ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
Chương I : Cơ sở lí luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI 4
Chương II : Thực trạng thu hút và sử dụng vốn FDI từ 1988_ 2008 của Việt Nam 11
Chương III : Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục thu hút , thúc đẩy giải ngân và nâng cao
hiệu quả sử dụng nguồn vốn FDI giai đoạn ( 2009-2010) 26
KẾT LUẬN 35
Tài liệu tham khảo 37
cc
C A O H I Ế U 4 8 C - Q T K D T M - N E U
1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi đổi mới năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây
dựng nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường có sự quản lý điều tiết theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Vị thế của Việt Nam trên mặt trận kinh tế càng ngày càng
được khẳng định.
Khi tự do hóa thương mại là một tất yếu thì nó chỉ ra rằng sự hội nhập sâu
rộng với kinh tế thế giới là một hành trang trên bước đường phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia dân tộc. Việt Nam đã là thành viên của tổ chức Thương Mại thế giới
WTO, thế giới đang đến Việt Nam và Việt Nam cũng bắt đầu đi ra thế giới, sự
ràng buộc ngày càng mạnh mẽ hơn giữa các nền kinh tế. Đây là xu hướng hoàn
toàn phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển. Sự hội nhập sâu rộng vào
nền kinh tế khu vực cũng như quốc tế của các quốc gia đã kéo theo sự bùng nổ
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment) trên phạm vi
toàn cầu.
Ngày càng có nhiều dự án và nhiều tỷ USD vốn đầu tư của nước ngoài đưa
vào hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế nước ta. Bên cành đó cũng có nhiều
dự án, vốn của các cá nhân tổ chức Việt Nam đầu tư vào các nền kinh tế quốc gia
Chương I : Cơ sở lí luận chung về đầu tư trực tiếp nước
ngoài FDI
1. Khái niệm và các đặc trưng cơ bản của các doanh nghiệp có
vốn FDI
1.1 Khái niệm
Trong thực tế còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm doanh
nghiệp có vốn FDI :
Doanh nghiệp có vốn FDI là những tổ chức kinh doanh quốc tế có tư cách
pháp nhân , có vốn của bên nước ngoài và có sự quản lý trực tiếp của bên nước
ngoài. Nhằm để tiến hành các hoạt động kinh doanh mục đích thu được lợi ích như
: lợi nhuận , tỷ suất lợi nhuận của đồng vốn , mở rộng thị trường…
Doanh nghiệp có vốn FDI là những pháp nhân mới được thành lập tại nước
sở tại tiếp nhận đầu tư. Trong đó , các đối tác có quốc tịch khác nhau và bên nước
ngoài có tỉ lệ góp vốn tối thiểu đủ để trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có vốn FDI là những loại hình doanh nghiệp có vốn của bên
nước ngoài và có sự quản lý trực tiếp của bên nước ngoài. Doanh nghiệp này hoạt
động theo luật pháp nước sở tại tiếp nhận đầu tư. Mục đích tiến hành các hoạt
động kinh doanh nhằm để thu được lợi ích cho các bên.
Trên cở sở đó có thể hiểu thuật ngữ Doanh nghiệp có vốn FDI như sau :
“ Doanh nghiệp FDI là các loại hình Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân tại
nước sở tại tiếp nhận đầu tư. Bên nước ngoài có tỉ lệ góp vốn tối thiểu đủ để tham
gia quản lý trực tiếp hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thu được lợi
ích cho tất cả các bên đầu tư và nhận đầu tư.
1.2 Các đặc trưng cơ bản của khối doanh nghiệp FDI
Doanh nghiệp có vốn FDI là một phạm trù chỉ tất cả các loại hình doanh
nghiệp có vốn của bên nước ngoài ở nước sở tại tiếp nhận đầu tư. Tuy doanh
nghiệp FDI bao hàm nhiều loại hình doanh nhiệp khác nhau nhưng chúng đều có
những đặc trưng cơ bản sau.
Doanh nghiệp có vốn FDI hoạt động theo luật pháp nước sở tại , các hiệp
định và các điều ước quốc tế.
trạng thiếu vốn trầm trọng.
Với bối cảnh trong nước và quốc tế như vậy, để khôi phục và phát triển
kinh tế-xã hội, Đảng ta đã chủ trương mở cửa nền kinh tế, thực hiện công cuộc đổi
mới toàn diện, trong đó có việc hoàn thiện, nâng Điều lệ Đầu tư năm 1977 thành
bộ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987.
Sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã tạo môi
trường pháp lý cao hơn để thu hút vốn ĐTNN vào Việt Nam. Luật này đã bổ sung
và chi tiết hoá các lĩnh vực cần khuyến khích kêu gọi đầu tư cho phù hợp với hoàn
cảnh mới.
Đây là một trong những đạo luật đầu tiên của thời kỳ đổi mới. Việc ban
hành Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam đã thể chế hóa đường lối của
Đảng, mở đầu cho việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ĐTNN, theo
phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại; góp
phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.
cc
C A O H I Ế U 4 8 C - Q T K D T M - N E U
1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Kể từ khi ban hành năm 1987 đến nay, Luật ĐTNN đã được sửa đổi, bổ
sung 4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000; cùng
với các văn bản dưới Luật đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một đạo luật
thông thoáng, hấp dẫn, về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế. Pháp luật ĐTNN
và các văn bản pháp luật liên quan đến ĐTNN được ban hành đã tạo môi trường
pháp lý đồng bộ cho các hoạt động ĐTNN tại Việt Nam. Cùng với việc hoàn thiện
hệ thống pháp luật, khung pháp lý song phương và đa phương liên quan đến
ĐTNN cũng không ngừng được mở rộng và hoàn thiện với việc nước ta đã ký kết
51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với các nước và vùng lãnh thổ. Vì
vậy, ngay trong điều kiện cơ chế thị trường của Việt Nam chưa hoàn thiện, các
nhà ĐTNN vẫn có thể tiến hành các hoạt động đầu tư thuận lợi ở Việt Nam mà
không có sự khác biệt đáng kể so với một số nước có kinh tế thị trường truyền
cc
C A O H I Ế U 4 8 C - Q T K D T M - N E U
1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Việc phân cấp cấp GCNĐT về UBND cấp tỉnh và Ban quản lý là một chủ
trương thực hiện cải cách hành chính trong quản lý kinh tế và đã được tổng kết
trong nhiều năm qua, đã tạo điều kiện thuận lợi để UBND cấp tỉnh và Ban quản lý
thực hiện được trách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư trong nước và ĐTNN trên
địa bàn. Việc phân cấp mạnh cho UBND tỉnh và Ban quản lý đã tạo điều kiện cho
các Bộ, ngành quản lý nhà nước tập trung thực hiện chức năng hoạch định chính
sách, dự báo, kiểm tra, giám sát.
Cho tới nay, công tác quản lý hoạt động ĐTNN ở địa phương, nhất là các
địa phương có nhiều doanh nghiệp ĐTNN đã đi vào nề nếp, theo trình tự hợp lý,
đã được đơn giản hóa,…được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá có nhiều đổi mới,
góp phần cải thiện môi trường đầu tư-kinh doanh của địa phương.
Bên cạnh đó, các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh đã phối hợp chặt chẽ trong
quá trình thực hiện các nội dung quản lý hoạt động ĐTNN, từ thẩm định cấp
GCNĐT đến hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Bộ Kế hoạch và Đầu tư
đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức tập huấn, trao đổi nghiệp vụ và
hỗ trợ các địa phương từ việc tổ chức hội nghị, hội thảo vận động xúc tiến, xây
dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư, ban hành văn bản hướng dẫn về ĐTNN tại
địa bàn,…. đưa hoạt động quản lý ĐTNN ở các địa phương đi vào nề nếp. Mô
hình “một cửa, liên thông”, cách làm “trải thảm đỏ đón nhà đầu tư” tiếp tục xuất
hiện và có tác động lan toả rộng khắp trong cả nước, đã góp phần nâng cao hiệu
quả thu hút và sử dụng vốn ĐTNN vào Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý từng bước được hoàn thiện và nâng cao chất lượng
quản lý là các yếu tố và động lực góp phần đưa lại kết quả đáng khích lệ của hoạt
động ĐTNN tại Việt Nam, góp phần xác định vai trò quan trọng của khu vực kinh
tế có vốn ĐTNN trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hoá (CNH-HĐH) nước
ta.
cấu vốn đầu tư) có vốn FDI theo lĩnh vực.
2.2.3 Căn cứ vào tính chất của sản xuất kinh doanh
Doanh nghiệp có vốn FDI chuyên khai thác: Là các doanh nghiệp có vốn
của người nước ngoài, hoạt động trong ngành khai thác các tài nguyên khoáng sản,
thủy sản, lâm sản như khai thác dầu khí, quặng, than, gỗ, cá
Doanh nghiệp có vốn FDI chuyên hoạt động chế biến: Là các doanh nghiệp
có vốn của người nước ngoài, có nhiệm vụ chế biến các nguyên vật liệu thành các
sản phẩm như chế tạo ô tô, xe máy, các sản phẩm điện tử, chế biến đồ hộp
Doanh nghiệp có vốn FDI hoạt động phục vụ: Là các doanh nghiệp có vốn
của người nước ngoài, hoạt động kinh doanh có tính chất phục vụ hoạt động khai
thác và chế biến, như các doanh nghiệp thương mại, quảng cáo, các đại lý phấn
phối, cung cấp nhiên liệu, dịch vụ sữu chữa, đào tạo
2.2.4 Căn cứ vào tính chất vật chất của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có vốn FDI sản xuất vật chất: đây là các doanh nghiệp mà
hoạt động của nó sản xuất ra các sản phẩm có tính chất vật chất.
Doanh nghiệp có vốn FDI phi sản xuất vật chất: Đây là các doanh nghiệp
mà sản phẩm của nó thuộc về tinh thần, dịch vụ, tri thức, nghệ thuật
2.2.5 Căn cứ vào địa giới hành chính
Các doanh nghiệp có vốn hoạt động tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương như: Các doanh nghiệp có vốn FDI ở thành phố Hà Nội, Nghệ An, Hải
Phòng, Hồ Chí Minh, Quảng Ninh
cc
C A O H I Ế U 4 8 C - Q T K D T M - N E U
1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI
2.2.6 Căn cứ vào tỉ trọng vốn góp
Doanh nghiệp liên doanh: Là một tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên
tham gia cùng góp vốn,có quốc tịch khác nhau, cùng kinh doanh, cùng quản lý và
cùng phân phối kết quả kinh doanh, nhằm thực hiện các cam kết trong hợp đồng
liên doanh và điều lệ doanh nghiệp liên doanh phù hợp với khuôn khổ luật pháp
vốn của nước ngoài, loại doanh nghiệp còn lại phải có vốn của người nước ngoài
và phải có sự quản lý doanh nghiệp của bên nước ngoài.
cc
C A O H I Ế U 4 8 C - Q T K D T M - N E U
1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Về cơ sở pháp lý: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước hoạt động theo
khuôn khổ luật pháp trong nước. Còn doanh nghiệp có vốn FDI vừa phải hoạt
động tuân thủ pháp luật nước sở tại và vừa phải tuân thủ luật pháp ở nước họ, luật
pháp quốc tế.
Về quan hệ lợi ích trong doanh nghiệp: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong
nước đại diện cho lợi ích của một dân tộc, quốc gia. Doanh nghiệp có vốn FDI đại
diện cho lợi ích cho từ hai quốc gia dân tộc trở lên.
Về mức độ phức tạp trong quan hệ của doanh nghiệp: Do sự khác nhau về
văn hóa, ngôn ngữ vuât thân của các đối tác trong các doanh nghiệp có vốn FDI
nên mức độ phức tạp trong các doanh nghiệp này cao hơn rất nhiều so với các
doanh nghiệp có vốn trong nước.
cc
C A O H I Ế U 4 8 C - Q T K D T M - N E U
1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Chương II : Thực trạng thu hút và sử dụng vốn FDI từ
1988_ 2008 của Việt Nam
3.Tổng quan FDI vào Việt Nam
3.1 Số lượng các dự án, số vốn cam kết, số vốn giải ngân thực tế
Số lượng các dự án được cấp phép đầu tư tính từ thời điểm 1988_ 2008 lên
tới 9803 dự án với nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau. Trong đó vốn điều lệ
đăng ký hoạt động là 52 014 038 372 USD. Tổng vốn đầu tư đăng ký và tăng thêm
là 149 774 721 399 lớn hơn rất nhiều con số vốn điều lệ đăng ký. Điều đó cho
thấy các nhà đầu tư không ngừng mở rộng vốn đầu tư ban đầu vào Việt Nam.
vào Việt Nam. Trong đó Malaysia đứng vị trí thứ nhất, chiếm 17,o% tổng vốn
đăng ký. Đài Loan đứng thư hai, chiếm 13,1% ; Nhật Bản đứng vị trí thưa ba
chiếm 11,1% ; Hàn Quốc đứng thứ tư, chiếm 10,8% và British Virgrin Islands
đứng thứ năm, chiếm 9,5%. Cơ cấu đầu tư theo đối tác đã đa dạng hơn và có sự
dịch chuyển theo hướng tích cực từ các nước quốc gia và vũng lãnh thổ thuộc
Châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hồng Công…sang các
khu vực khác như Châu Âu gồm Thủy Sĩ, Anh, Samoa, Síp, Pháp, Hà Lan, Đức,
Đan Mạch…và Châu Mỹ như Canada, Hoa Kỳ
Tính từ 1988-2008 đầu tư trực tiếp nước ngoài theo nước đã có tới 6 nước
có số vốn đầu tư trên 11 tỷ USD.
Bảng 2.2: Các nước có số vốn đầu tư vào Việt Nam trên 11 tỷ USD
STT Nước, vùng lãnh thổ Số dự án Tổng vốn đầu tư Vốn điều lệ
1 Đài Loan 1940 19,650,567,091 7,816,779,142
2 Malaysia 302 17,783,408,023 3,812,797,776
3 Nhật Bản 1046 17,158,201,448 4,875,799,623
4 Hàn Quốc 2058 16,526,117,830 5,862,630,195
5 Singapore 651 15,438,025,346 5,132,305,330
6 BritishVirginIslands 404 11,704,426,217 3,917,299,736
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
3.4 Phân bổ FDI theo ngành kinh tế
Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành từ năm 1988_ 2008, theo đó ngành
Công Nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam
trong suốt thời kỳ dài hơn 20 năm đổi mới thu hút đầu tư. Bên cạnh đó lĩnh vực
Nông nghiệp không nhận được sự quan tâm ưu ái trong các dự án đầu tư của các
nhà đầu tư nước ngoài, với tỷ trọng vốn đầu tư trên tổng số vốn đầu tư chỉ dừng lại
ở con số khiêm tốn là 3% trong khi đó Công Nghiệp Xây Dựng chiếm tới 59% gấp
gần 20 lần. Trên góc độ mang lại lợi nhuận thì ngành Nông nghiệp được đánh giá
thấp hơn nhiều so với các ngành khác mặc dù Nông nghiệp ở nước ta luôn có tiềm
năng phát triển rất lớn. Tuy nhiên thời gian gần đây Nông nghiệp đang càng ngày
càng thu hút được nhiều hơn sưu quan tâm đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài
294 1,758,606,263 642,864,566
XD khu đô thị
mới
14 8,224,680,438 2,841,813,939
XD Văn
phòng căn hộ
189 19,361,686,326 5,735,689,586
XD hạ tầng
KCN KCX
36 1,780,515,658 558,735,597
III
Nông lâm
nghiệp
976 4,792,791,569 2,290,827,787
Nông-lâm
nghiệp
838 4,322,791,540 2,024,892,567
Thủy sản 138 470,000,029 265,935,220
Tổng số 9,803 149,774,721,399 52,014,038,372
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
cc
C A O H I Ế U 4 8 C - Q T K D T M - N E U
1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Biểu 2.1 : Tỷ trọng vốn FDI trong các ngành kinh tế
Nguồn : Bộ Kế hoạch và Đầu tư
3.5 Phân bổ FDI theo địa phương
Cơ cấu đầu tư theo địa bàn có sự dịch chuyển tích cực hơn. Bên cạnh các
địa bàn thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh,
Vĩnh Phúc) và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam(TP Hồ Chí Minh, Bình Dương,
Bảng 2.4: Các địa phương, khu vực có vốn FDI trên 1 tỷ USD
STT Địa phương Số dự án Tổng vốn đầu tư Vốn điều lệ
1 TP HCM 2834 26,266,686,160 9,362,483,703
2 Bà Rịa-Vũng Tàu 161 15,556,779,896 5,244,663,861
3 Hà Nội 1308 17,549,421,744 7,025,252,680
4 Đồng Nai 960 13,528,649,779 6,401,187,017
5 Ninh Thuận 19 9,967,716,566 841,817,678
6 Bình Dương 1720 9,628,703,085 3,840,130,207
7 Hà Tĩnh 11 7,920,755,000 2,718,460,000
8 Thanh Hóa 35 6,963,212,144 448,721,987
9 Phú Yên 40 6,321,446,438 1,428,858,655
10 Quãng Ngãi 16 3,594,028,689 574,883,000
11 Hải Phòng 304 3,027,597,521 1,301,263,820
12 Long An 259 2,897,385,092 1,194,867,540
13 Kiên Giang 14 2,772,730,857 1,195,170,082
14 Đà Nẵng 129 2,554,172,950 1,005,641,689
15 Hải Dương 221 2,295,383,881 821,308,321
16 Vĩnh Phúc 170 2,235,597,756 753,176,192
17 Dầu khí 39 2,158,441,815 1,801,441,815
18 Bắc Ninh 137 1,920,872,241 570,216,235
19 Thừa Thiên Huế 53 1,891,343,235 414,403,114
20 Quảng Ninh 107 1,172,665,685 480,740,872
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1988-2008 đã có 20 địa phương có tổng
vốn đầu tư trên 1 tỷ USD tính tới thời điểm 19/12/2008
Trong 3 năm gần đây 2006 – 2008, cả nước có 63 địa phương thu hút được
dự án đầu tư nước ngoài trong đó 10 địa phương dẫn đầu là TP HCM chiếm 13,7%
tổng vốn đăng ký, Bà Rịa-Vũng Tàu chiếm 13,2% , Ninh Thuận chiếm 10,3% ,Hà
Tính chiếm 8,1% , Hà Nội chiếm 6,8% , Thanh Hóa chiếm 6,5% , Phú Yên chiếm
6,3% , Đồng Nai chiếm 5,5% , Bình Dương chiếm 4,9% và Kiên Giang chiếm
kỳ 1996-2000, mặc dù có ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế khu vực
Đông Nam Á, vốn thực hiện đã đạt 13,5 tỷ USD, tăng 89% so với 5 năm trước,
chiếm 64,8% tổng vốn đăng ký mới (trong đó, vốn góp của Bên Việt Nam là 1,4 tỷ
USD và vốn từ nước ngoài đạt 12 tỷ USD) và tăng 90% so với 5 năm trước. Trong
5 năm 2001-2005 vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD, chiếm 64,8% tổng vốn đăng ký
mới, tăng 6% so với 5 năm trước và vượt 30% dự báo ban đầu (11 tỷ USD) nêu
tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP, trong đó, vốn góp của Bên Việt Nam đạt trên 1,1
tỷ USD và vốn từ nước ngoài đạt 12,6 tỷ USD. Riêng hai năm 2006 và 2007 tổng
vốn thực hiện đạt 8,7 tỷ USD (trong đó, vốn góp của Bên Việt Nam đạt gần 1 tỷ
USD và vốn từ nước ngoài đạt 7,7 tỷ USD), tuy chỉ bằng 27% tổng vốn đăng ký
mới, nhưng vốn thực hiện năm 2007 tăng 12% so với năm 2006, và sẽ là tiền đề
cho việc giải ngân của 2 năm tới 2008 và 2009 tăng cao vì trong các dự án cấp
mới trong 2 năm 2006 và 2007 có nhiều dự án quy mô vốn đăng ký lớn.
4.2 Triển khai hoạt động sản xuất-kinh doanh của dự án ĐTNN
Trong hơn 20 năm qua, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã góp phần đáng kể
trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội đất nước bằng việc tạo ra tổng giá trị
doanh thu đáng kể, trong đó có giá trị xuất khẩu, cũng như đóng góp tích cực vào
ngân sách và tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động. Đồng thời, tiếp
tục khẳng định vai trò trong sự nghiệp phát triển kinh tế, đóng góp ngày càng lớn
vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước và thực sự trở thành bộ phận cấu
thành quan trọng của nền kinh tế. Từ mức đóng góp trung bình 6,3% của GDP
trong giai đoạn 1991-1995, khu vực doanh nghiệp ĐTNN đã tăng lên 10,3% GDP
của 5 năm 1996-2000. Trong thời kỳ 2001-2005, tỷ trọng trên đạt trung bình là
14,6%. Riêng năm 2005, khu vực ĐTNN đóng góp khoảng 15,5% GDP, cao hơn
mục tiêu đề ra tại Nghị quyết 09 (15%). Trong hai năm 2006 và 2007 khu vực
kinh tế có vốn ĐTNN đóng góp trên 17% GDP.
Nếu trong giai đoạn 1991-1995 tổng giá trị doanh thu mới đạt 4,1 tỷ USD
(trong đó giá trị xuất khẩu không tính dầu thô đạt 1,2 tỷ USD, chiếm 30% tổng
doanh thu) thì trong thời kỳ 1996-2000 tổng giá trị doanh thu đã đạt 27,09 tỷ USD
(trong đó giá trị xuất khẩu không tính dầu thô đạt 10,59 tỷ USD, chiếm 39% tổng
thời gian hưởng chính sách ưu đãi thuế của nhà nước. Giai đoạn 2001-2005 khu
vực doanh nghiệp ĐTNN đã nộp ngân sách hơn 3,6 tỷ USD, tăng gấp hơn 2 lần 5
năm trước. Năm 2006 con số trên đạt 1,4 tỷ USD, bằng cả 5 năm 1996-2000. Năm
2007, dự kiến thu ngân sách đạt 1,576 tỷ USD, tăng 7% so với năm trước.
Đồng thời, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cũng tạo việc làm và thu nhập ổn
định cho một bộ phận dân cư, tính từ 1988 đến cuối 2007 có trên 1,26 triệu lao
động trực tiếp, chưa kể số lao động gián tiếp khác làm việc trong khu vực dịch vụ
mà theo kết quả điều tra của Ngân hàng Thế giới, cứ 1 lao động trực tiếp sẽ tạo
việc làm cho khoảng từ 2-3 lao động gián tiếp khác. Số lao động làm việc trong
các doanh nghiệp ĐTNN cũng tăng lên qua từng giai đoạn, từ 21 vạn người vào
cuối năm 1995 đã tăng lên 37,9 vạn người vào cuối năm 2000, tăng 80% so với 5
năm trước. Đến cuối năm 2005 đã tăng gấp 2,5 lần so với 5 năm trước thể hiện số
lượng các doanh nghiệp đi vào triển khai dự án tăng lên. Trong 2 năm 2006 và
2007 do lượng dự án vào nhiều và triển khai nhanh nên số lượng lao động trong
khu vực ĐTNN tính đến cuối 2 năm này đã tăng 9,9% và 12% so với cuối năm
2005.
4.3 Rút Giấy phép đầu tư, giải thể trước thời hạn
Tính đến hết năm 2007, đã có 38 dự án ĐTNN kết thúc đúng thời hạn với
tổng vốn đăng ký 658 triệu USD. Các dự án kết thúc đúng thời hạn chủ yếu là các
dự án đầu tư trong những lĩnh vực đặc thù như trục vớt tàu đắm, thăm dò và khai
thác dầu, khí, nuôi trồng thuỷ sản Đồng thời, đã có 1.359 dự án ĐTNN bị giải
thể trước thời hạn với số vốn đăng ký giải thể khoảng 15,5 tỷ USD, trong đó, vốn
giải thể chủ yếu tập trung trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 50%, lĩnh vực công nghiệp
xây dựng chiếm 42,3%. Điều này cho thấy các doanh nghiệp thuộc dịch vụ không
vượt qua được khó khăn, trở ngại trong hoạt động. Trong các dự án ĐTNN bị giải
cc
C A O H I Ế U 4 8 C - Q T K D T M - N E U
1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI
thể, số dự án hoạt động theo hình thức liên doanh chiếm đa số (56% về số dự án
25
30
35
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Tỷ trọng vốn FDI trên tổng
vốn đầu tư xã hội (%)
Biểu 2.3: Tỷ trọng vốn FDI trên tổng vốn đầu tư xã hội qua các năm
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI
kinh tế trong nước. Năm 1995, tỷ trọng của FDI trong đầu tư xã hội lên tới 30,4%,
là mức cao nhất cho đến nay. Tỷ lệ này giảm dần và tới năm 2004 , FDI thực hiện
ước chiếm 14,2% tổng đầu tư xã hội, mức thấp nhất trong các năm qua. Năm
2005, do chính sách ưu tiên của chính phủ đối với khu vực FDI, lượng vốn FDI
thực hiện đã tăng nhanh qua các năm và tới năm 2008, lượng vốn này chiếm
khoảng 29,8% trong tổng vốn đầu tư xã hội.
Trong suốt những năm qua, khu vực có vốn FDI chiếm tỷ trọng ngày
càng tăng trong GDP. Năm 2008, khu vực FDI đóng góp khoảng 20,1% vào
GDP so với tỷ lệ đóng góp 6,1% năm 1995.
Biểu 2.4: Tỷ trọng của khu vực FDI trong GDP
Bên cạnh đó, khu vực có vốn FDI luôn dẫn đầu về tốc độ tăng giá trị gia
tăng so với khu vực kinh tế khác và là khu vực phát triển năng động nhất, tốc độ
tăng giá trị gia tăng của khu vực này luôn cao hơn mức trung bình của cả nước.
5.2 FDI với nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu.
FDI vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, nhờ đó,
trong hơn một thập kỷ qua Việt Nam đã cải thiện được nhiều ngành kinh tế quan
trọng như thăm dò, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông, điện tử, xây dựng hạ
tầng Đây là các ngành nhận được nhiều sự quan tâm đầu tư nhất của dòng vốn
FDI chảy vào nước ta trong thời gian qua. Những lĩnh vực ngành nghề này được
các nhà đầu tư đánh giá cao về khả năng mang lại lợi nhuận.
30
35
40
45
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Tỷ trọng của FDI trong công nghiệp (%)
C A O H I Ế U 4 8 C - Q T K D T M - N E U
1
0% 20% 40% 60% 80% 100%
1995
1997
1999
2001
2003
2005
2007
Khu vực kinh tế trong nước
Khu vực FDI
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Mặc dù FDI có tỷ trọng xuất khẩu ngày càng cao song giá trị xuất khẩu ròng
của khu vực này lại ko cao. Sở dĩ như vậy vì các dự án FDI trong công nghiệp vẫn
chủ yếu sử dụng các dây chuyền lắp ráp có quy mô nhỏ và sử dụng nguồn đầu vào
từ nhập khẩu là chính.
5.3 FDI đối với việc làm và cải thiện nguồn nhân lực
Biểu 2.7: Tỷ trọng của khu vực FDI trong tạo việc làm
Nguồn : Niên giám thống kê hàng năm của Việt Nam
Hiện tại, các dự án có vốn FDI tại Việt Nam đang sử dụng 1,831 triệu lao
động, chỉ chiếm khoảng 4,0% tổng số lao động có việc làm tại Việt Nam, so với tỷ
lệ này năm 2000 là 0,99%. Điều đó cho thấy FDI vẫn xuất hiện chủ yếu trong các
ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc
chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách
quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc và nguyên, vật liệu
5.5 ĐTNN góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống
kinh tế quốc tế
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN tăng nhanh, cao hơn
mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước. Thời kỳ 1996-2000, xuất khẩu của khu vực ĐTNN
đạt 10,6 tỷ USD (không kể dầu thô), tăng hơn 8 lần so với 5 năm trước, chiếm
23% kim ngạch xuất khẩu cả nước; năm 2000 chiếm 25%, năm 2003 chiếm 31%;
tính cả dầu thô thì tỷ trọng này đạt khoảng 54% năm 2004 và chiếm trên 55%
trong các năm 2005, 2006 và 2007.
ĐTNN chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu
khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35% hàng
may mặc… Thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập đoàn xuyên quốc gia,
nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cận được với các thị trường trên thế
giới.
Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, ĐTNN đã tạo ra nhiều khách sạn cao
cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế 4, 5 sao cũng như các khu du lịch, nghỉ dưỡng đáp ứng
nhu cầu khách du lịch quốc tế, góp phần gia tăng nhanh chóng xuất khẩu tại chỗ.
Mang về nguồn thu ngoại tệ lớn cũng như giá trị kinh tế từ ngành công nghiệp
không khói này.
Bên cạnh đó, ĐTNN còn góp phần đưa nền kinh tế nước ta từng bước hội
nhập với kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
ĐTNN đã góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ cấm vận của Hoa Kỳ đối
với Việt Nam, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa
phương hóa và đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu
vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư. Đến nay,
Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO. Nước ta
cũng đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trong đó có Hiệp định
người dân có sự chênh lệch lớn.
Đối với các ngành nghề cũng xảy ra tình trạng tương tự, các nhà ĐTNN chỉ
đầu tư vào các ngành có khả năng sinh lợi cao, rủi ro thấp, còn các ngành, lĩnh vực
có khả năng sinh lời thấp, rủi ro cao không được sự quan tâm của các nhà ĐTNN.
6.2 Tranh chấp lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Các tranh chấp lao động là khó tránh, đặc biệt trong những thời điểm doanh
nghiệp mới bắt đầu hoạt động, hoặc khi doanh nghiệp gặp khó khăn về sản xuất
kinh doanh. Nhìn chung người chủ thường trả công cho người lao động thấp hơn
cái mà họ đáng được hưởng, không thỏa đánh với nhu cầu của người lao động.
Điều đó dẫn đến mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, dẫn đến
tình trạng đình công bãi công làm thiệt hại cho doanh nghiệp.
cc
C A O H I Ế U 4 8 C - Q T K D T M - N E U
1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI
ĐTNN ở nước ta đã thu hút được hàng nghìn doanh nghiệp của các nước và
vũng lãnh thổ khắp thế giới. Điều đó cho thấy tính hấp dẫn của môi trường đầu tư
ở Việt Nam, đồng thời cũng thể hiện tính đa dạng của các nền văn hóa trong quan
hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp ĐTNN.
6.3 Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ
Nhìn chung công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp ĐTNN
thường cao hơn mặt bằng công nghệ cùng ngành và cùng loại sản phẩm tại nước
ta. Đó thường là các công nghệ chuyển giao từ các nền kinh tế phát triển hoặc là
công nghệ máy móc nhập khẩu trực tiếp
Tuy vậy, một số trường hợp các nhà ĐTNN đã lợi dụng sơ hở của pháp luật
Việt Nam, cũng như sự yếu kém trong kiểm tra giám sát tại các cửa khẩu nên đã
nhập vào Việt Nam một số máy móc thiết bị có công nghệ lạc hậu thậm chí là
những phế thải của các nước khác. Tính phổ biến của việc nhập máy móc thiết bị
là giá cả đươc ghi trong hóa đơn thường cao hơn giá trung bình của thị trường thế
giới. Nhờ vậy một số nhà ĐTNN có thể lợi dụng để khai tăng tỷ lệ góp vốn trong