TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN MÔN HỌC QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
Tên đề tài: RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
GVHD: PGS.TS TRẦN HUY HOÀNG
Nhóm thực hiện: Nhóm 3_NH Ngày 2 K21:
3.1 Các phương pháp phòng ngừa rủi ro lãi suất thông thường 11
3.1.1 Dự báo về biến động lãi suất 11
3.1.2 Theo dõi tính nhạy cảm với lăi suất của các tài sản 11
3.1.3 Áp dụng chính sách mềm dẻo cho các khoản vay 12
3.2 Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các mô hình đo độ rủi ro lãi suất 12
3.2.1 Mô hình kỳ hạn đến hạn 12
3.2.2 Mô hình thời lượng 13
3.2.3 Mô hình định giá lại 14
3.3 Các nghiệp vụ hạn chế rủi ro lãi suất 14
3.3.1 Hợp đồng kỳ hạn 14
3.3.2 Hợp đồng tương lai 15
3.3.3 Hợp đồng quyền chọn lãi suất 16
3.3.4 Hợp đồng hoán đổi lãi suất (SWAP) 17
Kết luận
Tài liệu tham khảo DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮC
NHNN: Ngân hàng Nhà Nước
LSTG: Lãi suất tiền gửi
LSCV: Lãi suất cho vay
NHTM: Ngân hàng thương mại
CSTT: Chính sách tiền tệ
TCTD: Tổ chức tín dụng
LSCB: Lãi suất cơ bản
DTBB: Dự trữ bắt buộc
DN: Doanh nghiệp
NH: Ngân hàng
chia làm 2 quan điểm:
- Theo quan điểm truyền thống: rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên
quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người.
- Theo quan điểm trung hòa: Rủi ro là một sự không chắc chắn, một tình trạng bất ổn hay sự biến
động tiềm ẩn ở kết quả. Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro. Chỉ có những
tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác định xảy ra mới được xem là rủi ro.
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự
tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một
khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định.
1.1.2 Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Rủi ro tín dụng (Credit Risk): là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng,
biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân
hàng.
Rủi ro tỷ giá hối đoái (Foreign Exchange Rate (Forex) Risk): là loại rủi ro phát sinh trong quá
trình cho vay ngoại tệ hoặc kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho ngân
hàng.
Rủi ro lãi suất (Interest Rate Risk): là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị
trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu
nhập của ngân hàng.
Rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk): là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả
năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng
yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
Rủi ro tác nghiệp (Operational Risk): là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân
hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên
ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng.
1.2 Lãi suất và rủi ro lãi suất
1.2.1 Nguyên tắc hình thành lãi suất
- Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của quyền được sử
dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người cho vay; là
tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định.
1.2.2 Các bộ phận cấu thành lãi suất
Lãi suất thị trường của một khoản vay được cấu thành bởi ba bộ phận:
- Lãi suất thực không rủi ro.
- Hệ số lãi suất danh nghĩa.
- Hệ số rủi ro.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất:
- Mức cung cầu tiền tệ;
- Lạm phát dự tính;
- Sự phát triển của nền kinh tế trong chu kỳ kinh doanh;
- Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước;
- Sự ổn định của nền kinh tế
- Các chính sách vĩ mô của Chính phủ.
1.4 Rủi ro lãi suất
1.4.1 Khái niệm rủi ro lãi suất:
Theo Timothi W.Koch (Bank Management 1995 – University of South Crolina): rủi ro lãi suất là sự
thay đổi tiềm tàng về thu nhập lãi ròng và giá trị thị trường của vốn ngân hàng xuất phát từ sự thay đổi
của mức lãi suất.
Theo Thomas P.Fitch thì rủi ro lãi suất là rủi ro khi thay đổi lãi suất thị trường sẽ dẫn đến tài sản
sinh lời giảm giá trị.
1.4.2 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất
1.4.2.1 Khi xuất hiện sự không cân xứng về kỳ hạn giữa Tài sản và Nợ
3
- Kỳ hạn của Tài sản lớn hơn kỳ hạn của Nợ: Ngân hàng huy động vốn ngắn hạn để cho vay, đầu tư
dài hạn. Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo tăng lên trong
khi lãi suất cho vay và đầu tư dài hạn không đổi.
- Kỳ hạn của Tài sản nhỏ hơn kỳ hạn của Nợ: Ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài để cho vay,
đầu tư với kỳ hạn ngắn. Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo
không đổi trong khi lãi suất cho vay và đầu tư giảm xuống.
Ví dụ: Ngân hàng áp dụng lãi suất cố định
Cho vay 3 tháng với lãi suất cố định
Đi vay 12 tháng với lãi suất cố định
Trong trường hợp này, ngân hàng có thể gặp rủi ro lãi suất vì sau 3 tháng, ngân hàng phải tiếp tục
cho vay theo lãi suất giảm của thị trường. Điều đó làm cho lợi nhuận ngân hàng giảm, thậm chí là âm.
Hoặc trong trường hợp ngân hàng:
Cho vay 12 tháng với lãi suất cố định
Đi vay 3 tháng với lãi suất cố định
4
Khi lãi suất tăng lợi nhuận ngân hàng giảm. Vậy rủi ro lãi suất của ngân hàng là chi phí vốn trở nên
cao hơn thu nhập từ sử dụng vốn. Do đó, tùy theo cơ cấu bảng cân đối và độ nhạy cảm lãi suất giữa sử
dụng và nguồn vốn mà lợi nhuận của ngân hàng có thể thay đổi tùy thuộc sự biến động của lãi suất.
1.4.3.2 Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất
- Rủi ro lãi suất làm tăng chi phí nguồn vốn của ngân hàng
- Rủi ro lãi suất làm giảm thu nhập từ tài sản của ngân hàng
- Rủi ro lãi suất làm giảm giá trị thị trường của tài sản và vốn chủ sở hữu của ngân hàng
Chương 2: Thực trạng rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM Việt
Nam
2.1 Cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam qua các giai đoạn
Mỗi quốc gia khác nhau, vào từng thời kỳ khác nhau của nền kinh tế, tuỳ thuộc vào mô hình của
Ngân hàng Nhà nước mà mỗi quốc gia đó sở hữu, sẽ có khả năng quyết định việc điều chỉnh mức lãi
suất phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế.
a/ Giai đoạn trước tháng 6/1992
NHNN can thiệp ở mức độ cao và trực tiếp vào lãi suất thông qua ấn định các mức LSTG và LSCV.
Cơ chế lãi suất âm và mang nặng tính chất bao cấp được duy trì suốt thời kỳ này với:
- LSCV đối với doanh nghiệp nhà nước < LSCV đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh;
- Lãi suất danh nghĩa < tỷ lệ lạm phát;
- LSCV ngắn hạn > LSCV dài hạn;
1,1% năm 1997 xuống 0,7%/tháng từ 4/9/ 1999) để phù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung- cầu vốn
trên thị trường và thực hiện giải pháp kích cầu về đầu tư của Chính phủ.
- Đến cuối tháng 1/1998, NHNN xoá bỏ qui định chênh lệch lãi suất, chỉ còn qui định trần lãi suất cho
vay. Cùng với nới lỏng sự kiểm soát lãi suất, NHNN liên tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo
hướng giảm cơ cấu trần và mức khống chế, đặc biệt trong các năm 1998,1999.
- Để bổ sung thêm công cụ điều hành lãi suất, tháng 11/1999 NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ chiết
khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá cho các NHTM, lãi suất tái chiết khấu được qui định ở mức thấp hơn
0,05%/tháng so với lãi suất tái cấp vốn;
- Tháng 7/2000, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất thị trường mở được hình
thành qua các phiên giao dịch.
d/Giai đoạn từ tháng 8/2000 đến năm 2008
Đây là giai đoạn sử dụng lãi suất cơ bản cùng với lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn trong
điều hành chính sách tiền tệ. TCTD ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng trên cơ sở lãi suất cơ
bản do NHNN công bố theo nguyên tắc lãi suất cho vay không được vượt quá mức lãi suất cơ bản cộng
biên độ do Thống đốc NHNN quy định từng thời kỳ.
c/ Giai đoạn 2008 đến nay
+ Năm 2008
Trước tình hình lạm phát có dấu hiệu gia tăng, NHNN bắt đầu sử dụng CSTT thắt chặt thông qua
việc tăng lãi suất, tăng dự trữ bắt buộc. LSCB được điều chỉnh tăng từ 8,25% lên 8,75% vào tháng
1/2008. Đến tháng 3/2008, NHNN phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN bắt buộc đối với 41
NHTM để rút tiền lưu thông trong nền kinh tế.
Để đảm bảo thanh khoản, các ngân hàng tăng lãi suất huy động, đóng cửa tín dụng. Rủi ro lãi suất
tăng lên vì lãi suất huy động tăng nhanh hơn, vượt lãi suất cho vay làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của
ngân hàng, thậm chí lãi suất qua đêm liên tục gia tăng kỷ lục đặc biệt là vào ngày 20/2/2008 lãi suất
VNĐ cho vay qua đêm lên đến 43% là mức tăng cao nhất chưa từng có trên thị trường ngân hàng Việt
Nam. Điều này làm cho các ngân hàng thương mại siết chặt các khoản cho vay, làm ảnh hưởng tới hoạt
động đầu tư và sản xuất kinh doanh.
Tín hiệu xấu từ nền kinh tế vĩ mô trong nước trong 4 tháng đầu năm 2008, nhất là thâm hụt thương
mại và tỷ lệ lạm phát tiếp tục gia tăng càng tạo sức ép cho nền kinh tế. Trước khó khăn đó, Chính phủ
đã xác định nhiệm vụ trọng tâm trong công tác điều hành trong thời gian tới tiếp tục thực hiện mục tiêu
đến nguy cơ các ngân hàng luôn phải đối mặt với tổn thất do rủi ro lãi suất.
Năm 2009
Từ tháng 2/2009 NHNN duy trì mức lãi suất cơ bản tại 7% quy định mức lãi suất kinh doanh cho
vay sản xuất kinh doanh của các tổ chức tín dụng tối đa là 10,5%,lãi suất cho vay tiêu dùng là lãi suất
thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Trong năm 2009, NHNN và các bộ ngành có liên quan
đã triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất 4%/ năm. Các doanh nghiệp, hộ gia đình được hỗ trợ lãi suất 4%
sẽ phải chi với mức lãi suất tối đa là 6,5%/năm.
Sau khi lãi suất cơ bản được giữ nguyên trong suốt 10 tháng, đến ngày 25/11/2009, NHNN đã ra
quyết định QĐ 2665/QĐ-NHNN tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%.Việc tăng lãi suất cơ bản là hợp lý
nhưng có phần hơi chậm trễ do việc duy trì mức lãi suất 7% trong thời gian dài đã khiến cho tăng
trưởng tín dụng tăng cao. Đáng chú ý trong thời gian này là cơ chế “lãi suất trần” dần bộc lộ những
nhược điểm của nó trong điều kiện kinh tế hội nhập như hiện nay. Theo đúng như lý thuyết thì mức lãi
suất phản ảnh được mối quan hệ cung- cầu trên thị trường. Tuy nhiên, khi bị “gộp” vào một trần cho
vay như vậy, các ngân hàng lại có cách “lách” được mức trần lãi suất. Bên cạnh đó, trần lãi suất đã làm
thay đổi cơ cấu huy động vốn của các TCTD: nguồn vốn huy động ngắn hạn tăng lên trong khi nhu cầu
huy động trung dài hạn là rất lớn, điều này làm cho sự mất cân đối kỳ hạn vốn tăng lên. Do vậy, ngày
26/2/2010 NHNN đã ban hành Thông tư số 07/2010/TT_NHNN cho phép các ngân hàng được phép áp
dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận thỏa mãn đối với các khách hàng vay trung dài hạn nhằm đáp ứng nhu
cầu vốn để trực tiếp phục vụ đời sống của cá nhân và hộ gia đình, các hoạt động cho vay tiêu dùng
thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Năm 2010:
Năm 2010, một năm đầy biến động của thị trường tiền tệ trong nước cũng như trên thế giới, một
năm mà nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn phục hồi sau những ảnh hưởng từ
biến động kinh tế thế giới 2008 – 2009. Trước những biến động đó, để thực hiện đồng bộ với các giải
pháp của Chính phủ, NHNN thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt nhằm tạo điều
kiện hỗ trợ tích cực cho thị trường tiền tệ - tín dụng hoạt động ổn định, góp phần hỗ trợ tăng trưởng
kinh tế và kiềm chế lạm phát gia tăng những tháng cuối năm một cách hiệu quả. Theo đó, NHNN đã
duy trì lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam ổn định ở mức 8% trong suốt 10 tháng đầu năm và thực
hiện điều chỉnh lên mức 9% trong hai tháng cuối năm trước sức ép của lạm phát. Bên cạnh đó, để tạo
điều kiện cho thị trường tiền tệ hoạt động theo quy luật thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, NHNN
NHNN về mức lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam và đôla Mỹ. Chỉ thị nêu rõ, nếu vi phạm các quy
định trên, người quản lý, điều hành của tổ chức tín dụng sẽ bị đình chỉ, miễn nhiệm chức vụ trong thời
hạn 3 năm; Các tổ chức tín dụng vi phạm sẽ bị hạn chế mở rộng phạm vi, quy mô, địa bàn hoạt động
trong thời hạn 1 năm kể từ ngày bị xử lý; Hoạt động huy động và cho vay của đơn vị vi phạm cũng bị
hạn chế hoặc tạm đình chỉ.
Nếu năm 2010, các đồng thuận lãi suất 11%, 12% rồi 14%/năm được đặt ra, thì đến đầu 2011 nó
tiếp tục bị phá vỡ. Và ngày 3/3/2011, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 02/2011/TT-NHNN,
chính thức áp trần 14%/năm, và sau đó là những xáo trộn từ các thỏa thuận ngầm, sự nở rộ của các giao
dịch ủy thác…
Nửa cuối năm 2011, Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiêm quy định trần, một số ngân hàng bị xử
lý mà lần đầu tiên trong hệ thống có cụm từ “ngân hàng cài bẫy lẫn nhau”.
Năm 2012:
Dấu hiệu căng thẳng thanh khoản trên hệ thống ngân hàng trong những tháng cuối năm 2011 tiếp
tục kéo dài sang năm 2012 khiến NHNN duy trì áp dụng biện pháp hành chính là áp trần lãi suất huy
động.
Chỉ trong vòng chưa đầy ba tháng, Ngân hàng Nhà nước liên tiếp hạ trần lãi suất huy động VND, từ
14%/năm xuống còn 9%/năm có hiệu lực từ ngày 11/6/2012. Cơ chế áp trần cũng thay đổi, mở tự do
hóa lãi suất từ kỳ hạn 12 tháng trở lên. Phía sau loạt điều chỉnh này, đặc biệt là về cơ chế, đường cong
8
lãi suất bắt đầu định hình lại với lãi suất tại nhiều thành viên đã cao hơn ở các kỳ hạn dài. Và như vậy,
sau 8 năm, lãi suất huy động VND một lần nữa trở về mốc 9%/năm phổ biến trên biểu niêm yết.
Tính từ đầu năm đến 17/12/2012, lãi suất tái cấp vốn đã giảm từ 15% xuống còn 10%, lãi suất tái
chiết khấu đã giảm từ 13% xuống còn 8%, và trần lãi suất huy động kỳ hạn ngắn ngày giảm từ 14%
xuống còn 9%.
Song song với động thái kéo giảm trần lãi suất huy động, NHNN cũng đã áp trần lãi suất cho vay
(hiện duy trì ở mức 13%/năm) đối với 4 lĩnh vực ưu tiên: (1) Phục vụ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn,
(2) Thực hiện phương án, dự án sản xuất – kinh doanh hàng xuất khẩu, (3) Phục vụ sản xuất – kinh
doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, (4) Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ; hay kêu gọi đưa lãi suất
Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung
dài hạn (%)
Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn
vốn huy động (%)
30/04/2012
30/09/2012
31/12/2012
30/04/2012
30/09/2012
31/12/2012
0
2
4
6
8
10
12
14
16
01/01 13/3 04/11 28/5 06/11 24/12
Trần lãi suất
huy động
9
NHTM Nhà nước
5,88
21,89
21,45
97,04
97,80
94,58
Toàn hệ thống
7,58
16,81
17,16
94,73
90,91
89,35
Rủi ro lãi suất cũng xuất hiện đối với một số chi nhánh NHTM có thị trường huy động vốn, trong khi
dư nợ thấp và kinh doanh nguồn vốn bằng cách điều vốn đi để hưởng phí điều vốn của hệ thống, khi đã
huy động các kỳ hạn dài với lãi suất cố định trả sau. Nhưng phí điều hòa vốn cũng là công cụ điều tiết
của từng NHTM, vì vậy khi phí sử dụng vốn của toàn hệ thống ngân hàng đó liên tục hạ, để tránh tình
trạng ứ đọng vốn và kích thích đầu tư… thì các chi nhánh của ngân hàng này cũng bị rủi ro nguồn vốn,
dẫn đến thua lỗ.
Để có thể thấy được mức độ của rủi ro lãi suất, ta có thể sử dụng số liệu về nguồn vốn vay liên
ngân hàng được sử dụng để đầu tư tại các ngân hàng (đây là khoản chênh lệch giữa tiền gửi và vay của
TCTD khác với tiền gửi và cho vay TCTD khác). Nguồn vốn vay liên ngân hàng thường có giá trị rất
lớn, vì vậy khi nguồn vốn vay này bị rút về, nếu không thể vay liên ngân hàng để trả thì việc huy động
vốn từ tổ chức kinh tế và dân cư để bù đắp khoản thiếu hụt này phải mất rất nhiều thời gian, điều này
dễ dàng đẩy các ngân hàng vào tình trạng thiếu thanh khoản. Số liệu về tỷ lệ % nguồn vốn vay liên
ngân hàng được sử dụng để đầu tư so với tổng tài sản của một số NHTM như sau:
STT
Ngân hàng
Tỷ trọng nguồn vốn
vay liên ngân hàng được
sử dụng để đầu tư so với
tổng tài sản
STT
7
MSB
(**)
4,94%
4
STB
(**)
1,87%
8
HDB
(**)
5,67%
Nguồn: tổng hợp từ website
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, việc thiếu thanh khoản rất nguy hiểm vì nó có thể ảnh
hưởng đến toàn hệ thống. Khi nguồn vốn vay liên ngân hàng bị rút về trong khi các khoản đầu tư chưa
đến hạn thu hồi. Nếu ngân hàng có thể huy động kịp nguồn vốn liên ngân hàng phải trả thì các ngân
hàng cũng phải đối mặt với rủi ro lãi suất rất cao sẽ làm giảm lợi nhuận ngân hàng vì tốc độ tăng các
khoản lãi thu được tăng chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng các khoản lãi phải trả.
Đối với lãi suất huy động USD trong thời gian qua cũng có sự sụt giảm. Theo Thông tư số
14/2011/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 02/06/2011, các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất huy động vốn
tối đa bằng USD đối với tổ chức là 0,5%/năm (giảm 0,5%/năm so với quy định cũ) và cá nhân 2%/năm
(giảm 1%/năm so với quy định cũ). Mức lãi suất huy động vốn tối đa bao gồm cả khoản khuyến mãi
dưới mọi hình thức và áp dụng đối với mọi phương thức trả lãi cuối kỳ. Diễn biến lãi suất huy động
USD tại Việt Nam khá tương đồng với thị trường quốc tế. Cục dự trữ Liên bang Mỹ hiện duy trì mức
lãi suất cơ bản siêu thấp, từ 0% - 0,25%.
10
Nguồn:
Tại hội nghị mới đây, Ngân hàng Nhà nước cho biết, năm 2013 sẽ xem xét bỏ trần lãi suất huy
động.
Rủi ro lãi suất trong hoạt động cho vay còn xảy ra khi NHNN thay đổi lãi suất cơ bản, thay đổi dự
trữ bắt buộc để thực thi chính sách tiền tệ, gây ra những hiệu ứng dẫn đến rủi ro lãi suất cho các
NHTM. Khi lãi suất cơ bản tăng, lãi suất huy động và cho vay sẽ tăng, nhưng chỉ áp dụng với khoản
vay mới phát sinh, còn các khoản dư nợ hiện hành, nhất là các khoản cho vay trung dài hạn có lãi suất
danh nghĩa ghi trên hợp đồng tín dụng đang ở mức thấp thì rủi ro lãi suất là điều khó tránh. Hiện nay
các ngân hàng đang sử dụng hệ thống thay đổi lãi suất linh hoạt, tuy nhiên cũng phải thỏa thuận với
khách hàng để chia sẻ rủi ro.
Trong thực tế, rất ít NHTM có đủ cơ cấu cân đối giữa nguồn vốn trung dài hạn với dư nợ trung dài
hạn, trong khi chi phí huy động vốn tăng nhưng thu nhập của các khoản cho vay trung dài hạn này
không thay đổi sẽ làm thu nhập của ngân hàng sụt giảm.
Khi lãi suất cơ bản giảm, các NHTM sẽ thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất huy động, giảm lãi suất
cho vay, nhưng cũng áp dụng đối với các khoản tiền gửi và tiền vay mới phát sinh, còn các món hiện
hành sẽ được giữ nguyên theo hợp đồng tín dụng, sổ tiết kiệm hoặc chứng chỉ tiền gửi. Do đó khi lãi
11
suất cơ bản giảm, lãi suất huy động giảm thì không có nghĩa là chi phí huy động vốn của ngân hàng đã
giảm ngay lập tức. Nhưng đối với các khoản dư nợ phát sinh trước đây với lãi suất trên hợp đồng tín
dụng khá cao thì chưa chắc NHTM đã thu được lãi theo đúng lãi suất đã ghi trên hợp đồng tín dụng, do
khách hàng phàn nàn lãi suất cao so với thị trường và sẽ thỏa thuận giảm lãi suất với ngân hàng hoặc sẽ
tìm cách trả nợ trước hạn, gây ra rủi ro lãi suất làm giảm thu nhập của ngân hàng.
chuyển hóa nguồn vốn tín dụng tiền mặt và tài sản sinh lời, tức là việc phân chia vốn giữa tiền mặt, tín
dụng, đầu tư và các tài sản khác. Các khoản đầu tư càng ngắn hạn thì càng nhạy cảm với lãi suất, nghĩa
12
là khi lãi suất thay đổi thì thu nhập từ các khoản mục này sẽ thay đổi theo. Thực hiện thông qua các
phương pháp: phân tích khoảng cách, phân tích khoảng cách thời gian tồn tại.
Phương pháp này sẽ cho ta biết được mức độ đối mặt của NH trước rủi ro lãi suất một cách chính xác.
3.1.3 Áp dụng chính sách mềm dẻo cho các khoản vay
Để phòng ngừa cho NH gặp phải rủi ro lãi suất, NH có thể đưa ra chính sách lãi suất mềm dẻo cho
các khoản vay và các tài sản của NH có kỳ hạn dài. Đối với các khoản vay có kỳ hạn dài, NH có thể
đưa ra các mức lãi suất thay đổi theo lãi suất trên thị trường theo tháng, quý, nửa năm, năm hoặc trong
thời gian đầu NH có thể đưa ra lãi suất cao hơn một chút so với đối thủ cạnh tranh, sau đó lãi suất này
được trả giảm dần đi ở các năm sau, Ngoài ra, NH có thể áp dụng lãi suất thay đổi theo thị trường nhất
là lãi suất trong thời kỳ thường xuyên biến động mạnh.
3.2 Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các mô hình đo độ rủi ro lãi suất
3.2.1 Mô hình kỳ hạn đến hạn
a) Ví dụ về mô hình kỳ hạn đến hạn:
Giả sử ngân hàng giữ một trái phiếu kỳ hạn đến hạn là một năm, mức lợi tức không đổi là 10%/năm
(C), mệnh giá trái phiếu được thanh toán khi đến hạn là 100 USD (F), mức lãi suất đến
hạn một năm hiện hành của thị trường là 10%/ năm (R), giá trái phiếu là P
B
:
P
1
B
= F + C / (1+ R) = (100 + 10%*100) / (1 + 10%) = 100
Khi lãi suất thị truờng tăng ngay lập tức từ 10% đến 11%, giá thị trường của trái phiếu giảm.
B’
= 10% * 100 / (1 + 11%)
1
+ 100 (1 + 10%) / (1 + 10%)
2
= 100
AP
2
= 98,29 – 100 = -1,71%
AP
2
– AP
1
= -1,71% - (-0,9%) = -0,81%
Mức giảm giá của trái phiếu có kỳ hạn 2 năm nhiều hơn là trái phiếu có kỳ hạn 1 năm.
Tương tự đối với trái phiếu có kỳ hạn 3 năm, khi lãi suất thị trường tăng từ 10% lên 11%, giá của nó sẽ
giảm –2,24% và do đó:
AP
3
– AP
2
= -2,44% - (-1,71%) = -0,73%
-0,73% < -0,81 %
Nếu kỳ hạn của tài sản càng dài thì mức độ thiệt hại tài sản tuyệt đối tăng lên, nhưng tỉ lệ % thiệ
t hại giảm dần.
b) Mô hình kỳ hạn đến hạn đối với một danh mục tài sản.
L1
M
L1
+ W
L2
M
L2
+ W
L3
M
L3
+… + W
Ln
M
Ln
Trong đó W
AJ
là tỷ trọng của tài sản có j, giá trị tài sản tính theo giá trị thị truờng (không phải là giá
trị ghi sổ), và ta có:
13 W
Lj
là tỉ trọng của tài sản nợ, được biểu thị bằng giá trị thị trường, và:
Ảnh hưởng của lãi suất lên bảng cân đối tài sản là phụ thuộc vào:
+ Mức độ chênh lệch M
A
1
= 53,49 tr
CF
1
= 53,75 PV
1
= 53,75 / (1 + 15% * 1/2)
1
= 46,51 tr
PV
1/2
+ PV
1
= 100 triệu
Để tính được thời lượng của 2 luồng tiền này, ta tính giá trị hiện tại của luồng tiền, tỷ trọng giá trị hiện
tại của CF
1/2
tại thời điểm t = 1/2 năm và CF
1
tại thời đểm t=1 năm
Gọi X là tỷ trọng
X
1/2
= PV
1/2
/(PV
1/2
+ PV
1
1
= CF
1
/(1+15%) =115/1,15=100
X
1
= PV
1
/PV
1
= 1
D
D
= X
1
*1 = 1năm
b) Mô hình thời lượng đối với một danh mục tài sản:
D
A
= X
1A
D
1
A
+ X
2A
D
2
A
+ ….+ X
1A
+ X
2A
+ ….+ X
nA
= 1
X
1L
D
1
L
+ X
2L
D
2
L
+ ….+ X
nL
D
n
L
X
i
là tỷ trọng
D
i
là thời lượng của tài sản i trong tài sản có hoặc tài sản nợ
c) Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng mô hình thời lượng
Nhiều nhà mô hình cho rằng mô hình thời lượng rất khó áp dụng vào thực tế nhưng thực tiễn không
3.3 Các nghiệp vụ hạn chế rủi ro lãi suất
3.3.1 Hợp đồng lãi suất kỳ hạn
Hợp đồng lãi suất kỳ hạn là sự thoả thuận của hai chủ thể về việc mua (bán) một số lượng chứng
khoán (hay những công cụ tài chính) với một mức lãi suất được thỏa thuận vào ngày hôm nay cho việc
chuyển giao chứng khoán vào một ngày được thỏa thuận trong tương lai.
Giả sử ngân hàng dự báo lãi suất sẽ tăng trong thời gian tới làm giảm giá trị thị trường trên bảng
cân đối tài sản của các trái phiếu mà ngân hàng đang nắm giữ, để bù đắp sự thua lỗ này, ngay từ bây
giờ ngân hàng sẽ bán kỳ hạn số trái phiếu nói trên với mức giá được thỏa thuận vào ngày hôm nay.
Những trường hợp có thể xẩy ra khi hợp đồng đến hạn:
- Nếu lãi suất thực tế tăng, ngân hàng sẽ bán trái phiếu cho người mua theo giá hợp đồng và dùng
số tiền đó mua lại số trái phiếu đã bán với giá rẻ hơn. Lãi suất thu được trong trường hợp này được
dùng để bù đắp khoản thua lỗ trên bảng cân đối tài sản do trái phiếu giảm giá trên bảng cân đối tài sản.
- Nếu lãi suất thực tế giảm, giá trị thị trường trên bảng cân đối tài sản của trái phiếu sẽ tăng, ngân
hàng cũng sẽ bán trái phiếu cho người mua theo giá hợp đồng và dùng số tiền đó mua lại trái phiếu đã
bán với giá cao hơn. Lỗ từ trường hợp này bù đáp bằng khoản lãi do trái phiếu tăng giá trên bảng cân
đối tài sản.
3.3.2 Hợp đồng lãi suất tương lai:
Các nghiệp vụ hạn chế
rủi ro lãi suất
Hợp đồng
kỳ hạn
Hợp đồng
tương lai
Giao dịch
quyền chọn
Hoán đổi lãi
suất (SWAP)
∆r = 1% = 0,01; 1 + r = 1,10.
Để thấy được việc sử dụng các hợp đồng tương lai để đảm bảo sự không cân xứng về thời lượng
của toàn bộ bảng cân đối tài sản, chúng ta giả thiết rằng: giả sử nhà quản trị ngân hàng nhận được
thông tin dự báo rằng lãi suất dự tính sẽ tăng từ 10% lên 11%, tức là: ∆r = 1% = 0,01; 1 + r = 1,10
Giả sử trạng thái ban đầu của bảng cân đối tài sản như sau:
Tài sản có (triệu)
Tài sản nợ (triệu)
Tài sản có A = $100
Vốn huy động L = $90
Vốn tự có E = $10
Cộng = $100
Cộng: = $100
Nhà quản trị ngân hàng dự tính khoản lỗ với vốn tự có trong trường hợp dự báo về thay đổi lãi suất
là đúng như sau
Nhà quản trị ngân hàng dự tính khoản lỗ với vốn tự có trong trường hợp dự báo về thay đổi lãi suất
như sau:
0,01
∆E = - (5 – 0,9x3)x100x = -$2,09 triệu
1,10
Như vậy, ngân hàng dự tính chịu khoản lỗ vốn tự có là 2,09 triệu USD trong trường hợp lãi suất
tăng từ 10% lên 11%. Với số vốn tự có ban đầu là 10 triệu USD thì giá trị còn lại của vốn tự có là 7,91
triệu USD.
Để đảm bảo rủi ro cho toàn bộ bảng cân đối tài sản thì nhà quản trị phải tiến hành các giao dịch
tương lai sao cho khi lãi suất thị trường tăng từ 10% lên 11% sẽ thu được từ các hợp đồng tương lai
một khoản lợi tức đủ để bù đắp khoản lỗ 2,09 triệu USD. Bởi vì, các hợp đồng tương lai phản ánh giá
16
trị của các chứng khoán được sử dụng trong mua bán của hợp đồng, cho nên, khi lãi suất tăng thì giá
) x A
NF =
DF x PF
Với: D
A
= 5 năm, D
L
= 3 năm, A = 100 triệu, DF = 6 năm, PF = 97.000
Suy ra: NF = 395,19
Ngân hàng không thể bán lẻ một phần của hợp đồng nên số hợp đồng ngân hàng bán cần được làm
tròn, tức là 395 hợp đồng.
3.3.3 Hợp đồng quyền chọn lãi suất:
Hợp đồng quyền chọn lãi suất là một công cụ cho phép người mua có quyền (nhưng không bắt
buộc) được mua hoặc bán một số lượng tài sản tài chính tại thời điểm xác định trong tương lai, với một
mức giá được xác định ngay tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng.
Có 2 loại quyền chọn lãi suất:
- Quyền chọn mua (call option) lãi suất là một công cụ cho phép người mua nó có quyền (nhưng
không bắt nuộc) được mua một số lượng tài sản tài chính vào ngày đáo hạn của hợp đồng với một mức
giá được xác định trước.
Ngân hàng sẽ mua quyền chọn mua khi dự báo trong tương lai lãi suất thị trường sẽ giảm, vì lúc
đó giá trị thị trường của các chứng khoán, các khoản cho vay hay các hợp đồng tương lai sẽ tăng, việc
thực hiện quyền sẽ mang lai thu nhập cho ngân hàng vì vẫn được hưởng lãi suất đầu tư ở thời điểm lãi
suất chưa giảm.
- Quyền chọn bán (put option) lãi suất là một công cụ cho phép người mua nó có quyền (nhưng
không bắt buộc) được bán một số lượng tài sản tài chính vào ngày đáo hạn của hợp đồng với một mức
giá được xác định trước.
17
Ngân hàng sẽ mua quyền chọn bán khi dự báo trong tương lai lãi suất thị trường sẽ tăng, vì lúc
được rủi ro lãi suất, tăng thu nhập cho ngân hàng. Việc hạn chế rủi ro lãi suất không chỉ có ý nghĩa với
ngân hàng mà còn có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Bên cạnh đó, các
ngân hàng thương mai cũng luôn phải tử nhìn lại mình, luôn tự đổi mới và hoàn thiện cơ cấu hoạt động
của mình nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng cũng như toàn xã hội mà vẫn bảo đảm
được an toàn về nguồn vốn và các hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, vấn đề hạn chế rủi ro lãi suất không chỉ
đơn phương thuộc về Ngân hàng thương mại mà phải có sự kết hợp đồng bộ của mọi người, mọi
ngành, mọi cấp và phải phù hợp với chính sách, mục tiêu của nhà nước đề ra.
0 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Peter S.Rose (2001), “Commercial Bank Management ”, NXB tài chính Hà Nội
2. PGS.TS Trần Huy Hoàng (2010), “Quản trị Ngân hàng thương mại ”, NXB Lao động xã hội
3. PGS.TS Trần Huy Hoàng, TS.Thân thị Thu Thủy, TS.Hồ Viết Tiến, TS.Trần Thị Mộng Tuyết
(2012), “Thị trường tài chính ”, NXB Kinh tế TP.HCM
4. GS.TS Dương Thị Bình Minh, TS. Sử Đình Thành (2010),“Lý thuyết tài chính tiền tệ
NXB Thống Kê
5. TS.Hồ Diệu (2002), Quản trị ngân hàng, NXB thống kê.TP.HCM
6. www.vnba.org.vn
7. www.sbv.gov.vn
8. www.cafef.vn
9. www.vneconomy.vn
10. www.laisuat.vn
11.