1
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hợp thành hệ thống chính sách quan trọng
trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, các công cụ của hai chính sách này vừa có tính
độc lập, nhưng vừa có tính tương tác, hỗ trợ nhau trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Sự phối hợp tốt, nhịp nhàng hoạt động của hai chính sách này sẽ giúp chính phủ điều
hành đạt được hai mục tiêu quan trọng của kinh tế vĩ mô là tăng trưởng và kiểm soát
lạm phát; nhưng ngược lại, sự phối hợp không nhịp nhàng, không gắn kết sẽ làm giảm
hiệu quả điều hành chính sách và thậm chí có thể làm trầm trọng, làm cho kinh tế vĩ
mô bất ổn. Việc tìm ra cơ chế phối hợp giữa hai chính sách này luôn được chính phủ,
các nhà hoạch định chính sách quan tâm. Vì vậy nhóm chúng tôi đã quyết định chọn đề
tài “ Sự phối hợp của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong kiểm soát lạm
phát ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến nửa đầu năm 2012” Đề tài này đề cập tới
một số vấn đề phối hợp giữa hai chính sách trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong
thời gian qua và đưa ra một số đề xuất nhằm tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa
trong thời gian tới.
II. Nội dung và mục tiêu nghiên cứu
Đề tài sẽ đúc kết những cơ sở lý luận về lạm phát, chính sách tiền tệ, chính sách
tài khóa, sự phối hợp của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong kiểm soát lạm
phát. Từ đó phân tích, đánh giá thực trạng và kết quả đạt được của việc phối hợp hai
chính sách thông qua các số liệu báo cáo để đưa ra những đánh giá tổng quan và chính
xác về các mặt đã đạt được và những mặt còn hạn chế trong việc phối hợp hai chính
sách. Trên cơ sở đó đưa ra giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả cho việc phối hợp
hai chính sách tiền tệ và tài khóa một cách một cách hữu hiệu và cụ thể nhất.
2
III. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được tập trung nghiên cứu trong đề tài này là: Sự phối hợp của chính
sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn
2008 đến nửa đầu năm 2012
IV. Phạm vi nghiên cứu
Lạm phát có thể do nhiều nguyên nhân tác động khác nhau, kể cả chính sách tăng
lương của Chính phủ cũng có thể góp phần tác động đến lạm phát, vì khi tăng lương,
người lao động thu nhập được nhiều tiền hơn và mạnh tay chi tiêu, cầu vượt cung.
Tóm lại, lạm phát xảy ra khi xuất hiện sự gia tăng mặt bằng chung về giá cả hàng
hóa. Trong mỗi giai đoạn có thể có giá mặt hàng này tăng, mặt hàng kia giảm, nhưng
nếu mức giá chung tăng, ta có lạm phát. Nếu mức giá chung giảm, ta có giảm phát.
Nếu chỉ có một vài mặt hàng chẳng hạn như giá đường, hay giá gạo tăng một cách đơn
4
lẻ thì không có nghĩa là lạm phát, mà đơn giản chỉ là một sự mất cân đối tạm thời giữa
cung và cầu trong ngắn hạn. Khi lạm phát xảy ra, giá trị của đồng tiền bị sụt giảm.
2. Phân loại lạm phát
2.1. Căn cứ vào định lượng
a. Lạm phát vừa phải
Lạm phát vừa phải: là loại lạm phát xảy ra với giá cả hàng hóa tăng chậm và có
thể dự đoán trước được, thường được giới hạn ở mức một con số 1 năm. Thậm chí,loại
lạm phát này còn có thể có tác dụng mở rộng tín dụng, một mặt kích cầu, một mặt gia
tăng đầu tư, mở rộng và phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo thêm việc
làm giảm tỉ lệ thất nghiệp.
b. Lạm phát phi mã
Lạm phát phi mã: là loại lạm phát xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng nhanh ở mức từ
2 đến 3 con số một năm. Khi lạm phát phi mã xảy ra, do tiền bị mất giá rất nhanh nên
người dân không còn muốn nắm giữ tiền mà chuyển sang săn lùng mua hàng hóa,
vàng, ngoại tệ cất giữ. Lãi suất thực có thể giảm bằng không hoặc âm, hiệu quả kinh tế
suy giảm, nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, thu nhập thực tế của người lao động bị xói
mòn nghiêm trọng, thất nghiệp tăng cao.
c. Lạm phát siêu tốc:
Lạm phát siêu tốc: là loại lạm phát xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng rất nhanh với
tốc độ từ 4 con số trở lên 1 năm. Người dân phải chạy trốn khỏi tiền và chuyển sang cất
trữ mọi thứ. Nền kinh tế có thể bị biến động và rơi vào khủng hoảng trầm trọng, thất
nghiệp tràn lan, đời sống nhân dân giảm sút nghiêm trọng. Lạm phát thường xảy ra do
chung của toàn thể nền kinh tế cũng sẽ tăng được gọi là “lạm phát do chi phí đẩy”.
6
3.3. Lạm phát do cơ cấu
Với ngành kinh doanh hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công cho người lao
động. Nhưng những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả, doanh nghiệp cũng
theoxu thế đó buộc phải tăng tiền công cho người lao động. Nhưng vì kinh doanh kém
hiệu quả, nên khi phải tăng tiền công cho người lao động, các doanh nghiệp này buộc
phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm phát.
3.4. Lạm phát do cầu thay đổi
Khi thị trường giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó, trong khi lượng cầu
về một mặt hàng khác lại tăng lên.Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền, giá cả
có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không giảm, như giá điện ở Việt
Nam), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có
lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.
3.5. Lạm phát do xuất khẩu
Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụ
lượng hàng nhiều hơn cung cấp), khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến
lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước) khiến tổng
cung trong nước thấp hơn tổng cầu. Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy
sinh lạm phát.
3.6. Lạm phát do nhập khẩu
Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thế
giới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên. Khi mức giá chung bị
giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.
3.7. Lạm phát do tiền tệ
Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ương
mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay do
ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượng tiền
trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát.
7
Khái niệm chính sách tiền tệ: Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô
do NHTW khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt
các mục tiêu:ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm ,tăng trưởng kinh tế .
Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng:
chính sách tiền tệ mở rộng hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt.
2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Ổn định giá trị đồng tiền: NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng
hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình.Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên 2
mặt: Sức mua đối nội của đồng tiềnvà sức mua đối ngoại.Tuy vậy,CSTT hướng tới ổn
định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát =0 vì như vậy nền kinh tế không
thể phát triển được,để có một tỷ lệ lạm phát giảm phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp
tăng.
Tăng công ăn việc làm: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới
việc sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực xã hội,quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó
ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế .Để có một tỷ lệ thất nghịêp giảm thì
phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên.
Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ
trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng
trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng ,nó thể
hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ .Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả
hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà.
9
3. Các công cụ của chính sách tiền tệ
3.1. Nghiệp vụ thị trường mở
Khái niệm:Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực hiện trên thị
trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó đIều tiết lượng tiền cung ứng.
Cơ chế tác động: Khi NHTW mua (bán) chứng khoán thì sẽ làm cho cơ số tiền tệ
tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi).
Nếu thị trường mở chỉ gồm NHTW và các NHTM thì hoạt động này sẽ làm thay
đổi lượng tiền dự trữ của các NHTM (R ), nếu bao gồm cả công chúng thì nó sẽ làm
Ngoài ra, ở các nước có thị trường chưa phát triển (thương phiếu chưa phổ biến để
có thể làm công cụ táI chiết khấu) thì NHTW còn thực hiện nghiệp vụ này thông qua
việc cho vay táI cấp vốn ngắn hạn đối với các NHTM.
Đặc điểm: Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là người cho
vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn trong thanh toán ,và có
thế kiểm soát đựoc hoạt động tín dụng của các NHTM đồng thời có thể tác động tới
việc đIều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế thông qua việc ưu đãi tín dụng vào
các lĩnh vực cụ thể.Tuy vậy ,hiệu qủa của cộng cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động
cho vay của các NHTM, mặt khác mức lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó ,sai
lệch thông tin về cung cầu vốn trên thị trường.
3.4. Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM
Khái niệm: là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM không được
vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(một năm) để thực hiện vai
trò kiểm soát mức cung tiền của mình.Việc định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh
tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô(tốc độ tăng trưởng ,lạm phátiêu thụ ) sau
11
đó NHTW sẽ phân bổ cho các NHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức
do NHTW quy định .
Cơ chế tác động:Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng
tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có
quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM.
Đặc điểm:Giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các
công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trong những
giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế .Song nhược
điểm của nó rất lớn: triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM, làm giảm hiệu quả
phân bổ vốn trong nến kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoài sự kiểm
soát của NHTW và kìm hãm nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên .
3.5. Quản lý lãi suất của các NHTM
Khái niệm:NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn dịnh một trần lãi suất cho vay
để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó, từ đó ảnh hưởng tới qui mô
- Ổn định nền kinh tế ở mức sản lượng mục tiêu là sản lượng tiềm năng (Yp)
- Duy trì nền kinh tế ở tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.
- Tỷ lệ lạm phát nền kinh tế là vừa phải.
3. Các công cụ của chính sách tài khóa
Chính sách tài khoá có 2 công cụ: chi tiêu ngân sách và thuế.
Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái <=> sản lượng thực tế của nền kinh tế (Yt) thấp
hơn sản lượng tiềm năng (Yp): Yt < Yp. Lúc này Chính phủ cần thực hiện chính sách
13
tài khoá mở rộng nhằm kích cầu thúc đẩy nền kinh tế đạt đến mức sản lượng tiềm
năng, cụ thể:
- Tăng chi tiêu hàng hoá và dịch vụ (G)
- Giảm thuế (T)
=> Kết quả là: G, T AD Y, U
Khi nền kinh tế có lạm phát cao <=> sản lượng thực tế của nền kinh tế vượt cao
hơn sản lượng tiềm năng: Yt >Yp . Lúc này Chính phủ cần thực hiện chính sách tài
khoá thu hẹp nhằm hạ bớt “nhiệt” giúp sản lượng thực tế quay trở về mức sản lượng
tiềm năng, cụ thể:
- Giảm chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ
- Tăng thuế
=> Kết quả là: G, T AD Y, P , U
IV. Sự phối hợp của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Chính sách tài khóa với thuế và chi tiêu của Chính phủ tác động trực tiếp đến yếu
tố chi tiêu chính phủ (G) hoặc gián tiếp đến tiêu dùng (C), đầu tư (I), xét cho cùng là
tác động đến tổng cầu. Chính sách tiền tệ với các quyết đinh về mức cung tiền tác động
trực tiếp đến thị trường tiền tệ, qua đó tác động trở lại đến tổng cầu (C, I, X). Cả hai
chính sách đều tác động đến quy mô của tổng cầu nhưng mỗi chính sách đều lại gây ra
sự thay đổi khác nhau về các thành phần của tổng cầu. Có thể nói sự vận dụng tốt cả
hai chính sách có khả năng quản lý (kiểm soát) được tổng cầu để ổn định được thu
nhập (sản lượng) ở mức dự kiến (sát với sản lượng tiềm năng). Như vậy trên giác độ
kinh tế vĩ mô cần có một mục tiêu cho cả hai chính sách, có những cơ quan có khả
Y
t
IS
0
LM
0
IS
1
LM
1
i
1
i
0
Mô hình áp dụng CSTK và CSTT thắt chặt nhằm đưa It về Ip
(3) Khi tổng cầu ở mức vừa phải, sản lượng tương đối ổn định ở mức dự kiến, có thể sử
dụng hỗn hợp tài chính chặt chẽ - tiền tệ mở rộng hoặc tài chính mở rộng – tiền tệ thắt
chặt để làm biến đổi thành phần của tổng cầu. Với hỗn hợp tài chính thắt chặt và tài
chính mở rộng vừa đủ để tổng cầu không thay đổi, nhưng tiêu dùng và đầu tư tăng lên,
chi tiêu Chính phủ giảm xuống.Hỗn hợp này có thể ổn định sản lượng hiện tại nhưng
có lợi cho sự tăng trưởng trong tương lai nhờ mở rộng quỹ vốn, sẽ có thêm việc làm
với năng suất cao hơn. Tuy nhiên, nếu sự cắt giảm chi tiêu của Chính phủ tập trung vào
các khỏan đầu tư công cộng mang lại lợi ích chung thì cần cân nhắc, xem xét kỹ lưỡng.
Với hỗn hợp tài khóa mở rộng và tiền tệ thắt chặt có thể giữ nguyên tổng cầu, mở
rộng khả năng đầut tư công cộng và hạn chế sự bành trướng về đầu tư và tiêu dùng.
Trong thực tiễn đời sống kinh tế có quá nhiều các nhân tố kinh tế, xã hội, tồn tại
… trong thời gian dài, ngắn khác nhau, tác động cùng chiều hoặc ngược chiều đến
nhiều vấn đề kinh tế. Mô hình trên đây chỉ là một mô hình đơn giản, nên thật sự khó dự
đoán kết quả thật sự khi thực hiện các hỗn hợp chính sách nói trên. Cũng vì lẽ đó,
chính sách tài khóa thường được coi trọng hơn bởi nó tác động trực tiếp vào tổng cầu,
o Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và mở rộng diện tiền gửi phải dự trữ bắt buộc ở tất cả
các kỳ hạn
o Phát hành bắt buộc 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN và quy định các tín phiếu
NHNN không được sử dụng để vay tái cấp vốn tại NHNN
o Lãi suất cơ bản được điều chỉnh lên mức 12% rồi 14%. Hệ thống lãi suất điều
hành gồm cặp lãi suất tái cấp vốn cũng được điều chỉnh tăng lên 15% và 13%
o Khống chế hạn mức tín dụng và yêu cầu kiểm soát chặt những lĩnh vực cho vay
có rủi ro cao, đặc biệt cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán và bất động sản
+ CSTK: Song song với việc thắt chặt của chính sách tiền tệ thì chính sách tài
khoá cũng được thắt chặt, cụ thể:
o
Chính phủ đề ra cắt giảm đầu tư công bằng cách rà soát cắt giảm những công
trình đầu tư chưa cần thiết và tập trung vào đầu tư dứt điểm những công trình dự
án có khả năng hoàn thành trong năm 2008; đồng thời giảm 25% kế hoạch đầu
tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ.
o
Chính phủ cũng cắt giảm những khoản chi thường xuyên thông qua việc thực
hiện tiết kiệm chi 10% kinh phí thường xuyên. Kết quả là: tổng chi tiêu Chính
phủ thực hiện trong năm 2008 vẫn vượt 19% so với dự toán, tăng hơn 22% so
với thực hiện năm 2007 và chiếm 31,75% GDP. Chi đầu tư phát triển đã được
cắt giảm đáng kể nhưng vẫn chiếm đến 7,9% GDP, vượt dự toán 18% và tăng
5% so với năm 2007.
=>Kết quả:CPI năm 2008 vẫn ở mức cao (22,3 %), thâm hụt ngân sách nhà nước
năm 2008 vẫn xấp xỉ 5% GDP. Ðến ngày 31/12/2008, nợ công chiếm 42% GDP, dư
nợ ngoài nước của quốc gia bằng 27,2% GDP.
19
Năm 2009: Giai đoạn kích cầu, chính phủ áp dụng chính sách tiền tệ mở rộng
phối hợp với chính sách tài khóa mở rộng.
+ CSTT: Đứng trước tình hình suy thoái kinh tế và khủng khoảng kinh tế thế giới
ngày càng lan rộng. NHNN đã đề một loạt biện pháp nhằm mở rộng chính sách tiền tệ
20
+CSTT: Trong 6 tháng đầu năm 2010 thì NHNN áp dụng chính sách tiền tệ thắt
chặt với mục tiêu kiểm soát lạm phát và kiểm soát trạng thái thanh khoản của cả hệ
thống bằng cách hạn chế việc cung ứng tín dụng bằng cách nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn tín dụng thông qua việc yêu cầu chất lượng tín dụng cao, điều này đã làm tăng
trưởng tín dụng trong 6 tháng đầu năm chỉ đạt 10% và bị chỉ trích kiềm hãm sự tăng
trưởng kinh tế. Vì thế 6 tháng cuối năm 2010, NHNN quyết định áp dụng chính sách
tiền tệ nới lỏng nhằm tăng trưởng tín dụng. Chính điều này đã giúp tăng trưởng tín
dụng cả năm tăng gần 28% so với 2009, đổi lại điều này thì hệ thống rơi vào việc rủi ro
thanh khoản do việc thiếu vốn vay vì lãi suất thấp dẫn đến huy động vốn khó khăn
trong khi nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp tăng.
+ CSTK: Nhằm duy trì và kích thích tăng trưởng kinh tế nên chính sách tài khoá
theo đuổi trong năm 2010 là mở rộng, trong đó chú trọng đến mở rộng đầu tư xây dựng
cơ bản.
Kết quả: cuối năm 2010 tỷ lệ lạm phát đạt mức 11.75% so với mức 6.52%năm
2009.
Năm 2011: Giai đoạn ưu tiên ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, chính sách tiền
tệ thắt chặt phối hợp chính sách tài khóa thận trọng linh hoạt.
+ CSTT: Sau 6 tháng cuối năm 2010 áp dụng chính sách tiền tệ mở rộng thì đầu
năm 2011 NHNN đưa ra một loạt các biện pháp nhằm thắt chặt tiền tệ trong bối cảnh
nền kinh tế đang rơi sâu vào lạm phát như:
o Tập trung vốn phát triển sản suất kinh doanh, giảm tỷ lệ nợ cho vay vào lĩnh vực
phi sản suất
o Lãi suất chiết khấu tăng từ 7%/năm lên 13%/năm, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất
cho vay qua đêm trong thanh toán liên ngân hàng tăng từ 10% lên 16%/năm
o Nghiệp vụ thị trường mở thực hiện nghiệp vụ hút tiền ròng trong phần lớn thời
gian của năm 2011
o Tuân thủ nghiêm ngặt giới hạn tín dụng trong toàn hệ thống ngân hàng với các
chế tài xử phạt nghiêm khắc của nội bộ từng ngân hàng
21
theo xu hướng thắt chặt và tập trung cho thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế:
• Chi cho đầu tư công sẽ tiếp tục cắt giảm mạnh và có chọn lọc. Chi thường
xuyên cũng sẽ tiết kiệm hơn và được kiểm soát, giám sát chặt chẽ hơn.
• Chính sách thuế cần thiết nên nới lỏng, mở rộng các quy định về miễn, giảm
thuế, giãn thời hạn nộp thuế, giảm nhẹ nghĩa vụ thuế cho các đối tượng nộp
thuế để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, kích thích và thúc đẩy
phát triển sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các đối tượng doanh nghiệp thuộc
diện vừa và nhỏ, các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp phụ trợ.
Kết quả: nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm đã có những bước chuyển biến tích
cực, CPI tính theo năm của tháng 6 đã xuống còn 6,9%, mặt bằng lãi hạ tương
đối nhanh đối với các lĩnh vực ưu tiên; mới đây đã yêu cầu các ngân hàng
thương mại hạ lãi suất vay cũ xuống dưới 15%.Tuy nhiên, bên cạnh những kết
quả tích cực, việc thực hiện chính sách tiền tệ trong những tháng đầu năm 2012
cũng còn một số hạn chế, bất cập và đứng trước những thách thức không nhỏ
như: Nợ xấu ngân hàng hiện đang là một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện
nay mà các chuyên gia gọi là “cục máu đông” làm ách tắc sự luân chuyển của
vốn cho nền kinh tế, lãi suất cho vay cao kéo dài, chênh lệch giữa lãi suất huy
động và lãi suất cho vay còn lớn (thường vượt mức 3%/năm theo thông lệ), tăng
trưởng tín dụng sau 6 tháng vẫn còn mang dấu âm, gây ra tình trạng kém thanh
khoản, vốn bị ứ đọng, kém hiệu quả.
Dự báo chính sách tài khóa, tiền tệ 6 tháng cuối năm 2012
o Lãi suất có thế sẽ ít biến động: Với lạm phát dự kiến cả năm 2012 là dưới
9%/năm thì mức lãi suất huy động 9%/năm có thể sẽ được duy trì cho đến hết
năm 2012. Tuy nhiên, kỳ vọng lạm phát phụ thuộc nhiều vào chính sách tiền tệ
23
thắt chặt và sự tin tưởng của thị trường vào điều hành chính sách. Vì thế kịch
bản lãi suất ổn định chỉ xảy ra nếu Chính phủ vẫn kiên quyết mục tiêu bình ổn
vĩ mô và cam kết thực hiện với những hành động cụ thể và nhất quán.
o Tỷ giá khó có khả năng biến động mạnh do:
và chính sách tiền tệ ở Việt Nam. Với mô hình tăng trưởng chủ yếu nhờ vào tăng lượng
đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước hiện tại hoạt động kém hiệu quả làm chủ đạo và
nhờ vào việc bán tài nguyên, gia công trình độ thấp dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp.
Điều này được minh chứng qua số đơn vị cần thiết để tạo ra một điểm phần trăm tăng
trưởng GDP (hệ số ICOR) vào khoảng 6 trong những năm gần đây, dẫn đến quyết định
logic về chính sách là để tăng trưởng cao cần gia tăng đầu tư.
Thứ hai: Kết cục của mô hình tăng trưởng này dẫn đến Chính phủ phải thực thi
chính sách tài khóa mở rộng, chấp nhận thâm hụt ngân sách (5,8%) và phát hành trái
phiếu để bù đắp cho nhu cầu đầu tư, đặc biệt là đầu tư công. Tổng mức đầu tư ban đầu
của các dự án, công trình thuộc danh mục đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ
giai đoạn 2003 - 2010 là 246.447 tỷ đồng. Hầu hết các dự án đều có điều chỉnh tổng
mức đầu tư so với phê duyệt ban đầu. Có dự án điều chỉnh tổng mức đầu tư lên 3 - 4
lần, riêng phần vốn trái phiếu Chính phủ một số dự án điều chỉnh tới trên chục lần, qua
tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng mức đầu tư điều chỉnh từ các bộ, ngành, địa
phương đã lên tới 558.654 tỷ đồng (tăng 226%). Uỷ ban Tài chính - Ngân sách cho
rằng, tổng mức đầu tư các công trình, dự án sử dụng nguồn vốn này đã “tăng quá cao
so với khả năng cân đối của ngân sách, ảnh hưởng đến khả năng vay và trả nợ”
i
. Trong
khi cơ chế điều hành, quản lý nguồn vốn chưa hợp lý số lượng dự án hoàn thành còn
quá ít, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn.
Thứ ba: Chinh sách tài khóa với chi tiêu công quá mạnh trong khu vực đầu tư, làm
tăng tỷ lệ đầu tư/GDP. Do nền kinh tế kém hiệu quả nên các khoản đầu tư công cũng
không mấy hiệu quả đã tạo ra sự mất cân đối giữa lượng hàng hóa với số lượng tiền
25
trong nền kinh tế và kết quả tất yếu phải xảy ra là lạm phát. Chi tiêu công và nợ công
tăng cao trong những năm gần đây đã tạo ra sức ép nặng nề lên giá cả hàng hóa. Điều
này cũng giải thích tại sao chính sách tiền tệ đã kiểm soát tăng trưởng tín dụng (28%)
và gia tăng tổng phương tiện thanh toán (25%) khá tốt năm 2010 nhưng lạm phát vẫn ở
mức 2 chữ số. Đây cũng chính là nguyên nhân cơ bản của lạm phát ở Việt Nam trong