Sự can thiệp của FED thông qua 7 công cụ mới của chính sách tiền tệ trong giai đoạn khủng hoảng 2007 2008 - Pdf 95

LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, từ đầu năm 2007, với những dấu hiệu
mở đầu cho sự bất ổn của nền kinh tế Mỹ, bắt đầu từ thị trường bất động sản, thị trường
tài chính đã tác động dây chuyền và gây những hậu quả, tổn thất nặng nề nền kinh tế toàn
cầu, cuộc khủng hoảng tài chính không chỉ dừng lại tại Mỹ mà còn lan rộng ra nhiều
nước trên thế giới. Đứng trước tình hình này, để ổn định thị trường tài chính, Cục Dự Trữ
Liên Bang Mỹ (Fed) cùng với ngân hàng trung ương các nước đã phát huy được vai trò
hết sức quan trọng của mình trong giai đoạn khủng hoảng để can thiệp ổn định thị trường.
Fed đã có những động thái tích cực, mạnh tay, can thiệp vào thị trường tiền tệ. Bằng việc
cho ra đời bảy công cụ chính sách tiền tệ mới bên cạnh ba công cụ truyền thống, Fed đã
giúp thị trường tài chính gần như đã vượt qua được cuộc khủng hoảng. Trong suốt gần
hai năm áp dụng những công cụ mới này, Fed đã bị gán cho nhiều chức năng mới xưa
nay chưa từng có tiền lệ, đó là “tiệm cầm đồ cuối cùng”, đó là “ngân hàng trung ương
một cấp”… Đề tài này sẽ phân tích những nét chính của các công cụ mới Fed đã đưa ra
áp dụng để hiểu rõ hơn về mục tiêu, cách thức thực hiện, đối tượng áp dụng, cũng như
những tác động của chúng đến nền kinh tế. Từ đó hiểu được lý do vì sao Fed sáng tạo ra
các công cụ chính sách tiền tệ mới này, những tác động tích cực cũng như những rủi ro
Fed phải đối mặt và những động thái can thiệp của Fed đã có ảnh hưởng, tác động như
thế nào đến thị trường, từ đó có thể giúp nền kinh tế Mỹ vượt qua khỏi cuộc khủng
hoảng.
Do khuôn khổ hạn hẹp của bài viết, chúng tôi chỉ đề cập đến 7 công cụ mới có đối
tượng trực tiếp là các tổ chức, cá nhân bên trong nước Mỹ, không đề cập đến công cụ
Hạn mức hoán đổi với các ngân hàng trung ương ( Swap line) mặc dù những tác động
của nó lên bảng cân đối tài sản của Cục dự trữ liên bang Mỹ là rất lớn.
Bài tiểu luận chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn.
Kết cấu đề tài gồm 3 phần:
1. Sơ lược khủng hoảng tài chính Mỹ giai đoạn 2007-2008
2. Các công cụ chính sách tiền tệ của FED ( 3 công cụ truyền thống và 7 công cụ
mới)
3. Đánh giá

2
- Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã báo cáo
thua lỗ lên đến 435 tỷ đôla.
- Ngày 07/09: Cục dự trữ liên bang dành quyền kiểm soát hai tập đoàn Fannie
Mae và Freddie Mac
- Ngày 14/09: Merrill Lynch được bán cho Bank of America với giá 50 tỷ đô la.
- Ngày 15/9: Lehman Bothers tuyên bố phá sản. Ngay sau đó, 3 loại chỉ số ở Mỹ bao
gồm chỉ số Dow Jones, NASDAQ và S&P 500 sụt giảm mạnh nhất kể từ sau sự kiện
11/9/2001.
- Ngày 17/09: Cục dự trữ liên bang Mỹ cho AIG vay 85 tỷ đô la để giúp công ty
này tránh phá sản.
- Ngày 19/09: Kế hoạch giải cứu tài chính của bộ trưởng tài chính Paulson trị giá
700 tỷ đô la được công bố sau một tuần bất ổn trên thị trường tài chính và nợ tín dụng.
Tuy nhiên, quốc hội Mỹ đã không thông qua bản dự thảo này.
- Ngày 26/9: Ngân hàng Washington Mutual – ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ
được chính phủ tiếp quản và sau đó được bán lại cho JP Morgan Chase& Co với giá 1.9
tỷ đôla
- Ngày 30/09: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân hàng cho
vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán lẻ cho đối thủ
Citigroup.
1.2 Nguyên nhân khủng hoảng
Có thể thấy rõ nhất của cuộc khủng hoảng chính là “ Bong bóng bất động sản” – mà
người góp phần gây ra chính là chính sách tiền tệ đi từ nới lỏng đến thắt chặt của Fed và
các công ty định mức tín nhiệm, sự tham gia của toàn bộ mọi thành phần người dân, tổ
chức của Mỹ vào một guồng quay “ chứng khoán hóa mọi thứ”, cộng với sự kiểm soát
lỏng lẻo tài chính dẫn đến sự sụp đổ hệ thống của toàn bộ nền tài chính Mỹ. Những giấy
tờ có giá liên quan đến bất động sản do được thổi phồng quá nhanh đã tạo nên một nền
tài chính quá lớn, khi các thị trường liên quan sụp đổ, nước Mỹ lại quay về thời kỳ “nhận
trợ cấp” từ chính phủ và Cục dự trữ liên bang.
Với các công cụ chính sách tiền tệ khẩn cấp của mình, chúng ta sẽ đi xem xét viêc

thêm một số điểm phần trăm nhất định, đây là lãi suất được coi là lãi suất định hướng thị
trường cao nhất trong thị trường liên ngân hàng, áp dụng khi Fed cung ứng tín dụng cho
các tổ chức ngân hàng nhằm đảm bảo thanh khoản ngắn hạn.
4
Phản ứng tức thời của Fed khi khủng hoảng bắt đầu có dấu hiệu xảy ra là liên tục
giảm lãi suất quỹ dự trữ liên bang, đồng thời giảm khoảng cách giữa FFR và DR từ 100
điểm phần trăm xuống còn 25 điểm phần trăm, thực hiện chính sách tiền tệ “nới lỏng số
lượng” nhằm giảm áp lực trên thị trường tiền tệ, khuyến khích các ngân hàng tham gia
Discount Window để đáp ứng thanh khoản. Tuy nhiên, phản ứng này của Fed đã không
mang lại hiệu quả do những hạn chế về loại tài sản thế chấp và các tổ chức được tham gia
thị trường.
Biểu đồ 2.1: Diễn biến lãi suất Quỹ dự trữ liên bang và Lãi suất chiết khấu thời
gian qua.
Nhìn vào biểu đồ, ta có thể thấy được sự cắt giảm lãi suất liên tục của Fed, đồng
thời là khoảng cách giữa FFR và DR cũng được rút ngắn. Hiện nay, lãi suất quỹ dự trữ
liên bang là 0-0.25%
2.1.3 Công cụ thị trường mở. ( Open Market Operations – OMOs)
Hoạt động thị trường mở - mua và bán các chứng khoán trong thị trường mở bởi
ngân hàng trung ương – là một công cụ quan trọng được sử dụng bởi Cục dự trữ liên
bang trong việc thi hành chính sách tiền tệ. Trong lịch sử, Cục dự trữ liên bang đã sử
dụng OMOs để điều chỉnh nguồn cung của cán cân dự trữ để giữ cho tỉ lệ lãi suất quỹ dự
trữ liên bang (FFR) ổn định quanh mức mà Hội đồng thị trường mở ( FOMC) công bố.
Loại chứng khoán mua bán trong thị trường mở là hạn chế, chỉ bao gồm các giấy tờ có
giá có độ rủi ro thấp, chẳng hạn như trái phiếu chính phủ.
Trong thời kỳ khủng hoảng, Ủy ban thị trường mở đã công bố và thực thi lãi suất
định hướng gần như bằng 0, nhằm thể hiện rằng một khối lượng dự trữ lớn sẽ được cung
ứng thông qua những công cụ thanh khoản khác nhau để đảm bảo lãi suất mục tiêu.
Thêm vào đó, hoạt động thị trường mở cung cấp một khối lượng tiền tệ tăng thêm trong
cán cân dự trữ.
5

vay phần vốn sẵn có của mình, thêm vào đó, người gởi tiền có thể sẵn lòng hơn để cung
cấp các khoản vay cho ngân hàng vì đã có thể đảm bảo rằng ngân hàng có được nguồn
6
cung tiền để trả lại trong tương lai Về phía cầu, với Fed đóng vai trò là người cho vay
cuối cùng, các ngân hàng sẽ không ngần ngại trong việc đi vay các ngân hàng khác để
đáp ứng nhu cầu thanh khoản của mình bởi vì họ biết rằng trong tương lai họ có thể đi
vay để trả lại
Đấu thầu cho vay kỳ hạn là công cụ đầu tiên Fed công bố sau những cố gắng thất
bại trong Discount Window. Mỗi hai tuần, cuộc đấu thầu sẽ diễn ra với khối lượng được
thông báo trước, lãi suất sẽ được xác định thông qua đấu thầu với lãi suất tối thiểu theo
qui định của Fed. Đến tháng 1 -2009, lãi suất tối thiểu trong TAF cũng chính là lãi suất
Fed trả cho các khoản dự trữ vượt của các ngân hàng.
Ban đầu, có một khoảng cách giữa lãi suất tối thiểu và lãi suất tối đa trong các cuộc
đấu thầu TAF, nhưng sau sự sụp đổ của Leman Brothers, Fed đã tăng khối lượng đấu
thầu đủ để kéo lãi suất tối đa về mức tối thiểu, nhằm giảm áp lực trên thị trường tiền tệ
Biểu đồ 2.2: Diễn biến lãi suất Libor 3 tháng từ tháng 7/2007 đến tháng 1/ 2009
Theo biểu đồ ta thấy sau khi TAF được công bố, lãi suất Libor trên thị trường liên
ngân hàng giảm, tuy nhiên, vào thời điểm Leman Brothers phá sản, lãi suất này ( cùng
với repo rate) tăng lên đột biến, cho thấy thị trường đang khủng hoảng một cách trầm
trọng về thanh khoản, chính vì vậy, Fed đã tăng khối lượng đấu thầu, công bố kéo dài
thời hạn của TAF, giúp cân bằng trở lại lãi suất Libor.
7
Biểu đồ 2.3: Mở rộng khối lượng đấu thầu TAF nhằm giảm lãi suất đấu thầu
tối đa (stop out rate).
Nhìn vào biểu đồ này, ta có thể thấy khối lượng tiền được đấu thầu trong công cụ
TAF của Fed càng ngày càng tăng, và đến tháng 8 – 2008, khi Leman Brothers sụp đổ,
Fed đã tăng lượng tiền cung ứng nhằm đáp ứng đủ nhu cầu của các trung gian tài chính
tham gia đấu thầu. Tỉ lệ chênh lệch lãi suất cao nhất và lãi suất sàn tham gia đâu thầu vào
thời điểm Leman Brothers sụp đổ đã tăng cao đột biến, Fed lập tức tăng khối lượng đấu
thầu và kéo lãi suất cao nhất về bằng lãi suất thấp nhất nhằm giảm áp lực thị trường về

TSLF Là một chương trình tài trợ của Fed cho các trung gian tài chính với thời hạn
vay là 28 ngày. Công cụ này được Fed công bố ngày 11/03/2008, nhằm giúp tăng cường
tính thanh khoản và thúc đẩy hoạt động của thị trường tín dụng Mỹ. Với công cụ này,
Fed mở rộng cho vay trái phiếu chính phủ Mỹ cho các trung gian tài chính phi ngân hàng
hàng đầu, nhận thế chấp các chứng khoán khác với độ an toàn thấp hơn. Với hành động
này, Fed đã thực hiện hành động “ đổi tài sản tốt lấy tài sản xấu”, hoán đổi các chứng
khoán có rủi ro cao, tính thanh khoản thấp để đổi lấy chứng khoán có độ rủi ro thấp, chất
lượng cao và tính thanh khoản cao hơn, nhằm đưa ra thị trường một lượng lớn trái phiếu
chính phủ, với hi vọng các tổ chức dùng các trái phiếu này giao dịch nhằm trên thị trường
tiền tệ. Khi thế chấp các trái phiếu chính phủ, các primary dealers sẽ dễ dàng huy động
được vốn với lãi suất thấp hơn, việc này giúp Fed thực hiện được mục tiêu giảm chi phí
vốn cho các tổ chức trên thị trường tín dụng.
Sau phiên đấu thầu TSLF đầu tiên, lãi suất vay qua đêm trên thị trường các trung
gian tài chính phi ngân hàng lập tức giảm.
9
Biểu đồ 2.4. Khoảng cách giữa lãi suất đi vay thế chấp bằng các chứng khoán
rủi ro cao và bằng trái phiếu chính phủ và các chứng khoán chất lượng cao.
Biểu đồ cho thấy trước khi TSLF được công bố, khoảng cách lãi suất giữa đi vay thế
chấp bằng các chứng khoán khác trái phiếu chính phủ là rất cao, các trung gian tài chính
phi ngân hàng hàng đầu bởi vì không có trái phiếu chính phủ và các chứng khoán chất
lượng cao để thế chấp để đi vay đã phải chịu lãi suất cao để có thể vay được trên thị
trường. Sau khi Fed công bố TSLF và phiên đấu thầu đầu tiên được thực hiện, lãi suất
vay qua đêm trên thị trường này giảm mạnh. TSLF đã cung ứng một lượng trái phiếu
chính phủ lớn để các trung gian tài chính này đổi lấy bằng cách thế chấp các chứng khoán
xấu của mình. Tuy nhiên, đến tháng 8 – 2008, vào thời điểm Leman Brothers sụp đổ, lãi
suất trên thị trường này mặc dù có TSLF vẫn tăng đột biến, buộc Fed phải hành động
tương tự như ở TAF, nghĩa là tăng lượng trái phiếu chính phủ trong các phiên đấu thầu để
nhằm giảm áp lực thị trường, và kết quả của việc đó là lãi suất qua đêm của các trung
gian tài chính giảm, nhưng đồng thời Fed cũng cạn kiệt nguồn trái phiếu chính phủ và các
chứng khoán chất lượng cao để có thể tiếp tục cho vay.

vào các giao dịch mà trong đó Fed đóng vai trò là người cho vay cuối cùng. Với PDCF,
Fed đóng vai trò là “Người cho vay cuối cùng” với các tổ chức tài chính phi ngân hàng,
nhằm thúc đẩy thị trường đang suy yếu.
Với việc thông qua PDCF, Fed đã giúp cho các broker-dealer có được một kênh tín
dụng để khắc phục cho các khó khăn khi phải đi vay trên thị trường. Chính vì vậy, PDCF
giúp hạ lãi suất trên thị trường vốn của các dealer, duy trì hoạt động của các tổ chức này,
đồng thời giúp cho thị trường các chứng khoán chính phủ được duy trì.
Với việc cộng thêm một khoản phí ngoài lãi suất bằng với lãi suất chiết khấu, Fed
mong muốn rằng các primary dealers sẽ coi PDCF như nguồn tài trợ cuối cùng, chứ
11
không phải là đầu tiên khi các primary dealers tìm kiếm nguồn vốn cho các hoạt động của
mình. Chính vì lý do đó, ngay khi thị trường có dấu hiệu phục hồi, khối lượng tiền Fed
cung ứng trong PDCF giảm xuống gần bằng 0 từ tháng 5/2009, khi các primary dealers
có thể tìm nguồn vốn khác rẻ hơn là vay của Fed.
Biểu đồ 2.5: Khối lượng sử dụng PDCF và Discount Window năm 2008-2009
Đầu tiên, hầu hết các khoản vay là Bear Steans, khối lượng vay tăng đỉnh điểm đến
40 tỉ USD vào tháng 8/2008, sau đó giảm xuống theo sự phục hồi của bảng cân đối kế
toán của các primary dealers, điều kiện tín dụng trên thị trường được cải thiện, lúc đó, chi
phí vay của PDCF không mấy hấp dẫn các tổ chức. Việc sử dụng PDCF hạ xuống thấp
nhất sau khi JP Morgan Chase mua lại Bear Stearns vào 20/06/2008. Nhưng sau khi Fed
mở rộng các loại tài sản cầm cố trong PDCF vào ngày 14/08/2008 và Leman Brothers
phá sản vào 15/08/2008, thị trường vay của các primary dealers khó khăn đến nỗi họ
quay trở lại tìm Fed, khiến cho khối lượng cho vay PDCF thời điểm đó tăng vọt lên 59.7
tỉ USD vào 17/09. Với ví dụ này, có thể thấy PDCF đã đóng khá thành công vai trò của
mình: sẵn sàng trong trường hợp một thất bại của một primary dealers gây ra tình trạng
khủng hoảng nguồn cung ứng tài chính cho các dealers còn lại. Vào tháng 10/2008,
PDCF cung ứng lượng tiền lên đến 109 tỉ USD cho các dealers, và hiện nay là gần như
bằng 0
Nếu không có gì thay đổi, PDCF sẽ kết thúc vào ngày 01/02/2010, kết thúc thành
công vai trò của mình.

khấu, với điều kiện thời gian đáo hạn của thương phiếu này không quá 120 ngày nếu bên
vay là ngân hàng, và 270 ngày nếu bên vay là tổ chức tài chính phi ngân hàng. Thời gian
13
hiệu lực dự kiến lúc đầu đến ngày 30/01/2009, nhưng sau đó đã được gia hạn đến
01/02/2010.
Thương phiếu được đảm bảo bằng tài sản (ABCP) là một loại giấy tờ thương mại
được thế chấp bằng tài sản tài chính khác. Thời hạn ABCP thường là từ 90 và 180 ngày
và thường được phát hành bởi một ngân hàng hay tổ chức tài chính. Chúng được sử dụng
cho nhu cầu tài trợ ngắn hạn. Các ABCP là công cụ có độ rủi ro thấp hơn nhiều so với cổ
phiếu thông thường vì ABCP không chỉ được đảm bảo bởi uy tín của tổ chức phát hành
mà còn bởi các tài sản. Hơn nữa, ABCP được phát hành bởi những tổ chức đặc biệt
( Special Purpose Entity / Special Investment Vehicle – SPE / SIV ) thường do các tổ
chức tài chính lập ra. Các tài sản tài chính được dùng là vật thế chấp cho ABCP thường là
một kết hợp của nhiều tài sản khác nhau, đã được một cơ quan xếp hạng đánh giá nguy
cơ bị phá sản thấp. Tuy nhiên, năm 2007-2008 nhiều tài sản trong số những tài sản này tỏ
ra kém hiệu quả hơn dự kiến, làm cho lượng người mua ABCP giảm mạnh. Sự leo thang
của khủng hoảng, nhất là sau vụ phá sản của Lehman Brothers, đã khiến giới đầu tư trở
nên e dè với thị trường thương phiếu, và chuyển sang đầu tư trái phiếu kho bạc Mỹ được
xem là an toàn hơn. Họ lo ngại sẽ mua phải thương phiếu của một công ty nào đang có
nguy cơ phá sản mà không biết. Do vậy, các ABCP rớt giá thê thảm (Biểu đồ ABCP) ,
thậm chí không giao dịch được khiến các doanh nghiệp Mỹ không biết xoay đâu ra vốn
giữa lúc các khoản nợ hiện có của họ đã đến hạn phải trả. Trước khi khủng hoảng diễn ra,
giá trị dư nợ thương phiếu ở Mỹ là 2.000 tỷ USD. Tuy nhiên, theo số liệu của FED, trong
ngày 1/10/2008, thị trường thương phiếu đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 3 năm
là 1.600 tỷ USD. Khi thị trường đã trở nên không sẵn sàng mua ABCP, sự cố này làm
cho các tổ chức tài chính gặp nhiều khó khăn, khi đã dựa vào doanh thu của ABCP để có
được khoản tiền để sử dụng trong đầu tư dài hạn . Đặc biệt, đối với các SPE / SIV, các tổ
chức đặc biệt này thường dùng đòn bẩy nợ rất cao trong hoạt động của mình, bằng cách
phát hành các ABCP và các giấy nợ trung hạn khác, sau đó dùng tiền huy động được để
tài trợ cho các khoản phải thu của các tổ chức tài chính. Quỹ thị trường tiền tệ (MMMF)

(term deposit), nghĩa lã không được tự do rút tiền ra mà phải đợi đến khi thời hạn tiết
kiệm kết thúc. Đây rõ ràng là một điểm bất lợi cho các ngân hàng thương mại và chính là
lý do xuất hiện các Quỹ đầu tư thị trường (MMF).
Về bản chất các MMF là các quĩ đầu tư tương hỗ (mutual funds) theo nghĩa nó huy
động tiền của các nhà đầu tư và tìm cách sinh lợi từ đó rồi chia lợi nhuận lại cho các cổ
đông. Do bản chất MMF là quĩ đầu tư nên nó không bị ràng buộc bằng những qui định
ngặt nghèo như các ngân hàng thương mại và không bị Fed quản lý. Tất nhiên MMF
cũng không được Fed giúp đỡ về mặt thanh khoản nếu có khó khăn (thông qua discount
window). Điểm đặc thù của MMF so với các quỹ tương hỗ khác là nó chỉ tập trung đầu
tư vào các công cụ tài chính rất ngắn hạn và rất an toàn. Tất nhiên lợi nhuận của các
MMF sẽ thấp hơn so với các quỹ tương hỗ bình thường. Nhưng điều đó không quan trọng
vì đối với những nhà đầu tư bỏ tiền vào MMF, điều họ cần là một dạng check account có
thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào mà vẫn được hưởng một mức lãi suất nhất định. Tất cả mọi
người đã ngầm định MMF là một hệ thống ngân hàng tồn tại song song với các ngân
hàng thương mại.
Các MMF chỉ đầu tư vào các công cụ tài chính ít rủi ro nhất và có tính thanh khoản
cao nhất. Một trong những công cụ đó là các thương phiếu (CP) do các công ty (không
phải tài chính) phát hành. Chính thị trường CP này là cầu nối giữa các doanh nghiệp và
các MMF. Các MMF tham gia tích cực vào thị trường này vì các CP thường có thời hạn
rất ngắn và rất an toàn. Mặc dù hệ thống tài chính Mỹ bắt đầu bị khủng hoảng từ tháng
8/2007 nhưng thị trường CP hầu như không bị ảnh hưởng. Cho đến cuối tháng 8/2008 thị
trường này vẫn tăng trưởng đều đặn. Tất nhiên khi Libor tăng cao và cuộc khủng hoảng
ngày càng đen tối, nguồn tài chính từ các ngân hàng thương mại cho thị trường CP đã sụt
giảm đáng kể, nhưng nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của thị trường này chính là sự
tháo chạy của các MMF.
Ngay sau khi Lehman Brothers phá sản và Fed phải giải cứu AIG bằng $85bn,
Reserve Primary Fund, đã “broke the buck”. Một MMF uy tín nhất đã bị lỗ và lý do là
MMF này đã mua $786m CP của Lehman Brothers. Ngay tức thì các “nhà đầu tư” của
Reserve Primary đã đổ xô đi rút tiền khỏi quĩ này và chỉ trong 2 ngày 15-16/09 60%
trong tổng số tài sản $62.2bn đã bị rút ra. Tất nhiên để trả được tiền cho các nhà đầu tư

Quỹ có mục đích đặc biệt (SPV). Quỹ này sẽ mua thương phiếu không có tài sản bảo
đảm hay có tài sản bảo đảm đủ điều kiện- từ công ty phát hành đủ điều kiện . FED
tài trợ vốn cho Quỹ này.
Quỹ được thiết lập để hết hạn ngày 1 tháng 2 năm 2010.
17
2.2.6 Công cụ quỹ dành cho các nhà đầu tư trên thị trường tiền tệ (Money
market investor funding facility - MMIFF)
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có động thái mới phản ứng trước khủng hoảng tài
chính khi ngày 21/10/2008, FED sẽ sử dụng 600 tỷ USD để cấp tín dụng cho một số quỹ
có mục đích đặc biệt của khu vục tư nhân (Special Purpose Vehicle established by the
Private sector-PSPV) trong đó FED sẽ cho vay 540 tỷ USD để giúp các quỹ này, phần
còn lại trị giá 60 tỷ đô la Mỹ sẽ được cấp dưới hình thức phát hành thương phiếu của 5 tổ
chức đặc biệt cho các quỹ tiền tệ với mục đích bán tài sản của họ.
Theo chương trình này, Fed hỗ trợ các quỹ tương hỗ mua nợ ngắn hạn được xếp
hạng cao, bao gồm chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng và thương phiếu với thời gian
đáo hạn còn lại không ít hơn 7 ngày nhưng không quá 90 ngày - từ các nhà đầu tư hội đủ
theo quy định của FED.
Khối lượng tài sản tối thiểu được bán trong quỹ này là $250,000.
Các SPVs bắt đầu mua tài sản đủ điều kiện từ ngày 24 tháng 11 năm 2008 và sẽ
dừng mua tài sản vào ngày 30 tháng 10 năm 2009. The New York Fed sẽ tiếp tục
quỹ SPVs sau ngày đó cho đến khi tài sản tiềm ẩn của SPVs lớn.
MMIFF bổ sung cho CPFF. Các CPFF sẽ cấp vốn mua lại thương phiếu ba tháng
của SPV từ công ty phát hành với lãi suất được chọn trên lãi suất thị trường trong nhiều
lần bình thường, đảm bảo công ty phát hành tham gia rằng họ không trả nhiều hơn tỉ lệ
CPFF so với thương phiếu. Các MMIFF sẽ có xu hướng tỉ lệ nợ ngắn hạn xuống làm
giảm một số trong những áp lực trên bảng cân đối các nhà đầu tư thị trường tiền tệ. Cả
hai MMIFF và CPFF là nhằm cải thiện tính thanh khoản tại các thị trường nợ ngắn hạn
và qua đó tăng cường cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và hộ gia đình.
Mối quan hệ giữa AMLF và MMIFF là gì?
Các AMLF mua thương phiếu đảm bảo bằng tài sản (ABCP) do các tổ chức ngân

xem là chất xúc tác nhằm khởi động lại thị trường tín dụng đã bị đóng băng.
Bất kỳ công ty Mỹ nào sở hữu vật thế chấp đủ điều kiện mượn từ TALF.
TALF là chương trình tín dụng 200 tỷ USD đến 1.000 tỷ USD được thiết kế để tạo
điều kiện thuận lợi phát hành và bán nhiều chứng khoán đảm bảo bằng tài sản.
TALF cung cấp khả năng thanh toán cho người mua và người bán chứng khoán đảm
bảo bằng tài sản.
Cục Dự trự liên bang và Bộ tài chính hy vọng sẽ nhanh chóng phục hồi thị trường
cho vay đảm bảo cho hộ gia đình và doanh nghiệp.
Sơ đồ thể hiện
19
Biểu đồ 2.7: số lượng phát hành chứng khoản đảm bảo bằng tài sản ở Mỹ từ
năm 1996 đến năm 2009
Ban đầu TALF dùng hỗ trợ cho hộ tiêu dùng và doanh nghiệp nhỏ. Nhưng thấy tình
hình thị trường vẫn chưa ổn định nên TALF mở rộng thêm đối tượng: cho các đối tượng
vay để mua thiết bị công nghiệp nặng, nông nghiệp nặng.
Cho đến nay, ảnh hưởng của TALF vẫn chưa được rõ ràng
Nếu không có gì thay đổi, TALF sẽ kết thúc vào tháng 3/2010
20
3. ĐÁNH GIÁ – KẾT LUẬN
Bảng cân đối kế toán của Fed đã tăng lên rất nhanh ( từ 869 tỉ USD vào ngày
8/8/2007 lên hơn 2000 tỉ USD hiện nay) với việc thêm vào một loạt những công cụ mới
để phục hồi thanh khoản cho thị trường và nới lỏng các điều kiện tín dụng. Các công cụ
như TAF, mua lại các chứng khoán đảm bảo bằng nợ bất động sản đã thành công trong
việc hạ các loại lãi suất như Lãi suất liên ngân hàng, lãi suất của thương phiếu.
Một số chương trình, như Cho vay dựa trên thương phiếu đảm bảo bằng tài sản có
tác động rất ít lên bảng cân đối của Fed, nhưng vẫn thể hiện được vay trò đảm bảo của
Fed nhằm thúc đẩy thị trường hoạt động.
Chúng ta thấy rằng, các chương trình như Đấu thầu cho vay kỳ hạn (TAF), công cụ
quỹ thương phiếu, và các thương vụ mua lại các MBS đã thật sự thành công trong việc
giảm tỉ lệ lãi suất thị trường từ đỉnh cao lãi suất, bao gồm lãi suất LIBOR, lãi suất thương

mà thôi.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status