Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng chống bọ nẹt thosea obliquistriga hering (lepidoptera eucleidae) hại dong riềng ở hưng yên và hà nội - Pdf 95

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TRỊNH VĂN MỴ ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP
PHÒNG CHỐNG BỌ NẸT Thosea obliquistriga Hering (Lepidoptera:
Eucleidae) HẠI DONG RIỀNG Ở HƯNG YÊN VÀ HÀ NỘI LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số : 62.62.10.01

Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Văn Đĩnh
HÀ NỘI, 2012
i

ii
LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận án này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
GS.TS. Nguyễn Văn Đĩnh đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thày, cô giáo Bộ môn Côn trùng, Khoa
Nông học và Viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã
quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn GS.TS Hà Quang Hùng, TS. Nguyễn Như
Cường, TS. Stephen A.Marshal đã giúp đỡ tôi trong việc định tên các loài côn
trùng mới của luận án.
Tôi xin trân trọng cám ơn Lãnh đạo Viện Cây lương thực và Cây thực
phẩm và CBCC Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Cây có củ (Viện
CLT&CTP) đã tận tình và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo và bà con nông dân vùng sản xuất
dong riềng thuộc tỉnh Hưng Yên và Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên
cứu và triển khai thí nghiệm tại địa phương.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các bạn bè, đồng nghiệp người thân
trong gia đình đã tận tình động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện
luận án.
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2012
Tác giả luận án
Trịnh Văn Mỵ iv
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 30
2.2 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 30
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2.2 Vật liệu nghiên cứu 30
2.2.3 Dụng cụ nghiên cứu 31
2.3 Nội dung nghiên cứu 33
2.4 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu, nhện hại và thiên địch
trên dong riềng 33
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh học của
bọ nẹt Thosea obliquistriga Hering 34
2.4.3 Nghiên cứu sinh thái học cơ bản của bọ nẹt T. obliquistriga 39
2.4.4 Phương pháp xác định thiên địch trên dong riềng tại Hưng Yên,
Hà Nội 41
2.4.5 Phương pháp xác định sự ký sinh của loài ruồi giả ong
S. macer (RGO) trên các pha phát dục của bọ nẹt T. obliquistriga 42
2.4.6 Phương pháp đánh giá năng suất củ của dong riềng ở các mức
hại tại các giai đoạn sinh trưởng của dong riềng 43
2.4.7 Phương pháp điều tra tỷ lệ nhộng trên tàn dư dong riềng 44
2.4.8 Đánh giá tính nhiễm bọ nẹt T. obliquistriga của một số giống
dong riềng 45
2.4.9 Phương pháp thử hiệu lực một số loại thuốc hóa học trừ bọ nẹt 45
2.4.10 Mô hình quản lý tổng hợp bọ nẹt T. obliquistriga hại dong riềng 47
2.5 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 49
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
3.1 Thành phần sâu, nhện hại trên dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội 50

vi
3.4.5 Xây dựng mô hình quản lý tổng hợp bọ nẹt T. obliquistriga
trên dong riềng 128
3.5 Đề xuất quy trình quản lý tổng hợp bọ nẹt trên dong riềng 136
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 139
1 Kết luận 139
2 Đề nghị 141
Các công trình công bố liên quan đến luận án 142
Tài liệu tham khảo 142
Phụ lục 148

vii
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu, chữ viết tắt
Diễn giải
BN
Bọ nẹt
CSH
Chỉ số hại
cs
Cộng sự
DR
Dong riềng
Đ/C

3.1 Thành phần sâu, nhện hại dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nội
(2008 -2010) 50
3.2 Mức độ phổ biến của sâu và nhện hại trên dong riềng, tại Hưng
Yên và Hà Nội 53
3.3 Kích thước các pha phát dục của bọ nẹt T. obliquistriga ở nhiệt
độ 25
o
C và 30
o
C, ẩm độ 75%, tại Thanh Trì - Hà Nội, 2009 64
3.4 Kích thước sải cánh, khối lượng của trưởng thành và nhộng ở
nhiệt độ 25 và 30
o
C, tại Thanh Trì, Hà Nội (2009) 68
3.5a Sức ăn của bọ nẹt T. obliquistriga trên chuối tây, sắn tại nhiệt độ
25
0
C, ẩm độ 75% 74
3.5b Mức độ ăn lá của bọ nẹt T. obliquistriga trên một số cây trồng
trong vùng sản xuất và trồng xen với dong riềng 75
3.6 Sức ăn lá dong riềng của sâu non bọ nẹt T. obliquistriga ở nhiệt
độ 25
o
C và 30
o
C, ẩm độ 75% 76
3.7 Thời gian phát dục các pha của bọ nẹt T. obliquistriga qua 2 đợt
nuôi sâu ở điều kiện phòng bán tự nhiên 78
3.8 Thời gian phát dục (ngày) các pha của bọ nẹt T. obliquistriga ở
nhiệt độ 25

3.19 Năng suất dong riềng ở một số mức hại của bọ nẹt
T.obliquistriga, tại Thanh Trì, Hà Nội năm 2009 103
3.20 Năng suất dong riềng trong sản xuất ở một số mức hại của bọ nẹt
T.obliquistriga tại Hưng Yên và Hà Nội năm 2009 - 2010 104
3.21 Diễn biến mật độ bọ nẹt T. obliquistriga trên dong riềng trồng xen
với một số cây ngắn ngày tại Khoái Châu- Hưng Yên, năm 2009 107
3.22 Diễn biến mật độ bọ nẹt T. obliquistriga trên dong riềng trồng
xen với một số cây ngắn ngày tại Quốc Oai-Hà Nội, năm 2009 108
3.23 Diễn biến mật độ bọ nẹt T. obliquistriga trên dong riềng trồng
xen với một số cây màu ngắn ngày tại Khoái Châu- Hưng Yên,
năm 2010 109
x
3.24 Diễn biến mật độ bọ nẹt T. obliquistriga trên dong riềng trồng
xen với một số cây ngắn ngày tại Hà Nội, năm 2010 111
3.25 Mật độ nhộng bọ nẹt T. obliquistriga qua đông tồn tại trên thân lá và
gốc dong riềng sau thu hoạch tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2009 114
3.26 Mật độ bọ nẹt T. obliquistriga trên ruộng dong riềng được phủ
bằng tàn dư DR, tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2009 116
3.27 Mật độ bọ nẹt T. obliquistriga trên ruộng dong riềng được phủ bằng
tàn dư từ vụ trồng trước, tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2010 118
3.28 Mật độ bọ nẹt T. obliquistriga trên dong riềng được vệ sinh đồng
ruộng tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2009 121
3.29 Mật độ bọ nẹt T. obliquistriga trên dong riềng được vệ sinh đồng
ruộng tại Hưng Yên và Hà Nội, năm 2010 122
3.30 Mức độ nhiễm bọ nẹt T. obliquistriga trên một số giống dong riềng
tại Thanh Trì - Hà Nội, năm 2009 125
3.31 Hiệu lực một số thuốc trừ sâu với bọ nẹt T. obliquistriga trong

3.8 Trứng bọ nẹt T. obliquistriga 63
3.9 Đặc điểm gây hại sâu non bọ nẹt 63
3.10 Sâu non các tuổi bọ nẹt T.obliquistriga 66
3.11 Nhộng bọ nẹt dưới gốc dong riềng 67
3.12 Sâu non tuổi 6 chuẩn bị hóa nhộng (1) và nhộng T. obliquistriga (2) 68
3.13 Mạch cánh trước bọ nẹt T. obliquistriga 70
3.14 Cơ quan sinh dục cái bọ nẹt T.obliquistriga 71
3.15 Cơ quan sinh dục đực bọ nẹt T. obliquistriga 72
3.16 Trưởng thành đực (1) và trưởng thành cái (2) bọ nẹt T. obliquistriga 72
xii
3.17 Râu đầu trưởng thành đực (1), trưởng thành cái (2) bọ nẹt
T. obliquistriga 72
3.18 Kiểu đậu trưởng thành bọ nẹt bọ nẹt T. obliquistriga 73
3.19 Tư thế giao phối của bọ nẹt T. obliquistriga 73
3.20 Kiểm tra nuôi BN trong phòng tại nhiệt độ 25
o
C & 30
o
C 80
3.21 Diễn biến mật độ bọ nẹt T. obliquistriga hại dong riềng tại Hưng
Yên năm 2008, 2009 và 2010 90
3.22 Diễn biến mật độ bọ nẹt T. obliquistriga hại dong riềng tại Hà
Nội năm 2008, 2009 và 2010 91
3.23 Ruồi giả ong Systropus macer Loew 94
3.24 Thí nghiệm các mức hại lá 101
3.25 Diễn biến mật độ bọ nẹt T. obliquistriga trên dong riềng trồng
xen với một số cây màu ngắn ngày tại Khoái Châu- Hưng Yên năm

chủ yếu trên đất cằn cỗi, đất tận dụng, nhưng ngày nay ở một số địa phương
tại Hưng Yên, Hà Nội dong riềng đã được trồng thành vùng sản xuất dong
riềng trên diện tích lớn tập trung (150 - 300 ha/địa điểm) như Khoái Châu,
Văn Giang (Hưng Yên), Quốc Oai, Hoài Đức, Thanh Trì, Thường Tín, Ba Vì
(Hà Nội) hình thành vùng cung cấp nguyên liệu chế biến tinh bột, thay vì
trồng lúa hoặc các cây trồng khác hiệu quả thấp.
Trên thực tế dong riềng phát triển mạnh trong sản xuất, dong riềng
được trồng phổ biến và ở hầu hết các tỉnh từ phía bắc vào phía nam, nhưng
kinh phí đầu tư nghiên cứu và phát triển dong riềng rất ít, đến nay mới chỉ có
duy nhất một giống dong riềng DR1 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn công nhận và chuyển giao vào sản xuất (theo Quyết định số
608/QĐ-TT-CLT ngày 14/12/2010). Vì vậy việc nghiên cứu chọn tạo giống,
biện pháp kỹ thuật canh tác và phòng trừ sâu bệnh hại trên dong riềng ở nước
ta còn rất nhiều hạn chế.

2
Dong riềng trở thành cây trồng độc canh, phát triển nhanh trên diện tích
lớn. Sự mất cân đối trong quá trình tổ chức sản xuất dong riềng trên, điều đó
đã dẫn đến sự bùng phát số lượng cao của loài bọ nẹt Thosea obliquistriga
Hering thành loài dịch hại nguy hiểm trên dong riềng và đồng thời xuất hiện
một số sâu và nhện hại mới tấn công gây hại dong riềng. Sự gây hại của bọ
nẹt đã làm giảm năng suất, giảm hiệu quả đầu tư sản xuất dong riềng và bọ
nẹt không những gây hại làm giảm năng suất của dong riềng, mà đối với
người sản xuất bọ nẹt gây khó khăn trong quá trình chăm sóc, thu hoạch và
gây hại đến sức khỏe người sản xuất bởi lông độc của chúng làm cho người bị
ngứa ngáy rất khó chịu.
Hiện tại việc phòng trừ bọ nẹt tại các vùng sản xuất dong riềng tại

học của bọ nẹt Thosea obliquistriga Hering và loài ruồi giả ong Systropus
macer Loew ký sinh giai đoạn sâu non - nhộng bọ nẹt Thosea obliquistriga
Hering. Loài S. macer lần đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học,
sinh thái học và các biện pháp phòng chống bọ nẹt T.obliquistriga hại dong
riềng đã xây dựng được quy trình quản lý tổng hợp bọ nẹt, áp dụng tại vùng
nghiên cứu đạt hiệu quả cao.
3 Mục đích và yêu cầu đề tài
3.1 Mục đích
Điều tra xác định được thành phần sâu, nhện hại và thiên địch có trên
dong riềng (Canna edulis Ker). Xác định được đặc điểm sinh học, sinh thái học
cơ bản của loài bọ nẹt T. obliquistriga để trên cơ sở đó xây dựng được quy
trình quản lý tổng hợp bọ nẹt T. obliquistriga trên dong riềng tại Hưng Yên và
Hà Nội.
3.2 Yêu cầu của đề tài
- Xác định thành phần, mức độ phổ biến của sâu và nhện hại trên dong
riềng tại Hưng Yên và Hà Nội.
4
- Xác định được đặc điểm sinh học, sinh thái học cơ bản của bọ nẹt T.
obliquistriga hại dong riềng.
- Xác định được diễn biến mật độ của bọ nẹt T. obliquistriga trên dong
riềng qua các năm và mối quan hệ của chúng tại Hưng Yên và Hà Nội.
- Thử nghiệm các biện pháp phòng chống loài bọ nẹt T. obliquistriga
hại dong riềng để xây dựng quy trình quản lý tổng hợp chúng tại Hưng Yên
và Hà Nội.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu

đến dịch hại. Sự thay đổi giống mới, luân canh, xen canh các cây trồng, thay
đổi chế độ phân bón, mật độ gieo trồng, cơ chế tưới tiêu….tất cả đều gây ra
những biến đổi lớn về tình hình dịch hại trong hệ sinh thái nông nghiệp. Nếu
các biện pháp tác động lên hệ sinh thái nông nghiệp không được nghiên cứu
cẩn thận mà đưa vào áp dụng trên diện rộng có thể dẫn tới bùng phát số lượng
dịch hại một cách khốc liệt và dẫn đến các dịch hại thứ yếu xuất hiện triền
miên và có tính chất hủy diệt.
Hà Quang Hùng (1998) [12] đã chỉ ra rằng trong mối quan hệ giữa dịch
hại cây trồng và hoạt động mất cân đối trong sản xuất nông nghiệp của con
người, đó là sự mất cân đối khi sử dụng giống cây trồng trong sản xuất nông
nghiệp, sự mất cân đối khi áp dụng các biện pháp canh tác kỹ thuật và sự mất
cân đối trong quá trình tổ chức sản xuất sẽ tạo điều kiện cho dịch hại phát triển.
Trong những năm gần đây, tinh bột dong riềng trở thành hàng hóa quan
trọng cho thị trường sản xuất miến dong, việc đầu tư sản xuất dong riềng đạt
hiệu quả cao, dong riềng trở thành cây xóa đói giảm nghèo và cây làm giàu ở
nhiều địa phương (Trương Văn Hộ và cs, 1996) [10]. Nguyên nhân trên đã dẫn
đến việc mở rộng diện tích và dong riềng được trồng thành vùng nguyên liệu
cung cấp cho các cơ sở chế biến tinh bột. Diện tích dong riềng ngày càng phát
triển, diện tích trên 30.000 ha/năm, các tỉnh trồng nhiều như Hưng Yên, Hà
6
Nội, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đồng Nai (Nguyễn Thị
Ngọc Huệ, Đinh Thế Lộc, 2005) [11]
Tại Hà Nội (huyện Quốc Oai, Hoài Đức) và Hưng Yên (huyện Khoái
Châu), từ những năm 2000 trở lại đây, dong riềng là cây trồng độc canh, sản
xuất tập trung thành những vùng có diện tích lớn đến hàng chục ha trên một
địa điểm, sự mất cân đối trong quá trình trong quá trình tổ chức sản xuất trên
chính nguyên nhân đã tạo điều kiện cho loài bọ nẹt T. obliquistriga bùng phát

mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 (lượng mưa trung bình hàng năm 1.450 -
1.650 mm), nhiệt độ trung bình 23,2
o
C, số giờ nắng 1.519 giờ, độ ẩm tương
đối trung bình: 85 - 87%.
Diện tích trồng dong riềng tại Hưng Yên trên 1.000 ha được tập trung
tại huyện Khoái Châu, Kim Động, các bãi nổi trên sông Hồng, dong riềng
được trồng thành vùng sản xuất tập trung, giống dong riềng được sản xuất
gồm 2 giống là dong riềng thân đỏ lá bầu (gọi tắt là dong riềng đỏ) và dong
riềng xanh (thân và lá màu xanh), diện tích giống dong riềng đỏ chiếm trên
95%, số thân/khóm từ 6 - 7 thân, mỗi thân trung bình có 11-13 lá/thân, năng
suất củ trung bình đạt từ 45 - 55 tấn/ha, tỷ lệ tinh bột 20%, tổng giá trị thu
được 120,0 triệu đồng/ha (trong đó giá trị đầu tư sản xuất, chỉ tính giá trị
giống, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật là 37,0 triệu đồng/ha), tổng giá
trị thu được từ sản xuất lúa (2 vụ) là 80,0 triệu đồng/ha (trong đó chi phí sản
xuất là 35,0 - 40,0 triệu đồng/ha). Như vậy, hiệu quả kinh tế sản xuất dong
riềng tăng trên 50% so với sản xuất lúa.
Dong riềng sau thu hoạch chủ yếu được chế biến tinh bột tại Hưng Yên,
sản phẩm tinh bột là tinh bột ẩm, khoảng 10% lượng tinh bột được sản xuất
làm miến, lượng còn lại 90% được bán cho thị trường bên ngoài (Hà Nội, thị
trường phía nam).
Về biện pháp kỹ thuật canh tác dong riềng tại Hưng Yên:
+ Đất trồng dong riềng chủ yếu là đất bồi phù sa sông Hồng
+ Thời gian trồng và thu hoạch: thời vụ trồng cuối tháng 1 đến cuối
8
tháng 2 hàng năm, thời gian thu hoạch vào tháng 11 tháng 12
+ Mật độ 35 - 40 nghìn khóm/ha.

C, ẩm độ trung bình 79%
Hà Nội có diện tích dong riềng gần 1.000 ha được trồng tại 5 vùng có
diện tích dong riềng lớn là huyện Quốc Oai (dong riềng được trồng dọc theo
đất bãi sông Đáy) diện tích 210 ha, huyện Thanh Trì diện tích dong riềng 70 ha
9
và huyện Thường Tín (dong riềng được trồng dọc theo đất bãi sông Hồng)
diện tích dong riềng 230 ha (vùng giáp với Khoái Châu, Hưng Yên), huyện Ba
Vì diện tích dong riềng 300 ha, Huyện Hoài Đức 120 ha và dong riềng được
trồng thành vùng sản xuất tập trung, thời vụ trồng và thu hoạch cũng khá tập
trung trong thời gian ngắn. Giống dong riềng chủ yếu là giống dong riềng thân
đỏ lá bầu (gọi tắt là dong riềng đỏ), năng suất trung bình đạt 45 - 50 tấn/ha, tỷ
lệ tinh bột 20%, cây trồng xen với dong riềng là ngô, đậu tương, đậu xanh, lạc.
Về kỹ thuật canh tác, thời vụ trồng, thu hoạch dong riềng tại Hà Nội
tương tự tại Hưng Yên
Về bảo vệ thực vật trên dong riềng: Đối tượng phòng trừ chính là bọ
nẹt và bệnh khô lá dong riềng. nông dân sử dụng thuốc trừ sâu các loại rất
khác nhau, giai đoạn phun thuốc trên dong riềng tập trung tại giai đoạn dong
riềng 7 - 8 lá và 9 - 10 lá khi phát hiện thấy nhiều bọ nẹt trên đồng ruộng, có
địa điểm phun thuốc trừ bọ nẹt kép nếu trên đồng ruộng mật độ bọ nẹt cao
xuất hiện trở lại.
Chế biến tinh bột và sản xuất miến dong riềng tại Hà Nội tập trung chủ
yếu tại Dương Liễu, Cát Quế, Minh Khai huyện Hoài Đức, nơi cung cấp
nhiều sản phẩm miến, bún, phở khô dong riềng trong toàn quốc và xuất khẩu
(Nga, Trung Quốc, Lào)
Những khó khăn trong sản xuất dong riềng ở Hà Nội và Hưng Yên như
hao hụt nhiều trong bảo quản giống, năng suất dong riềng thấp (tiềm năng năng
suất dong riềng có thể đạt 60 - 100 tấn củ/ha), đối tượng sâu bệnh hại trên dong

biểu mô của lá và thải phân theo vết đường đục, kích thước sâu non 1,4 mm
dài, màu vàng nhạt, thân có phần trong, đầu màu vàng, sâu non tuổi lớn có tập
tính ăn tập thể ở mặt trên của lá dong riềng, khi sâu non 1 tuần tuổi chúng bắt
đầu cuộn lá và có thể tìm thấy 5 - 6 con /tổ, nhưng chỉ thấy 1 - 2 con chung
sống, sâu non đẫy sức đạt 23 mm dài và có màu trắng vàng, mình trong và có
màu xanh lá cây, đầu màu vàng, mảnh đầu giữa màu nâu vàng và đầu hàm
11
dưới màu nâu đen, khi ấu trùng kéo kén, kén màu óng ánh và hóa nhộng ngay
trong tổ và ở đó trong suốt thời gian nhộng, nhộng có kích thước dài 11,5
mm, màu vàng sậm như Chocolate và phía đuôi nhộng có 8 sợi lông có tác
dụng giúp nhộng bám vào lá cây. Thế hệ cuối cùng của sâu cuốn lá nhỏ qua
đông trong năm ở bên trong lá dong riềng đã chết. Ngài trưởng thành thường
bắt gặp vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 ở Florida. Thế hệ đầu tiên của sâu cuốn
lá nhỏ khoảng 35 ngày, trong thời gian mùa hè các thế hệ kế tiếp nhau phát
triển trên dong riềng (Baker, 2000) [21].
Sâu cuốn lá nhỏ và cuốn lá lớn gây hại trên tất cả các loại dong riềng sản
xuất và dong riềng cảnh. Phòng trừ bằng cách cắt tất cả các lá dong riềng đã
chết vùi xuống đất vào mùa Đông trong năm đó là cách tốt nhất để giảm quần
thể của sâu cuốn lá nhỏ, cắt lá chết của dong riềng vào mùa đông sẽ làm giảm
mật độ sâu hại vào mùa xuân (chính là diệt nhộng qua đông), vào mùa hè với
sự phát triển của sâu non thì kiểm soát bằng thuốc hóa học bằng cách phun
thuốc trên bề mặt lá, tuy nhiên cần thêm vào thuốc chất bám dính, vì mặt lá
dong riềng có chất sáp không thấm nước, có thể dùng thuốc sinh học Bacillus
thuringiensis (Bt), ít độc để phòng trừ đối tượng này (Khoshoo, 2005) [46].
1.3.1.2 Bọ cánh cứng châu Á (Asiatic garden beetle)
Bọ cánh cứng châu Á (Maladera castanea) là loài sâu hại khá quan
trọng, sâu non gây hại làm tổn hại ở bộ phận rễ, trưởng thành có tập tính bay

(Mass, 1988) [51].
Phòng trừ bọ cánh cứng Nhật Bản (Popillia japonica): Giai đoạn ấu
trùng sống ở dưới lớp cỏ và ăn rễ cỏ, ấu trùng dễ bị một loài vi khuẩn
Paenibacillus popilliae ký sinh. Cơ quan phát triển Mỹ (USDA) đã phát hiện
và phát triển phòng trừ sinh học loài sâu hại này bằng loài vi khuẩn nói trên, có
hiệu quả rất cao từ 1 - 5 năm (hiệu lực này phụ thuộc vào thời tiết) và nếu sử
dụng đúng cách hiệu lực kéo dài 15 - 20 năm, ngoài ra dùng thuốc bảo vệ thực
vật KAOLIN dùng để phun phòng trừ hoặc dùng bẫy Pheromone để hấp dẫn
trưởng thành sau đó bắt chúng, một số cây mang tính chất xua đuổi bọ cánh
cánh cứng Nhật bản như bạc hà, hành, tỏi và cây họ cúc (Klein, 1998) [48].

Trích đoạn Phương pháp xác định sự ký sinh của loài ruồi giả ong S.macer (RGO) trên các pha phát dục của bọ nẹt T obliquistriga Phương pháp đánh giá năng suất củ của dong riềng ở các mức hại tại các giai đoạn sinh trưởng của dong riềng Mơ hình quản lý tổng hợp bọ nẹt T.obliquistriga hại dong riềng Mức độ phổ biến sâu và nhện hại dong riềng tại Hưng Yên, Hà Nộ Đặc điểm gây hại và tác hại của sâu, nhện hại trên dong riềng tại Hưng Yên và Hà Nộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status