Khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở mỹ và bài học về sự quản trị rủi ro cho hệ thống ngân hàng việt nam - Pdf 95

LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2008 là một năm đầy biến động và đáng nhớ đối với kinh tế thế giới nói
chung và Việt Nam nói riêng. Chúng ta đã trải qua năm 2008 với rất nhiều cung bậc
thăng trầm của nền Kinh kế. Hệ thống tài chính ngân hàng của Mỹ cuối năm 2007
và năm 2008 đột nhiên lâm vào một trong những cuộc khủng hoảng chưa từng có,
hàng trăm tỷ USD đã tiêu tan. Sự lây lan vẫn chưa chấm dứt, hậu quả vẫn chưa
lường hết. Trong bối cảnh chung ấy, Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động
tiêu cực của suy thoái kinh tế toàn cầu. Vì thế, chúng ta cần phải chủ động trước
những diễn biến phức tạp của khủng hoảng tài chính và nguy cơ suy thoái kinh tế
toàn cầu để kịp thời ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam nói
chung cũng như hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng.
Trước tình hình đó, đã có rất nhiều nghiên cứu xung quanh sự xuất hiện của cuộc
khủng hoảng này trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Và, đề tài “
Khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở Mỹ và bài học về sự quản trị rủi ro cho hệ thống
ngân hàng Việt nam” trở thành tiêu điểm mang tính thời sự được quan tâm hiện nay!
Trang 1
CHƯƠNG I. CUỘC KHỦNG HOẢNG TÍN DỤNG THỨ CẤP Ở MỸ
1.1 Tổng quan về cuộc khủng hoảng Tín Dụng thứ cấp ở Mỹ
1.1.1 Diễn biến và nguyên nhân
1.1.1.1 Những cột mốc chính trong cuộc khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ lần này thực chất là biểu hiện rõ
nét nhất của một quá trình “khủng hoảng” rất lâu trước đó. Điểm lại những mốc sự
kiện chính trong chuỗi này để thấy khủng hoảng đã diễn ra như thế nào:
• Năm 2002-2004: Giá cả ở các bang Arizona,California, Florida, Hawaii, và
Nevada tăng trên 25% một năm. Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu.
• Năm 2005: Bong bóng nhà đất ở Mỹ vỡ vào tháng 08/2005. Thị trường bất động
sản tạm gián đoạn trên một vài bang ở Mỹ vào cuối mùa hè năm 2005 khi tỷ lệ lãi
suất tăng từ 1% lên đến 5.35% do có nhiều nhà kinh doanh bất động sản đã đánh giá
thấp thị trường.
• Năm 2006: Thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm. Giá giảm, kinh doanh bất
động sản, dẫn đến một lượng nhà dư thừa đáng kể. Chỉ số Xây dựng Nhà ở tại Mỹ

Tháng 11: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng vay với
lãi suất thấp. Đây là lần xuất tiền lớn nhất của cục dự trữ liên bang kể từ 19 tháng 9
năm 2001 (50.35 tỷ đô la).
• Năm 2008 với những mốc đáng nhớ sau :
Ngày 16/03: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ
phiếu để tránh phá sản. Cục dự trữ liên bang phải cung cấp 30 tỷ đô la để trợ giúp
các khoản lỗ của Bear Stearn.
Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã báo cáo
thua lỗ lên đến 435 tỷ đôla.
Ngày 07/09: Cục dự trữ liên bang dành quyền kiểm soát hai tập đoàn Fannie
Mae và Freddie Mac
Ngày 14/09: Merrill Lynch được bán cho Bank of America với giá 50 tỷ đô la.
Trang 3
Ngày 15/09: Lehman Bothers tuyên bố phá sản. Ngay sau đó, 3 loại chỉ số ở Mỹ
bao gồm chỉ số Dow Jones, NASDAQ và S&P 500 sụt giảm mạnh nhất kể từ sau sự
kiện 11/09/2001.
Ngày 17/09: Cục dự trữ liên bang Mỹ cho AIG vay 85 tỷ đô la để giúp công ty
này tránh phá sản.
Ngày 19/09: Kế hoạch giải cứu tài chính của bộ trưởng tài chính Paulson trị giá
700 tỷ đô la được công bố sau một tuần bất ổn trên thị trường tài chính và nợ tín
dụng. Tuy nhiên, quốc hội Mỹ đã không thông qua bản dự thảo này.
Ngày 26/09: Ngân hàng Washington Mutual – ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ
được chính phủ tiếp quản và sau đó được bán lại cho JP Morgan Chase& Co với giá
1.9 tỷ đôla
Ngày 29/09: Quốc hội Mỹ bác bỏ kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ do
bộ Tài chính Mỹ đề xuất.
Ngày 30/09: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân hàng cho
vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán lẻ cho đối thủ
Citigroup.
1.1.1.2 Nguyên nhân

Nguồn:
Biểu đồ 3: Nhu cầu nhà ở Mỹ giai đoạn 1995-2007
Nguồn:
Có ba yếu tố chính đã khởi tạo nên bong bóng trong thị trường bất động sản:
Thứ nhất, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dự trữ
liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ
lãi suất cho vay tiền mua bất động sản. Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của
Fed là trên 6% nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm
2003 thì chỉ còn 1%.
Trang 6
Biểu đồ 4: Lãi suất USD của FED (Fed Fund Rate)
Nguồn : www.Federalreserve.org.gov
Thứ nhì, về phương diện sở hữu nhà cửa, chính sách chung của chính phủ lúc
bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các nhóm dân da màu
được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà. Việc này phần lớn được thực hiện thông qua
hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac.
Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các
khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng từ
được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortgage-backed securities - MBS), rồi
bán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư khổng lồ
như Bear Stearns và Merrill Lynch.
Biểu đồ 5: Chứng khoán hoá tài sản cho vay thế chấp ở Mỹ ( 1975 – 2007)
Nguồn: www.cuna.org
Trang 7
Thứ ba, như đã trình bày ở trên, bởi vì có sự biến đổi các khoản cho vay thành
các công cụ đầu tư cho nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thị trường bất động
sản không còn là sân chơi duy nhất của các ngân hàng thương mại hoặc các công ty
chuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa. Nó đã trở nên một sân chơi mới cho các
nhà đầu tư, có khả năng huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốn
ngoại quốc.

Người vay
sẽ được ấn định theo thời điểm đó). Tóm lại, nhóm người này thuộc vào thành phần
được cho vay với loại lãi suất dưới chuẩn .
1.1.2 Tổng quan về tình hình khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở Mỹ
Những yếu kém của nền kinh tế Mỹ đã bộc lộ rõ từ trước năm 2000 nhưng đến
nay mới bùng nổ. Thâm hụt cán cân thanh toán đã lên tới trên 400 tỷ USD từ năm
2000 chiếm trên 4% GDP và tiếp tục tăng lên mức 811 tỷ USD năm 2006, chiếm 6%
GDP. Tiết kiệm của dân chúng Mỹ vào năm 2006 chỉ đạt 34 tỷ USD, gần như
0%/GDP, tỷ lệ tiết kiệm bình quân thấp khoảng 1-2%/ GDP đã kéo dài hàng chục
năm trở lại đây. Đầu tư của Mỹ bằng 19% GDP chủ yếu dựa vào lợi nhuận công ty
nhưng 30% số tiền đầu tư là do vay mượn nước ngoài.
Ngày 27/2, số liệu được điều chỉnh lại của Bộ Thương mại Mỹ cho thấy, GDP
của nước này đã tăng trưởng âm 6,2% trong quý 4/2008. Đây là mức sụt giảm mạnh
nhất của kinh tế Mỹ kể từ năm 1982. Như vậy, GDP năm 2008 của Mỹ chỉ tăng
1,1% - mức thấp nhất kể từ năm 2001.
Theo số liệu của Cục Phân tích kinh tế (Bộ Thương mại Mỹ), trong quý 1/2008,
GDP của Mỹ đã tăng trưởng 0,9%, sau đó tăng mạnh lên 2,8% vào quý 2. Tuy
nhiên, trước những khó khăn của nền kinh tế và cuộc khủng hoảng tài chính lan
rộng, GDP của Mỹ đã tăng trưởng âm 0,5% trong quý 3/2008.Với mức tăng trưởng
âm trong quý 3 và quý 4/2008, kinh tế Mỹ đã chính thức rơi vào suy thoái và đây
cũng là lần đầu GDP của nước này tăng trưởng âm trong hai quý liên tiếp kể từ lần
suy giảm trong quý 4/1990 và quý 1/1991.
Biểu đồ 6: Tăng trửởng GDP của Mỹ từ năm 2000- 2008(%)
Nguồn: Cục phân tích kinh tế ( Bộ Thương mại Mỹ)
Trang 9
Từ cuối năm 2007, đầu năm 2008, sự khủng hoảng của nền kinh tế Mỹ bắt đầu lộ
rõ. Gía bán sỉ hàng hoá tiêu dùng tại Mỹ tăng với tốc độ cao nhất trong vòng 25 năm
qua. Gía dầu tăng 17% và tài sản không ngừng bị mất giá, giá bất động sản suy giảm
mạnh sau 6 năm liên tục tăng. Tình trạng thắt chặt tín dụng đang diễn ra trên toàn
nước Mỹ do các tập đoàn tài chính thua lỗ chồng chất, giá dầu tăng kỷ lục. Chỉ số

nay thị trường chứng khoán và bất động sản đang dần trở về giá trị thực của nó sau
nhiều năm tăng trưởng nóng.
1.1.2.2 Thị trường bất động sản
Trong 5 năm 2001-2006, giá nhà trên toàn nước Mỹ tăng kỷ lục. Tuy nhiên, thị
trường nhà đất Mỹ thời gian gần đây trở nên ngày càng tồi tệ. Số lượng nhà bị tịch
thu do chủ nhà không còn khả năng trả nợ trong tháng 1 năm 2008 tăng tới 57%.
Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan rộng đến khu vực đầu tư địa ốc văn phòng. Do sự
phát triển không kiểm soát của thị trường cho vay địa ốc dưới chuẩn. Cho vay tiêu
dùng qua thẻ tín dụng quá mức mà CityGroup là nạn nhân đầu tiên lỗ 18 tỷ USD.
Biểu đồ 8: Chỉ số nhà tại Mỹ từ 1988-2008
Trang 11
Nguồn: bloomberg, Reuters
1.1.2.3 Hoạt động của các doanh nghiệp
Cuộc khủng hoảng ảnh hưởng nặng nề đến các tổ chức tín dụng, làm cho giá trị thị
trường của hàng loạt các tập đoàn tài chính lớn bị co lại.
Biểu đồ 9: Giá trị thị trường của các NH Châu Âu năm 06/2007 và 11/2008
Nguồn: Bloomberg
Trang 12
Số lượng doanh nghiệp tuyên bố phá sản trong tháng 4/2008 cao nhất từ khi luật
phá sản Mỹ bắt đầu có hiệu lực (năm 2005). Tính đến tháng 4/2008 có hơn 5000
công ty phá sản.
Trong số khoảng 8.500 ngân hàng ở Mỹ được Công ty bảo hiểm tiền gửi liên
bang (FDIC) bảo hiểm, ở thời điểm cuối quý 2 năm 2008, có 117 ngân hàng bị liệt
vào danh sách có nguy cơ phá sản, cao nhất trong vòng 5 năm qua. Tính đến tháng
đầu tháng 5/2009 có 33 ngân hàng đã phá sản, nổi bật trong số đó là sự đổ vỡ của
các đại gia tài chính lớn như Bear Stearns, Lehman Brothers, Fannie Mae & Feddie
Mac, Merrill Lynch & Co, Golman Sachs, wachovia. ( xem phụ lục I)
Tình trạng phá sản của các doanh nghiệp Mỹ cho thấy những vấn đề liên quan
đến lĩnh vực thế chấp dưới chuẩn và công cụ tài chính trên phố Wall.
Bảng 2: Danh sách các tổ chức tài chính bị phá sản hoặc phải sáp nhập trong

60.000 người
Xếp thứ 32 trong
danh sách Global
Thua lỗ quý
IV/2007: 9,83 tỷ
đô
Thua lỗ ròng quý
I/2008: 1,97 tỷ
đôla
Bán cho ngân hàng Mỹ
(BoA) với giá 50 tỷ
đôla
Trang 13
2000 (các công ty
lớn nhất thế giới)
mất giá tài sản
(2007): 16,7 tỷ
đôla
3 AIG
Tổng tài sản: 1,05
nghìn tỷ đôla
Tổng vốn góp ổ
phần 78,09 tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
116.000 người
Xếp thứ 6 trong danh
sách Global 2000
(các công ty lớn nhất
thế giới)
Cổ phiếu mất giá

ngân hàng Mỹ ( BOA)
với giá 4,1 tỷ đôla
5 Bear Stearns Tổng tài sản: 350,4
tỷ đôla
Tổng vốn góp cổ
phần: 66,7 tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
Thiệt hại quý
IV/2007: 859
triệu đôla
Mất giá tài sản
(2007): 1,9 tỷ
30/05/2008: Bán cho JP
Morgan Chase với giá
1,1 tỷ đôla
Trang 14
15.500 người
Là công ty chứng
khoán lớn thứ 7 thế
giới
đôla
6 IndyMac
Tổng tài sản: 32 tỷ
đô
Là tổ chức cho vay
và gửi tiết kiệm lớn
nhất ở Los Angeles.
Đồng thời là tổ chức
thế chấp lớn thứ 7 ở
Hoa Kỳ

07/09/2008: FED kí hợp
đồng bỏ ra 1 tỷ đô hỗ
trợ cho Freddie Mac,
đổi lại giành quyền
kiểm soát các cổ phiếu
ưu đãi đặc biệt của công
ty này.
8 Fannie Mae Tổng tài sản: 882,5
tỷ đôla
Tổng vốn góp cổ
phần: 44 tỷ đôla
Là tổ chức hàng đầu
trong thị trường thế
chấp dưới chuẩn của
Thua lỗ (2007):
2 tỷ đôla
Thua lỗ quý
II/2008: 2,3 tỷ
đôla
07/09/2008: cùng với
Freddie Mac bị FED
tiếp quản
Trang 15
Mỹ
9
New Century
Financial
Corp
Tổng thu nhập (năm
2006): 417 triệu đôla

Washington
Mututal Inc
Tổng tài sản: 307 tỷ
đôla
Washington Mutual
là ngân hàng tiết
kiệm lớn nhất Mỹ
Thua lỗ 53 tỷ
đôla để từ tháng
6 và 17 tỷ đôla
trong 2 tuần gần
đây
26/09/2008: Chính phủ
tiếp quản và sau đó bán
lại cho JP Morgan
Chase & Co với giá 1,9
tỷ đôla
12 Wachovia
Là ngân hàng lớn
thứ 6 ở Mỹ
Tổng tài sản: 327,9
tỷ đôla
Giá cổ phiếu của
Wachovia đã sụt
giảm tới 81,6%,
còn 1,84 USD/
cổ phiếu
Thua lỗ 9,7 tỷ
đôla trong nửa
đầu năm nay

ngân hàng của nước này đã không tận dụng nguồn tiền thừa này để tăng cường hoạt
động cho vay.
Các ngân hàng Mỹ hiện nay không có động lực để cho vay với lãi suất thấp, khi
mà bảo toàn vốn vẫn là ưu tiên hàng đầu của họ. Dù đưa lãi suất USD về 0 - 0,25%,
FED vẫn không thể đảm bảo rằng, các ngân hàng sẽ cho doanh nghiệp vay.
Vì nước Mỹ đang đối mặt một cuộc khủng hoảng niềm tin, thay vì khủng hoảng
thanh khoản. Với lượng tiền dự trữ dư thừa khổng lồ như trên, rõ ràng, lý do khiến
các ngân hàng ngại cho vay không phải vì họ không có tiền cho vay. Điều mà các
ngân hàng lo ngại ở đây là đối tượng vay tiền của họ, trong đó bao gồm cả các ngân
hàng khác, sẽ không trả nợ.
Lượng dư thừa thanh khoản trong các tổ chức tín dụng như đã nêu trên là bằng
chứng cho thấy, năng lực cho vay của các ngân hàng còn ở mức cách xa so với
lượng cung tiền
1.2.2 Tái cấu trúc
Sau khi tuyên bố cho phép tái cơ cấu được đưa ra, giới đầu tư tài chính Mỹ cũng
như thế giới hiểu rằng lượng tiền 700 tỷ USD trong chương trình cứu nguy hệ thống
tài chính được công bố xem ra vẫn chưa đủ mạnh, nên chính phủ phải tìm cả giải
pháp từ chính ngân hàng.
Việc chuyển đổi từ ngân hàng đầu tư sang mô hình ngân hàng thương mại, trước
mắt sẽ giúp các ngân hàng Mỹ huy động được nguồn vốn qua đó giải quyết phần
nào những khó khăn trước mắt. Một sô ngân hàng đã tiến hành tái cơ cấu như là
Goldman sachs, Morgan Stanley, Citigroup.
 Goldman Sachs và Morgan Stanley
Quyết định của Goldman Sachs và Morgan Stanley nộp đơn lên Cục Dự trữ Liên
bang Mỹ (FED) xin chuyển đổi mô hình là diễn biến đầy kịch tính của một trong
những giai đoạn biến động nhất trong lịch sử Phố Wall. Có lẽ sự thay đổi này là lần
tái cấu trúc lớn nhất trong lịch sử trên Phố Wall kể từ Đại khủng hoảng 1929 tới
nay, làm thay đổi cơ bản bộ mặt của trung tâm tài chính.
Trang 18
Tháng 9/2008 FED đã cho phép hai ngân hàng đầu tư Goldman Sachs và

Trang 19
kinh doanh không nằm trong chiến lược chủ chốt của Citigroup. Cơ cấu mới được
tạo ra để nhanh chóng biến đổi Citigroup thành một công ty có lợi nhuận cao hơn,
rủi ro thấp hơn và tăng trưởng cao hơn nhiều so với trước đây.
1.2.3 Phòng ngừa rủi ro lãi suất
Bắt đầu xuất hiện tại các thị trường phát triển từ những năm 80 của thế kỷ trước,
hiện các công cụ tài chính phái sinh đã được các ngân hàng thương mại trên thế giới
sử dụng rộng rãi như những công cụ bảo hiểm rủi ro cho khách hàng.
Sau đợt biến động mạnh của thị trường tiền tệ trong thời gian qua, các ngân hàng
Mỹ đã đặc biệt quan tâm hơn đến các công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất để nhằm
hạn chế và phòng ngừa rủi ro khi lãi suất thị trường biến động.
Để phòng ngừa rủi ro lãi suất và tránh được những biến động trên thị trường tiền
tệ, hiện nay các ngân hàng Mỹ sử dụng các công cụ phái sinh như là giao dịch kỳ
hạn (Forward), giao dịch quyền chọn (Options) và giao dịch tương lai (Futures), đặc
biệt là giao dịch hoán đổi lãi suất (IR Swaps), sử dụng giao dịch hoán đổi này có thể
tránh được thiệt hại không nhỏ với những biến động khó lường của thị trường tiền
tệ.
1.2.4 Thắt chặt Tín Dụng
Mặc dù đã nhận được viện trợ của chính phủ, nhưng các ngân hàng Mỹ vẫn nâng
cao tiêu chuẩn cho vay, tiếp tục thu hẹp các hoạt động tín dụng, thực hiện chính sách
thắt chặt tín dụng đối với thẻ tín dụng, cho vay tiêu dùng và thế chấp mua nhà
Bất chấp nỗ lực của chính phủ trong việc bơm 250 tỉ USD và giảm lãi suất cho
các ngân hàng để đẩy mạnh hoạt động cho vay, các nhà băng vẫn tỏ ra rất dè dặt và
có tư tưởng giữ chặt hầu bao. 65% ngân hàng trong nước vẫn chặt chẽ trong việc thi
hành triển khai các lĩnh vực kinh doanh và các tiêu chuẩn cho vay, 80% ngân hàng
nội địa giám sát kỹ càng hoạt động cho vay thương mại bất động sản.
Hiện vẫn chưa có ngân hành nào nới lỏng tiêu chuẩn cho vay thế chấp.
Việc thắt chặt tín dụng này chủ yếu là do các ngân hàng lo lắng về viễn cảnh không
tươi sáng của nền kinh tế. Đồng thời, chịu ảnh hưởng xấu từ cuộc khủng hoảng tín
dụng của kinh tế, các ngân hàng rất mẫn cảm với các vấn đề mà các doanh nghiệp

Trang 21
Tuy nhiên tác động này có lẽ không quá trầm trọng. Hơn nữa, từ cái nhìn trung
và dài hạn về kinh tế Mỹ tương đối lạc quan nên Châu Á cũng chỉ bị ảnh hưởng
trong thời gian 1-2 năm trước mắt. Mặt khác, với lượng dự trữ ngoại tệ rất lớn, nhiều
nước châu Á sẽ có tiếng nói mạnh hơn trong quan hệ với Mỹ và trong các diễn đàn
quốc tế bàn về ổn định kinh tế thế giới.
2.1.1.1 Thị trường tài chính
Trước hết, châu Á chịu ảnh hưởng lớn nhất có lẽ là thị trường chứng khoán.
Chứng khoán ở Mỹ tụt dốc gây nên tâm lý bất an giữa những nhà đầu tư tại Châu Á
và thị trường chứng khoán của những nước này cũng suy sụp theo.
Biểu đồ 11: Mức độ sụt giảm của một số chỉ số chứng khoán Châu Á 2008
Nguồn : Bloomberg, BVSC
Tuy nhiên tác động này chỉ mạnh trong các nền kinh tế tiên tiến, thị trường
chứng khoán đã phát triển đáng kể như Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan. Một số ngân
hàng, một số các công ty chứng khoán, bảo hiểm ở các nước châu Á đang nắm giữ
những chứng khoán do Fannie Mae và Freddie Mac phát hành nên phải chịu tổn thất
trong cuộc khủng hoảng ở Mỹ. AIG cũng là công ty hoạt động toàn cầu, có mặt tại
các thị trường lớn ở châu Á nên cũng gây những ảnh hưởng tương tự ở nhiều mức
độ khác nhau đến các ngân hàng hoặc công ty tài chính châu Á. Nhưng ảnh hưởng
này chỉ giới hạn trong một số công ty, một số ngân hàng chứ không lớn đến nỗi ảnh
hưởng tới cả nền kinh tế các nước châu Á, nhất là những nước chưa phát triển ở
trình độ cao.
Trang 22
Theo tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đối với các ngân hàng châu Á
không lớn như với các ngân hàng Mỹ và châu Âu. Châu Á chỉ bị ảnh hưởng tương
đối bởi các ngân hàng châu Á không có nhiều khoản nợ nguy hiểm với các tập đoàn
tài chính Mỹ, đồng thời thị trường tài chính châu Á chưa có mức độ toàn cầu hóa
như châu Âu, nên những khoản thế chấp tại thị trường Mỹ rất nhỏ. Mặc dù vậy,vẫn
không thể phủ nhận tác động của cuộc khủng hoảng từ Mỹ tới các nền kinh tế khác
và chúng ta không được chủ quan trước diễn biến của nó. Song châu Á vẫn là khu

kinh tế thế giới.
Với lượng dự trữ ngoại tệ rất lớn (tính tới cuối tháng 01/2009 Trung Quốc là
1.950 tỉ USD đứng đầu thế giới; Nhật xếp thứ hai với 1004,66 tỉ USD (06/2008),
Hàn Quốc khoảng 202 tỉ USD-tính đến cuối tháng 01/2009), các nước châu Á này
sẽ có thể dễ dàng mua nhiều trái phiếu chính phủ Mỹ, tham gia sở hữu nhiều công ty
tài chính của Mỹ và tích cực xuất vốn cho các dự án giúp những nước gặp khó khăn
về ngoại tệ.
Hiện nay Nhật đã bắt đầu cho thấy vai trò đó. Tập đoàn tài chính Mitsubishi
UFG của Nhật đã mua 21% cổ phiếu của Morgan Stanley, Tập đoàn Nomura đã
mua một số cổ phiếu của các cơ sở hoạt động của Lehman Brothers tại châu Á, châu
Âu và Trung Đông. Bộ trưởng Tài chính Nhật vừa đưa đề án yêu cầu IMF đứng ra
lập quỹ hỗ trợ các nền kinh tế gặp khó khăn và hứa sẽ đóng góp tích cực.
Sự thất thế của Mỹ trên thị trường tài chính quốc tế sẽ tạo cơ hội cho Trung
Quốc xác lập vị thế của mình trên thị trường tài chính toàn cầu. Chẳng hạn, thu hút
các nhà quản lý cấp cao người Hoa từ trong giới tài chính, ngân hàng Mỹ. Một lợi
thế nữa với Trung Quốc là do nước này có lượng dự trữ lớn, trong khi Mỹ đang cần
tiền mặt. Điều này có thể khiến Mỹ phải nhượng bộ Trung Quốc trong các vấn đề
chính trị - quân sự.
2.1.2 Nguy cơ tái diễn cuộc khủng hoảng tài chính châu Á lần thứ 2 có xảy
ra không ?
2.1.2.1 Nguy cơ thấp
Tình hình kinh tế, tài chính của châu Á đã thay đổi so với trước, đồng thời có
nhiều dấu hiệu cho thấy khủng hoảng tài chính châu Á khó tái diễn, chủ yếu thể hiện
trên ba phương diện sau:
Trang 24
Thứ nhất, chính sách tiền tệ của các nước Đông Á đã thay đổi. Hiện nay, đồng
nội tệ của các nước Đông Á không còn gắn đơn nhất với đồng USD, mà hầu hết các
nước Đông Á đều đã áp dụng chính sách "rổ tiền tệ" có tính linh hoạt cao, tức là gắn
kết đồng nội tệ với một "rổ" gồm nhiều đồng tiền khác nhau.
Do đó, nếu chỉ có đồng USD mất giá sẽ chưa đủ tạo ra mối đe dọa lớn đối với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status