Đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản đóng hộp sang thị trường nga của công ty cổ phần xuất nhập khẩu rau quả i - Pdf 95


CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ
LỢI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI & KINH TẾ QUỐC TẾ
  
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài :
ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN ĐÓNG HỘP
SANG THỊ TRƯỜNG NGA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
XUẤT NHẬP KHẨU RAU QUẢ I
Hµ Néi – 05/2009
LỜI CAM ĐOAN
SVTH: NGÔ THỊ NHIÊN LỚP KINH DOANH QUỐC 47A
Gi¸o viªn híng dÉn
Sinh viªn thùc hiÖn
: ts. T¹ lîi
: ng« thÞ nhiªn
Chuyªn ngµnh
Líp
Kho¸

: kinh doanh quèc tÕ
: kinh doanh quèc tÕ a
: 47
: chÝnh quy
1
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ
LỢI

3 Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng của công
ty giai đoạn 2006 – 2008
51
4 Bảng 2.2 Kim ngạch xuất khẩu theo thị trường
củaVEGETEXCO NO.1 qua các năm 2006 –
2008
56
5 Bảng 2.3 Kết quả sản xuất kinh doanh các năm 59
6 Bảng 2.4 Kết quả XK rau quả chế biến của Công ty
XNK rau quả I qua các năm 2006 – 2008
61
7 Biểu đồ 2.1 Hoạt động xuất khẩu đổ hộp sang thị trường
Nga giai đoạn 2005 - 2008
67
8 Bảng 2.5 Mặt hàng nông sản đóng hộp xuất khẩu sang
thị trường Nga của công ty qua các năm
68
9 Bảng 3.1 Định hướng sản phẩm và thị trường cho mặt
hàng rau quả của Công ty đến năm 2010
93
SVTH: NGÔ THỊ NHIÊN LỚP KINH DOANH QUỐC 47A
3
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ
LỢI
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hiện nay trong lĩnh vực xuất khẩu, kim ngạch của nhóm hàng nông sản
có xu hướng tăng với tốc độ khá cao và ngày càng củng cố vị trí quan trọng
của mình. Các sản phẩm rau quả Việt Nam đã được bạn bè thế giới biết đến
và ưa chuộng, nhờ đó đã tạo dựng nên thương hiệu riêng cho nông phẩm Việt

Từ đó tìm ra nguyên nhân của những khó khăn tồn tại và đề xuất một số giải
pháp nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu mặt hàng nông sản sang
thị trường Nga của công ty.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ lý luận về đẩy mạnh xuất khẩu và sự cần thiết phải đẩy mạnh
xuất khẩu mặt hàng nông sản đóng hộp sang thị trường Nga.
Phân tích, đánh giá việc thực trạng xuất khẩu các mặt hàng nông sản
đóng hộp sang thị trường Nga của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu rau quả I
trong thời gian vừa qua.
Đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh hơn nữa việc xuất khẩu các mặt
hàng nông sản đóng hộp sang thị trường Nga của công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu các mặt hàng nông sản
đóng hộp sang thị trường Nga của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu rau quả I
trong những năm qua.
Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt hàng : Các sản phẩm nông sản đóng hộp.
Về không gian: Thị trường Nga và Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu rau
quả I
Về thời gian : Từ năm 2005 – 2008.
SVTH: NGÔ THỊ NHIÊN LỚP KINH DOANH QUỐC 47A
5
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ
LỢI
4. Kết cầu của chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Ngoài phần mở bài và kết luận, nội dung chính của chuyên đề thực tập
tốt nghiệp gồm 3 chương sau đây:
Chương 1: Lý luận chung về đẩy mạnh xuất khẩu và sự cần thiết phải
đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản đóng hộp sang thị trường Nga của
Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu rau quả I.


. Tất nhiên, sự trao đổi hàng hoá ở đây
phải được các bên tham gia thoả thuận.
Tóm lại, xuất khẩu là hoạt động đưa hàng hóa dịch vụ từ quốc gia này
sang quốc gia khác. Xuất khẩu được coi là hình thức thâm nhập thị trường ít
SVTH: NGÔ THỊ NHIÊN LỚP KINH DOANH QUỐC 47A
7
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ
LỢI
rủi ro và chi phí thấp. Dưới giác độ kinh doanh, xuất khẩu là việc bán các
hàng hóa dịch vụ. Dưới giác độ phi kinh doanh như làm quà tặng hoặc viện
trợ không hoàn lại thì hoạt động đó lại là việc lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ
qua biên giới quốc gia.
1.1.2. Đặc điểm của xuất khẩu
Đối tượng xuất khẩu là hàng hóa và hàng hoá như sản phẩm tiêu dung,
máy móc thiết bị, dịch vụ vận tải, du lịch, ngân hàng…
Chủ thể tham gia vào hoạt động xuất khẩu bao gồm ít nhất hai bên là
nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu có quốc tịch khác nhau. Trong đó người xuất
khẩu là người có hàng hoá, dịch vụ sản xuất ở tron nước còn nhà nhập khẩu là
người mua hàng hoá của người xuất khẩu với mục đích là kinh doanh hay tiêu
dùng trực tiếp. Ngoài ra còn có sự tham gia của bên thứ ba là Chính phủ của
nhà xuất khẩu hoặc Chính phủ của nhà nhập khẩu làm hoặc sự tham gia của
các tổ chức tài chính với chức năng thanh toán hoặc tổ chức hoạt động xuất
khẩu như một trung gian như các Hiệp hội của các quốc gia.
Hoạt động xuất khẩu là quả trình trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các
quốc gia và lấy ngoại tệ làm phương tiện thanh toán. Đó là sự trao đổi ngàng
giá trên cơ sở đồng tiền thanh toán là ngoại tệ của một trong hai bên hoặc
ngoại tệ của cả hai bên. Việc thanh toán có thể lựa chọn các hình thức như
thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, thanh toán nhờ thu chứng từ hoặc phổ biến
hiện nay là hình thức tín dụng chứng từ.

của nhập khẩu.
Thứ hai, xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc
đẩy sản xuất phát triển.
SVTH: NGÔ THỊ NHIÊN LỚP KINH DOANH QUỐC 47A
9
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ
LỢI
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn
định sản xuất, tạo ra lợi thế nhờ quy mô.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia. Hoạt động ngoại thương
cho phép một nước có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớn hơn
nhiều lần so với khả năng sản xuất của quốc gia đó.
Xuất khẩu là phương tiện quan trọng để tạo vốn và thu hút kỹ thuật
công nghệ từ các nước phát triển nhằm hiện đại hóa nền kinh tế nội địa, tạo
năng lực cho sản xuất mới.
Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hóa tăng cường hiệu quả
sản xuất của từng quốc gia. Khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì phân
công lao động ngày càng sâu sắc. Ngày nay đẵ có những sản phẩm mà việc
chế tạo từng bộ bộ phận được thực hiên ở các quốc gia khác nhau. Để hoàn
thiện được những sản phẩm này, người ta phải tiến hành xuất khẩu linh kiện
từ nước này sang nước khác để lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh. Do đó, từng
nước không nhất thiết phải xản xuất ra tất cả các loại hàng hóa mà mình cần,
thông qua xuất khẩu họ có thể tập trung vào sản xuất một vài loại mà họ có
lợi thế, sau đó tiến hành trao đổi lấy những hàng hóa mà mình cần.
Thứ ba, xuất khẩu góp phần nâng cao uy tín của quốc gia trên thị trường
quốc tế.
Tiêu chí để đánh giá uy tín của một quốc gia trên thị trường quốc tế là:
GDP, lạm phát, thất nghiệp và cán cân thanh toán. Xuất khẩu đem lại nguồn
thu ngoại tệ là tăng GDP, cân bằng cán cân thanh toán do vậy đóng góp vào

không ngừng nâng cao trình độ quản trị kinh doanh, tăng cường đầu tư đổi
mới trang thiết bị để tự hoàn thiện mình.
SVTH: NGÔ THỊ NHIÊN LỚP KINH DOANH QUỐC 47A
11
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ
LỢI
Thứ ba, xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị
trường, mở rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài
nước, trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời
phân tán và chia sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt động kinh doanh, tăng cường uy
tín kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ tư, xuất khẩu khuyến khích việc phát triển các mạng lưới kinh
doanh của doanh nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát
triển các hoạt động sản xuất, marketing… từ đó tạo được sự đa dạng trong thị
trường và tiếp cận tốt hơn với người tiêu dùng.
1.1.4. Các hình thức xuất khẩu
1.1.4.1. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của một công ty cho
các khách hàng của mình ở thị trường nước ngoài. Các công ty có kinh
nghiệm quốc tế thường trực tiếp bán các sản phẩm của mình ra thị trường
nước ngoài. Để thâm nhập thị trường quốc tế qua hình thức xuất khẩu trực
tiếp, các công ty thường sử dụng hai hình thức chủ yếu sau:
- Đại diện bán hàng
Đại diện bán hàng là hình thức bán hàng không trên doanh nghĩa của
mình mà lấy danh nghĩa của người uỷ thác. Đại diện bán hàng được nhận
lương và một phần hoa hồng trên cơ sở giá trị của hàng hoá mà họ bán được.
Trên thực tế, đại diện bán hàng hoạt động như nhân viên bán hàng của công
ty ở thị trường nước ngoài. Công ty sẽ ký hợp đồng trực tiếp với khách hàng ở
thị trường đó.
- Đại lý phân phối.

hoạt động như là nhà phân phối độc lập có chức năng kết nối các khách hàng
nước ngoài với công ty xuất khẩu trong nước để đưa hàng hoá ra nước ngoài
tiêu thụ.
SVTH: NGÔ THỊ NHIÊN LỚP KINH DOANH QUỐC 47A
13
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ
LỢI
Ngoài việc thực hiện các hoạt động liên quan trực tiếp đến xuất khẩu,
các công ty này còn cung cấp các dịch vụ xuất nhập khẩu và thương mại đối
lưu, thiết lập và mở rộng các kênh phân phối, tài trợ cho các dự án thương
mại và đầu tư, thậm chí trực tiếp thực hiện sản xuất để bổ trợ một công đoạn
nào đó cho các sản phẩm ví dụ như bao gói, in ấn…
Bản chất của công ty kinh doanh xuất khẩu là thực hiện các dịch vụ
xuất khẩu nhằm kết nối các khách hàng nước ngoài với công ty. Tuy nhiên,
các công ty kinh doanh dịch vụ xuất khẩu này có nhiều vốn, nhiều mối quan
hệ và cơ sở vật chất tốt nên có thể làm các dịch vụ bổ trợ cho hoạt động xuất
khẩu của công ty xuất khẩu. Công ty kinh doanh xuất khẩu có kinh nghiệm,
chuyên sâu về thị trường nước ngoài và có các chuyên gia chuyên làm dịch vụ
xuất khẩu. Các công ty kinh doanh xuất khẩu có nguồn thu từ các dịch vụ
xuất khẩu và tự bỏ chi phí cho hoạt động của mình. Các công ty này có thể
cung cấp các chuyên gia xuất khẩu cho các công ty xuất khẩu.
- Đại lý vận tải: là các công ty thực hiện dịch vụ thuê vận chuyển và
những hoạt động có liên quan đến xuất khẩu hàng hoá như khai báo hải quan,
áp biểu thuế quan, thực hiện giao nhận chuyên chở và bảo hiểm.
Các đại lý vận tải này cũng thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu và phát
triển nhiều loại hình dịch vụ giao nhận hàng hóa đến tay người nhận. Khi các
công ty xuất khẩu thông qua các đại lý vận tải hay các công ty chuyển phát
hàng thì các đại lý và các công ty đó cũng làm các dịch vụ xuất nhập khẩu
liên quan đến hàng hoá đó.
Bản chất của các đại lý vận tải hoạt động như các công ty kinh doanh

vào hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu do kinh nghiệm còn hạn chế để
tránh rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng thì họ uỷ thác cho doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu có kinh nghiệm thực hiện. Trong khi tiến
SVTH: NGÔ THỊ NHIÊN LỚP KINH DOANH QUỐC 47A
15
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ
LỢI
hành thuê đơn vị uỷ thác xuất khẩu, các doanh nghiệp uỷ thác xuất khẩu phải
tìm hiểu kĩ đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu. Các thoả thuận giữa hai bên phải
được thoả thuận trong hợp đồng uỷ thác xuất khẩu. Trong hình thức xuất khẩu
uỷ thác, doanh nghiệp uỷ thác còn gặp nhiều vấn đề bất cập. Ví dụ, khi có
tranh chấp xảy ra, doanh nghiệp uỷ thác phải chịu các khoản chi phí. Nếu
hàng hoá bị trả lại thì doanh nghiệp uỷ thác phải chấp nhận.
Đối với doanh nghiệp nhận uỷ thác xuất khẩu, thông qua hoạt động
xuất khẩu uỷ thác thì danh tiếng của công ty được lan rộng trên thị trường
quốc tế, hơn nữa doanh nghiệp có thể thu được nhiều kinh nghiệm và tăng
thu nhập do hoạt động xuất khẩu đem lại.
Nhìn chung, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp có thể chủ động trong
việc xuất khẩu hàng hoá của mình. Tuỳ thuộc vào quy mô kinh doanh và
kinh nghiệm của mình, mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức xuất
khẩu phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp. Hơn nữa, các doanh
nghiệp có uy tín, quy mô lớn nên áp dụng thêm hình thức xuất khẩu uỷ thác
để có thể tăng thêm thu nhập từ hoạt động này.
1.1.5. Nội dung của hoạt động xuất khẩu
1.1.5.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu
 Nghiên cứu thị trường.
- Khái niệm: Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập và xử lý các
thông tin nhằm giúp các nhà xuất khẩu ra quyết định lựa chọn thị trường để
xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ.
- Nội dung nghiên cứu thị trường:

 Lựa chọn thị trường
SVTH: NGÔ THỊ NHIÊN LỚP KINH DOANH QUỐC 47A
17
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ
LỢI
Dựa trên kết quả nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp xuất khẩu tự lựa
chọn cho mình những thị trường phù hợp nhất với chiến lược kinh doanh của
công ty. Thị trường được lựa chọn có thể là thị trường truyền thống, thị
trường mới tiềm năn tuỳ theo những mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn nhất
định và chiến lược thâm nhập thị trường của công t. Việc lựa chọn thị trường
đúng đắn sẽ có yếu tố quyết đinh đến sự thành công của một thương vụ xuất
khẩu, đảm bảo khả năng thực hiện mục tiêu đã đặt ra.
1.1.5.2. Lựa chọn đối tác xuất khẩu
Sau khi đã lựa chọn được thị trường xuất khẩu, doanh nghiệpcần tiến
hàng lựa chon các đối tác tại để tiến hành xuất khẩu. Việc lựa chọn đối tác
phải tuân theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi.
Có nhiều cách thức để lựa chọn đối tác, có thể lựa chọn đối tác truyền
thống hoặc tìm kiếm hợp tác với những bạn hàng mới. Thông thường khi mới
thâm nhập thị trường, các công ty xuất khẩu lựa chọn bạn hàng dựa trên các
mối quan hệ quen biết hoặc thông qua các tổ chức có uy tín giới thiệu. Sau
đó, những bạn hàng là các doanh nghiệp khác trong nước đã quen cũng là một
căn cứ để xem xét lựa chọn. Việc lựa chọn đối tác có thể lựa chọn đối tác theo
khu vực địa lý, theo lĩnh vực kinh doanh… để phù hợp với hàng hoá hoặc
dịch vụ mà công ty xuất khẩu muốn đưa sang thị trường xuất khẩu.
1.1.5.3. Lập phương án kinh doanh xuất khẩu
Phương án kinh doanh xuất khẩu là tổng hợp các phân tích, đánh giá,
các lựa chọn và tác nghiệp dựa trên hệ thống các chỉ tiêu định lượng của một
thương vụ xuất khẩu. Lập phương án kinh doanh là quá trình thiết lập một bản
tường trình về kế hoạch hành động của doanh nghiệp xuất khẩu, cụ thể đó là
phương án sản xuất (đối với doanh nghiệp sản xuất) và phương án thu mua

đột biến về số lượng, giá cả và giá, doanh nghiệp xuất khẩu phải chuẩn bị
những điều kiện cần thiết về vốn, cũng như những điều kiện khách quan như
văn hoá, chính quyền địa phương để có thể ứng phó kịp với nó.
SVTH: NGÔ THỊ NHIÊN LỚP KINH DOANH QUỐC 47A
19
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ
LỢI
Có nhiều phương thức giao dịch để lựa chọn như: Giao dịch thông
thường, giao dịch qua trung gian, buôn bán đối lưu, đấu giá quốc tế, đấu thầu
quốc tế, giao dịch tại sở giao dịch , giao dịch tại hội trợ và triển lãm… Mỗi
một phương thức có những lợi thế cũng như những bất lợi nhất định, doanh
nghiệp phải lựa chọn phương thức giao dịch hiệu quả và phù hợp với năng lực
và điều kiện của mình.
Khi đưa ra phương án kinh doanh đối với bất kỳ một mặt hàng nào,
doanh nghiệp phải tập trung vào các điều kiện cơ bản sau: Điều kiện tên hàng,
điều kiện phẩm chất, điều kiện số lượng, điều kiện bao bì hàng hoá, điều kiện
cơ sở giao hàng, điều kiện giá cả, điều kiện thanh toán tiền hàng…
Cuối cùng là phải đưa ra việc lựa chọn phương thức giao dịch đảm bảo
ít rủi ro và hiệu quả. Doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương thức giao dịch
thông dụng sau: thanh toán trực tiếp, nhờ thu hoặc tín dụng chứng từ.
Bước 3: Phải biết đặt ra các mục tiêu
Để một thương vụ kinh doanh xuất khẩu thành công thì phải đưa ra các
mục tiêu. Mục tiêu đó phải phù hợp với nhu cầu thị hiếu của khách hàng và
năng lực của bản than. Cùng với việc đặt ra mục tiêu phải đưa ra các kế hoạc
phối hợp giữa các mục tiêu vì có những mục tiêu khác nhau và có thể mâu
thuẫn nhau.
Bước 4: Đề ra các biện pháp thực hiện
Các biện pháp đưa ra để giải quyết từng nguồn lực như vốn, nhân lực,
trang thiết bị và phương tiện cần dùng, bố trí phối hợp giữa các bộ phận và
các biện pháp khẩn cấp, người phụ trách và cơ chế thực hiện.

SVTH: NGÔ THỊ NHIÊN LỚP KINH DOANH QUỐC 47A
21
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ
LỢI
thông qua và đi đến nhất trí. Việc ký kết hợp đồng phải được đại diện pháp lý
của các bên thông qua chữ ký và con dấu.
1.1.5.5. Tồ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu phải theo quy trình 10 bước sau:
Bước 1: Xin giấy phép xuất khẩu (nếu có)
Giấy phép xuất khẩu là một biện pháp quan trọng để Nhà nước quản lý
xuất nhập khẩu. Vì thế, sau khi ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu doanh nghiệp
phải xin giấy phép xuất nhập khẩu để thực hiện hợp đồng đó. Ngày nay, trong
xu thế tự do hoá mậu dịch, nhiều nước giảm bớt số mặt hàng cần phải xin
giấy phép xuất nhập khẩu.
Bước 2: Kiểm tra xác nhận thanh toán
Nghiệp vụ kiểm tra xác nhận thanh toán là một trong các nghiệp rất
quan trọng khi thực hiện hợp đồng ngoại thương. Thời điểm giao hàng và
thanh toán luôn là hai nghiệp vụ vừa độc lập vừa gắn kết chặt chẽ vơi nhau.
Kiểm tra các loại chứng từ, nội dung từng loại chứng từ được quy định làm
chứng từ thanh toán trong thư tín dụng chứng từ giúp nhà xuất khẩu tránh
được các rủi ro về thanh toán.
Bước 3: Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu
Nhà xuất khẩu cần tập trung vào chuẩn bị hàng hoá cho xuất khẩu. Nếu
nhà xuất khẩu là nhà sản xuất thì sẽ phải chuẩn bị vật tư, thiết bị và lao động,
lập kế hoạch sản xuất, nhập kho sản phẩm chuẩn bị xuất khẩu còn nếu là nhà
trung gian thương mại thì phải chuẩn bị thu mua hàng từ các nhà cung cấp
trong nước.
Bước 4: Kiểm tra hàng xuất khẩu
SVTH: NGÔ THỊ NHIÊN LỚP KINH DOANH QUỐC 47A
22

23
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ
LỢI
Trong các điều kiện CIF, CIP nhà xuất khẩu mới cần thực hiện nghiệp
vụ mua bảo hiểm. Xem xét kỹ hợp đồng và thư tín dụng để thực hiện các
nghiêp vụ sau: Liên hệ với công ty bảo hiểm để lựa chọn và mua bảo hiểm
theo điều kiện hợp đồng xuất khẩu và thư tín dụng quy định (điều kiện A,B và
C), giá trị cần mua( 100% hay 110%), loại tàu thuê theo quy định, nơi khiếu
nại đòi bồi thường, đồng tiền mua và thanh toán…; Lập giấy yêu cầu boả
hiểm hàng hoá theo mẫu và cung cấp chứng từ liên quan; Tính toán giá trị
mua bảo hiểm theo cách quy định FOB sang CIF (mua bảo hiểm theo điều
kiện CIF) và nộp phí bảo hiểm; Lấy giấy chứng nhận bảo hiểm, tập hợp bộ
chứng từ gửi hàng và thanh toán.
Bước 7: Làm thủ tục hải quan xuất hàng
Thực hiện việc thông quan hàng hoá theo quy định. Các quốc gia khác
nhau sẽ có quy trình thủ tục và chứng từ khai báo khác nhau. Đối với Việt
Nam, việc thông quan hàng hoá cần phải xuất trình các chứng từ hải quan bao
gồm: Tờ khai hải quan, hợp đồng xuất khẩu, hoá đơn thương mại, phiếu đóng
gói, giấy chứng nhận số lượng và chất lượng, hồ sơ pháp nhân doanh nghiệp,
giấy phéo xuất khẩu (nếu có). Quy trình nghiệp vụ khai báo và thông quan
hàng hoá bao gồm: Mua tờ khai và khai báo theo mẫu quy định (không dùng
bản sao, hay tẩy xoá); Nộp tờ khai và đăng ký chờ kiểm hoá; Ký xác nhận chủ
hàng xuất hàng vào tờ khai, để hải quan kẹp chì, xin xác nận hàng đã kiểm tra
của hải quan và nhận thông báo thuế (nếu có).
Bước 8: Giao hàng xuất khẩu
Đối với hàng phải lưu kho, lưu bãi: Nhà xuất khẩu giao hàng cho chủ
kho hay chủ cảng để sau đó chủ kho hay chủ càng chủ động giao hàng lên tàu.
SVTH: NGÔ THỊ NHIÊN LỚP KINH DOANH QUỐC 47A
24
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TẠ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status