Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Dương
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THẨM
ĐỊNH DỰ ÁN ĐÀU TƯ CỦA NHTM 3
1.1 Tổng quan về NHTM 3
1.1.1 Khái niệm về NHTM 3
1.1.2 Chức năng của NHTM 4
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của NHTM 4
1.2 Tổng quan về dự án đầu tư 6
1.2.1 Khái niệm dự án đầu tư 6
1.2.2 Phân loại dự án đầu tư 8
1.2.3 Cơ cấu dự án đầu tư 10
1.3 Hoạt động thẩm định dự án đầu tư của NHTM 14
1.3.1 Khái niệm thẩm định dự án đầu tư 14
1.3.2 Vai trò của thẩm định dự án đầu tư 15
1.3.3 Nội dung của thẩm định dự án đầu tư 16
1.3.4. Phương pháp thẩm định dự án 30
1.3.5 Nhân tố ảnh hưởng đến thẩm định dự án đầu tư 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN
ĐẦU TƯ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THỦ ĐÔ 36
2.1 Giới thiệu chung về chi nhánh NHNo & PTNT Thủ Đô 36
2.1.1 Bối cảnh ra đời 36
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của chi nhánh NHNo & PTNT Thủ Đô 37
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 41
2.1.4. Mô hình tổ chức màng lưới 42
2.1.5 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Thủ Đô 42
SV: Lê Ngọc Tiến Lớp: Tài chính công 47
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Dương
2.2 Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng Nông
NHNo & PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và phát triẻn nông thôn
PGD : Phòng giao dịch
HDQT : Hội đồng quản trị
XDCB : Xây dưng cỏ bản
SV: Lê Ngọc Tiến Lớp: Tài chính công 47
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Dương
LỜI NÓI ĐẦU
Ngân hàng thương mại là một trung tâm tài chính có vai trò quan trọng
đối với sự phát triển của nền kinh tế thông qua chức năng cung cấp tín dụng,
nhận tiền gửi và thực hiện các dịch vụ ngân hàng. Bên cạnh các nghiệp vụ
truyền thống một nghiệp vụ hỗ trợ và mang tính chất khá quan trọng trong
hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó giúp cho cán bộ tín dụng và ban lãnh
đạo có quyết định đúng hơn đối với từng món vay, đó chính là nghiệp vụ
thẩm định trong ngân hàng.
Ngày nay, các ngân hàng có xu hướng mở rộng các loại hình dịch vụ của
mình nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, các mánh khóe trong xã hội ngày
càng tinh vi, phức tạp hơn, điều đó sẽ đem lại những rủi ro cho hoạt động tín
dụng ngân hàng. Chính điều này càng khẳng định vai trò của thẩm định trong
hoạt động kinh doanh ngân hàng, đặc biệt là công tác thẩm định dự án đầu tư.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thủ Đô thành lập từ
tháng 4 năm 2008, ngày từ khi thành lập Ngân hàng đã chú trọng đến công tác
thẩm định. Các cán bộ tín dụng khi có dự án phải trực tiếp tiến hành thẩm
định để từ đó đưa ra quyết định cho từng món vay và giúp Ban lãnh đạo có
quyết định đúng trong việc cho vay, giúp cho Ngân hàng giảm bớt các rủi ro
trong hoạt động cho vay. Bên cạnh những đóng góp của công tác thẩm định
đối với hoạt động cho vay thì công tác thẩm định tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Thủ Đô còn có phát sinh những tồn tại cần tháo gỡ.
Chính điều này em chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định
dự án đầu tư tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Thủ Đô ” làm chuyên đề tốt nghiệp.
Ngân hàng là loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Ngân
hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa
dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thể hiện nhiều
chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền
kinh tế.
Theo pháp lệnh ngân hàng 23/5/1990 của Hội đồng Nhà nước xác định:
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu
thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương
tiện thanh toán.
Nhìn chung từ khái niệm ta có thể thấy rằng Ngân hàng thương mại có
các đặc trưng :
+ Là tổ chức được phép nhận ký thác của công chúng với trách nhiệm
hoàn trả.
+ Được phép nhận ký thác để cho vay, chiết khấu và thực hiện các
nghiệp vụ tài chính khác.
Như vậy ta có thể hiểu Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh
nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tín dụng với với mục đích
thu lợi nhuận.
SV: Lê Ngọc Tiến 3 Lớp: Tài chính công 47
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Dương
1.1.2 Chức năng của NHTM
* Trung gian tài chính
NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiện thành dầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ
chức trong nền kinh tế. (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu,
tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ cần bổ
sung vốn: và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu
nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do
vậy họ có tiền để tiết kiệm. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2)
bại của ngân hàng bởi đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của các ngân hàng.
Chính vì vậy đây cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Để tránh rủi ro tín
dụng xảy ra, việc quản lý tiền vay được tiến hành một cách rất chặt chẽ, đặc
biệt với món vay lớn, thời hạn cho vay dài. Từ đó ngân hàng phải phân chia
tín dụng ra nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích dễ quản lý.
- Hoạt động ngân quỹ nhằm bảo đảm khả năng thanh toán thường xuyên
của ngân hàng cho khách hàng. Đây là tài sản không sinh lời hoặc sinh lời
thấp nhưng tính lỏng cao và được coi như tiền mặt. Do đó ngân hàng phải duy
trì tài sản này ở mức độ hợp lý sao cho vừa đảm bảo tính thanh khoản vừa
đảm bảo khả năng sinh lời.
- Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng vốn vào hoạt động đầu tư chứng
khoán trên thị trường để thu lợi nhuận và một phần đảm bảo khả năng thanh
toán cho ngân hàng.
* Hoạt động trung gian
Hoạt động trung gian là việc ngân hàng cung cấp cho khách hàng một
loạt các dịch vụ liên quan như chuyển tiền, thanh toán hộ khách hàng thông
qua các hình thức ghi chép trên tài khoản của khách hàng, phát hành séc, uỷ
SV: Lê Ngọc Tiến 5 Lớp: Tài chính công 47
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Dương
nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng, môi giới mua bán chứng khoán, quản
lý hộ tài sản, tư vấn cho doanh nghiệp…
Ngày nay trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, hoạt động ngân hàng
chịu sự cạnh tranh gay gắt từ mọi hướng, chính vì vậy các ngân hàng tiến tới
hoạt động đa năng trên nhiều lĩnh vực, cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau. Vì
vậy các dịch vụ cung cấp cho khách hàng cũng ngày càng tăng thêm như:
kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh, tư vấn, kinh doanh chứng khoán, dịch vụ rút
tiền tự động, bảo đảm an toàn vật có giá, nghiệp vụ thuê mua,…Tất cả các
nghiệp vụ đều có quan hệ chặt chẽ hỗ trợ nhau một mặt thoả mãn nhu cầu của
khách hàng một mặt mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
1.2 Tổng quan về dự án đầu tư
Dù xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì dự án đầu tư cũng bao gồm các
thành phần chính như sau:
- Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án. Cụ thể là khi thực hiện
dự án sẽ mang lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho bản thân
chủ đầu tư nói riêng.
- Các hoạt động của dự án: Dự án phải nêu rõ những hành động cụ thể
phải thực hiện, địa điểm diễn ra các hoạt động của dự án, thời gian cần thiết
để hoàn thành và các bộ phận có trách nhiệm thực hiện những hành động đó.
- Các nguồn lực: hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu
thiếu các nguồn lực về vật chất, tài chính, con người…Vì vậy, phải nêu rõ các
nguồn lực cần thiết cho dự án, tổng hợp các nguồn lực này chính là vốn đầu
tư cần cho dự án.
SV: Lê Ngọc Tiến 7 Lớp: Tài chính công 47
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Dương
Tóm lại, dự án đầu tư là tập hợp kết quả nghiên cứu các nội dụng có liên
quan, ảnh hưởng đến sự vận hành và tính sinh lời của công cuộc đầu tư.
1.2.2 Phân loại dự án đầu tư
Để thuận tiện cho việc theo dõi quản lý và đề ra các biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư cần tiến hành phân loại dự án đầu tư.
Có thể phân loại các dự án đầu tư theo các tiêu thức sau:
1.2.2.1. Theo cơ cấu tái sản xuất
Phân loại theo hình thức này dự án đầu tư được phân thành dự án đầu tư
theo chiều rộng và dự án đầu tư theo chiều sâu.
Dự án đầu tư theo chiều rộng yêu cầu cần có vốn lớn, thời gian thực hiện
đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi vốn lâu, tính chất kỹ thuật phức
tạp, độ mạo hiểm cao.
Ngược lại, dự án đầu tư theo chiều sâu thì đòi hỏi khối lượng vốn ít hơn,
thời gian thực hiện không lâu, độ mạo hiểm thấp hơn so với dự án đầu tư theo
chiều rộng.
1.2.2.2. Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của dự án đầu tư
đã bỏ ra
Theo hình thức này có thể phân chia các dự án đầu tư thành dự án đầu tư
ngắn hạn (như dự án đầu tư thương mại) và dự án đầu tư dài hạn (các dự án
đầu tư sản xuất, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ
tầng…)
1.2.2.5. Theo phân cấp quản lý
Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng ban hành theo nghị định 52/1999/NĐ
- CP ngày 08/07/1999 của Thủ tướng Chính phủ phân chia dự án thành 3
SV: Lê Ngọc Tiến 9 Lớp: Tài chính công 47
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Dương
nhóm A, B, C tuỳ theo tính chất và quy mô của dự án. Trong đó nhóm A do
thủ tướng Chính phủ quyết định, nhóm B và C do Bộ trưởng, thủ trưởng cơ
quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh (và thành phố
trực thuộc trung ương) quyết định.
1.2.2.6. Theo nguồn vốn
Dựa vào nguồn vốn, dự án đầu tư có thể được phân chia thành: Dự án
đầu tư có vốn huy động trong nước (vốn tích luỹ của ngân sách, của doanh
nghiệp, tiền tiết kiệm của dân cư). Dự án đầu tư có vốn huy động từ nước
ngoài (vốn đầu tư trực tiếp, vốn đầu tư gián tiếp).
Việc phân loại này cho thấy tình hình huy động vốn từ mỗi nguồn và vai
trò của mỗi nguồn vốn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành,
từng địa phương và toàn bộ nền kinh tế.
1.2.2.7. Theo vùng lãnh thổ (theo tỉnh, theo vùng kinh tế của đất nước)
Cách phân loại này cho thấy tình hình đầu tư của từng tỉnh, địa phương,
vùng kinh tế và ảnh hưởng của đầu tư với tình hình phát triển kinh tế - xã hội
ở từng địa phương.
Trong thực tế người ta có thể phân loại dự án đầu tư theo nhiều tiêu thức
khác nhau để đáp ứng yêu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế.
1.2.3 Cơ cấu dự án đầu tư
Các loại dự án khác nhau thì có cơ cấu khác nhau. Tuy nhiên nhìn chung
Bốn là, chương trình sản xuất và các yêu cầu đáp ứng .
Trong phần này nêu lên cơ cấu sản xuất: số lượng sản phẩm hàng năm,
chất lượng giá cả. Số hàng bán dự kiến. Lượng lưu kho trung bình. Lịch trình
sản xuất như thế nào (vận hành, chạy thử, chạy hết công suất ). Bán thành
SV: Lê Ngọc Tiến 11 Lớp: Tài chính công 47
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Dương
phẩm, phế liệu. Các nhu cầu đầu vào và các giải pháp đảm bảo. Phải xác định
được nhu cầu đầu vào cho từng loại sản phẩm và toàn bộ nhu cầu sản xuất
hàng năm: Nhu cầu và đặc điểm nguyên vật liệu (vật liệu thô, các hoá phẩm,
vật liệu đã qua chế biến, các sản phẩm nhập khẩu, vật liệu phụ ). Tình trạng
cung ứng, yêu cầu dự trữ nguyên vật liệu.
Chương trình cung cấp nguyên vật liệu sản xuất: các giải pháp về nguồn
cung cấp (trong nước, nhập khẩu) phương thức cung ứng (quy hoạch sản xuất,
mua theo hợp đồng, vận tải, nếu nhập khẩu cần xác định nguồn cung cấp hình
thức nhập, điều kiện giao hàng, giá cả), phân tích các thuận lợi hạn chế, các
ảnh hưởng bất lợi, hướng khắc phục. Lịch trình cung cấp, các chi phí cho từng
lịch trình cung cấp. Các giải pháp đảm bảo kết cấu hạ tầng và phục vụ sản
xuất. Các nhu cầu cung cấp điện, nước, hơi cho sản xuất, giao thông nội bộ và
bên ngoài, kho bãi, thông tin, khả năng về nguồn, giải pháp cung cấp.
Năm là, các phương án về khu vực địa điểm và địa điểm cụ thể (hoặc
tuyến công trình).
Mỗi dự án thường có ít nhất 2 phương án địa điểm. Phương án địa điểm
phải thu thập đầy đủ các tài liệu điều tra cơ bản, tài liệu khảo sát đủ độ tin
cậy.
Sáu là, phần công nghệ kỹ thuật của dự án, bao gồm: (1) Công nghệ:
Các phương án công nghệ sản xuất chủ yếu, quy trình sản xuất có thể chấp
nhận, mô tả, phân tích, đánh giá mức độ hiện đại, tính thích hợp, kinh tế,
những điểm ưu việt và hạn chế của công nghệ lựa chọn (thông qua so sánh
một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật như quy cách, chất lượng năng suất ). Nội
dung chuyển giao công nghệ và sự cần thiết phải chuyển giao, phương thức
của đơn vị, vốn vay, ). Các hình thức góp vốn, tiến độ thực hiện chi phí
vốn
SV: Lê Ngọc Tiến 13 Lớp: Tài chính công 47
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Dương
Tính toán hiệu quả tài chính của dự án: phải nêu ra được tổng chi phí dự
án, doanh thu của dự án, lợi nhuận của dự án. Sau khi có các thông số lập biểu
tính toán hiệu quả của dự án, tính điểm hoàn vốn, thời gian hoàn vốn, độ nhậy
của dự án. Từ đó đưa ra các kết luận về mặt tài chính của dự án.
Về mặt kinh tế - xã hội: dự án đã đem lại cho xã hội những lợi ích gì.
Giá trị sản phẩm hàng hoá ra tăng. Tính đa dạng hoá sản phẩm của nền kinh
tế, dự án đem lại việc làm và thu nhập cho người lao động, đóng góp vào
ngân sách quốc gia, thu hút nguồn ngoại tệ.
Mười là, kết luận và kiến nghị
Trong phần này, đưa ra các kết luận kiến nghị các chính sách và chế độ
ưu đãi.
1.3 Hoạt động thẩm định dự án đầu tư của NHTM
1.3.1 Khái niệm thẩm định dự án đầu tư
Hoạt động đầu tư đã đóng một vai trò không nhỏ vào việc xây dựng và
phát triển ổn định kinh tế xã hội. Để phát huy được mặt tích cực của các dự án
đầu tư và hạn chế được những mặt tiêu cực của nó thì khi chấp thuận việc
thực hiện một dự án, người ta thường phân tích đánh giá, xem xét dự án về
các mặt tài chính, kinh tế xã hội… Để có được một quyết định đúng đắn khi
đưa dự án vào thực hiện. Những hoạt động xem xét, đánh giá dự án nhằm
những mục tiêu nói trên được gọi là “thẩm định dự án”.
Vậy thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách
quan có khoa học toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính
khả thi của một dự án. Từ đó ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư.
Đứng trên góc độ ngân hàng, thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem
xét, phân tích một cách khách quan toàn diện, độc lập những nội dung cơ bản
của dự án đầu tư đồng thời đánh giá chính xác những nhân tố ảnh hưởng trực
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Dương
tạo tiền đề để đảm bảo hiệu quả cho vay, thu được nợ gốc và lãi đúng hạn và
hạn chế rủi ro tới mức thấp nhất. (3) Xác định khả năng và ý muốn của người
cho vay trong việc trả nợ vay (cả gốc lẫn lãi) phù hợp với các điều khoản của
hợp đồng tín dụng. (4) Là cơ sở để xác định mức rủi ro có thể chấp nhận, xác
định số tiền cho vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp lý, tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. (5) Rút ra kinh nghiệm và
bài học để thực hiện các dự án sau được tốt hơn.
Vì vậy, trong công tác thẩm định dự án đầu tư, phải rất thận trọng để
đem lại sự an toàn cần thiết cho ngân hàng, nâng cao chất lượng tín dụng
đồng thời không bỏ lỡ cơ hội đầu tư có lãi, phục vụ khách hàng đầu tư có hiệu
quả.
1.3.3 Nội dung của thẩm định dự án đầu tư
Các cán bộ tín dụng của ngân hàng cần thẩm định các nội dung sau của
dự án đầu tư:
* Thẩm định hồ sơ pháp lý của dự án
Khi thẩm định hồ sơ pháp lý của dự án thì cần phải xem xét xem dự án
có phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, địa phương.
Phù hợp với quy hoạch phát triển ngành, địa phương có liên quan.
Dự án có thuộc đối tượng sản xuất kinh doanh trong đăng ký kinh doanh
không. Mỗi dự án bao giờ cũng có bộ hồ sơ pháp lý. Hồ sơ pháp lý của dự án
bao gồm các giấy phép, quyết định liên quan đến dự án mà chủ đầu tư đang
thực hiện như: Báo cáo nghiên cứu khả thi, quyết định phê duyệt luận chứng
kinh tế kỹ thuật của cấp có thẩm quyền phê duyệt, giấy phép xây dựng hoặc
giấy chứng nhận đầu tư của cấp có thẩm quyền phê duyệt, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng thuê đất, các văn bản pháp lý khác có liên
quan đến dự án đầu tư
* Thẩm định sự cần thiết của dự án
SV: Lê Ngọc Tiến 16 Lớp: Tài chính công 47
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Dương
Đánh giá nhu cầu thị trường đối với loại sản phẩm của dự án là một vấn
đề tối cần thiết với các nhà sản xuất. Nó có tính chất quyết định đến sự thành
bại của một doanh nghiệp, đồng thời nó cũng là một vấn đề rất phức tạm
mang nặng tính lý thuyết, vận dụng vào thực tế gặp nhiều khó khăn. Do vậy
việc dự đoán, dự báo thường sai lệch so với thực tế và được điều chỉnh trong
quá trình thực hiện dự án. Để xác định được nhu cầu sản phẩm thì phải phân
loại thị trường và để xác định được mức tiêu hao sản phẩm thì cần có các
thông số để đo lường cụ thể như: khối lượng sản xuất trong năm, mức tồn kho
cuối năm của sản phẩm, giá cả của sản phẩm Các số liệu này có thể lấy từ
các cơ quan thống kê hoặc tự doanh nghiệp điều tra.
+ Dự báo nhu cầu thị trường trong tương lai. Việc dự báo nhu cầu
trong tương lai ngoài việc dựa vào nhu cầu và mức tiêu thụ sản phẩm trong
quá khứ thì cần phải xem xét thêm một số yếu tố: Tính đàn hồi của nhu cầu so
với giá, tính đàn hồi của cầu so với thu nhập, các yếu tố khác ảnh hưởng đến
nhu cầu, dự đoán nhu cầu cho một số các nhóm hàng tiêu biểu.
+ Vấn đề về tiếp thị và khuyến thị
Việc xác định có nhu cầu của thị trường về sản phẩm của dự án mới chỉ
cho phép giải quyết một số vấn đề về tiêu thụ sản phẩm còn làm thế nào để
người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của mình thay vì sử dụng sản phẩm của
các dự án khác lại thuộc về khâu tiếp thị và khuyến thị. Tiếp thị và khuyến thị
có nghĩa là xác định bằng cách nào với chi phí bao nhiêu để có thể tiêu thụ
được sản phẩm của dự án.
Tiếp thị là đưa sản phẩm đến tận tay của người tiêu dùng một cách hiệu
quả nhất. Khi tiếp thị cần phải xem xét một số vấn đề: đối tượng khách hàng,
cách thức phân phối sản phẩm, các chi phí để đưa hàng đến tận tay người tiêu
SV: Lê Ngọc Tiến 18 Lớp: Tài chính công 47
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Dương
dùng. Mỗi một khách hàng có một cách tiếp cận và phân phối sản phẩm khác
nhau.
Khuyến thị là một bộ phận chủ chốt của tiếp thị. Mục tiêu của khuyến thị
dựng nhà máy, vấn đề về xử lý chất thải Do đó, tuỳ theo từng dự án cụ thể
mà có thể xem xét các kỹ thuật của dự án ở những góc độ khác nhau.
Khi đánh giá về phương diện kỹ thuật của dự án cán bộ thẩm định đi vào
các nội dung sau:
- Đánh giá đặc tính và chất lượng của sản phẩm: Để thực hiện được việc
đánh giá đặc tính của sản phẩm thì cần xem về mặt lý học, hoá học của sản
phẩm. So sánh với các sản phẩm tương tự trong nước và ngoài nước. Các hình
thức đóng gói bao bì, các công dụng và cách sử dụng sản phẩm. Các sản
phẩm: sản phẩm chính, sản phẩm phụ và chất thải Xét về mặt chất lượng
của sản phẩm thì cần có các phương pháp và phương tiện để kiểm tra sản
phẩm. Xác định các yêu cầu về chất lượng sản phẩm phải đạt, dự kiến bộ
phận kiểm tra chất lượng sau khi đã xác định phương pháp kiểm tra.
- Phương pháp và kỹ thuật sản xuất, công suất của máy móc thiết bị
Để tạo ra sản phẩm có nhiều phương pháp và kỹ thuật sản xuất khác
nhau. Mỗi một loại hình kỹ thuật sẽ cho ra sản phẩm và đặc tính chất lượng
và giá thành khác nhau. Vì vậy việc nghiên cứu để lựa chọn ra được phương
pháp và kỹ thuật sản xuất phù hợp với loại sản phẩm của dự án, phù hợp với
điều kiện máy móc thiết bị, phù hợp với khả năng tài chính của chủ đầu tư
cũng là một yếu tố quan trọng cho sự thành công của dự án.
Việc nghiên cứu kỹ thuật và phương pháp sản xuất cần đươc tiến hành
theo các khía cạnh sau: Bản chất của kỹ thuật sản xuất, yêu cầu về tay nghề
của người sử dụng, khả năng tiếp thu kỹ thuật, yêu cầu về nguyên vật liệu,
năng lượng sử dụng. Khả năng chuyển sang sản xuất mặt hàng khác trong
SV: Lê Ngọc Tiến 20 Lớp: Tài chính công 47
Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Dương
trường hợp mặt hàng cũ không còn nhu cầu hoặc chức năng không còn phù
hợp nữa. Nhà cung cấp, cách thức cung cấp và quyền sở hữu công nghiệp,
yêu cầu về vốn đầu tư và ngoại tệ.
Đối với các sản phẩm đơn giản thì có kỹ thuật sản xuất đơn giản và
ngược lại. Song đối với các sản phẩm phước tạp và đòi hỏi kỹ thuật cao thì
năng cung ứng thực tế trong và ngoài nước qua các hợp đồng hoặc các văn
bản cam kết của doanh nghiệp với các nhà cung cấp về số lượng quy cách,
chất lượng, giá cả, điêu kiện giao hàng, thanh toán
Đối với các dự án khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản, phải kiểm
tra tính đúng đắn của các tài liệu điều tra, thăm dò khảo sát, đánh giá phân
tích về trữ lượng, hàm lượng chất lượng tài nguyên, giấy phép khai thác
khoáng sản của cấp có thẩm quyền để đảm bảo dự án hoạt động lâu dài.
- Thẩm định về lựa chọn địa điểm xây dựng của dự án
Việc lựa chọn địa điểm đầu tư đúng cũng góp một phần vào sự thành
công của dự án. Chính vì vậy việc lựa chọn địa điểm đầu tư cần phải được cân
nhắc cẩn thận và đảm bảo các nguyên tắc: Địa điểm gần nơi cung cấp nguyên
vật liệu chủ yếu hoặc gần nơi tiêu thụ chính. Gần nơi có giao thông thuận tiện
(đường bộ, đường biển, đường sông ) có chi phí vận chuyển hợp lý để hạ giá
thành sản phẩm. Tận dụng cơ sở hạ tầng có sẵn: đường sá, bến cảng, điện
nước Mặt bằng cần đủ rộng không những phù hợp với quy mô hiện tại mà
còn dự phòng cho phát triển mở rộng trong tương lai, đặt yêu cầu về vệ sinh
công nghiệp, xử lý ô nhiễm môi trường, phòng cháy chữa cháy Địa điểm
xây dựng phù hợp với quy hoạch chung của vùng, phải tuân thủ đúng các văn
bản pháp luật về đất đai, xây dựng, giải phóng mặt bằng Tất cả các vấn đề
SV: Lê Ngọc Tiến 22 Lớp: Tài chính công 47