ Thị Trà An (2002)[1] cho thấy trong số 143 loại biệt
dƣợc chứa kháng sinh của 34 hãng sản xuất thuốc thú y đƣợc lƣu hành tại thời
điểm 2000 – 2001 có 36 loại kháng sinh đƣợc sử dụng và đƣợc dùng nhiều nhất là
Colistin (15,83%), Enrofloxacin, Daveridin (7,74%), Sulfađimmidin (6,72%),
Trimethoprim (6,38%), Norfloxacin (5,79%), Oxytetracyclin (4,93%),
Gentamycin (4,51%) và Acid oxolinic (4%). So sánh với các hãng sản xuất đang
đƣợc dùng ở thị trƣờng thuốc thú y Việt Nam và với các nƣớc trong khu vực, đặc
biệt là các nƣớc trong khối EU thì chủng loại thuốc kháng sinh dùng trong thú y ít
hơn ở Việt Nam nhiều. Một số loại kháng sinh bị cấm dùng trong thú y, nhƣng lại
đƣợc ngƣời chăn nuôi Việt Nam sử dụng rộng rãi.
Mặt khác, do điều kiện vệ sinh môi trƣờng kém, ô nhiễm nƣớc, thức ăn,
khí hậu chuồng nuôi do đó ngƣời chăn nuôi phải trộn kháng sinh liên tục vào
thức ăn, nƣớc uống để hạn chế sự phát triển của các loại vi trùng gây bệnh.
Thuốc phòng và trị bệnh trong chăn nuôi đƣợc dùng tuỳ tiện, có 32,61% trại sử
dụng kháng sinh không hợp lý, dùng sai kháng sinh, không đúng liều quy định;
44,54% không ngƣng thuốc đúng quy định đã dẫn đến tình trạng thú sản có dƣ
lƣợng kháng sinh cao (Nguyễn Thị Hoa Lý, 2002)[18].
Ở Thuỵ sĩ, từ 1986 – 1988 các nghiên cứu cho thấy nguyên nhân chính