nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng chống loài sâu đo ngài xanhthalassodes falsaria (prout) hại vải tại lục ngạn, bắc giang năm 2014 - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN ĐỨC HẢI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC,
SINH THÁI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG LOÀI SÂU ĐO
NGÀI XANHThalassodes falsaria (Prout) HẠI VẢI TẠI LỤC NGẠN,
BẮC GIANG NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng,
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn
trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và
các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn
Trần Đức Hải

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii


Page iii

MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng Error! Bookmark not defined.vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 5
1.2.1. Tình hình sản xuất vải 5
1.2.2. Những nghiên cứu về thành phần sâu hại trên cây vải và
biện pháp phòng trừ sâu hại trên vải 6
1.2.3. Nghiên cứu về loài sâu đo ngài xanh Thalassodes falsaria
(Prout) 9
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước 10
1.3.1. Tình hình sản xuất vải 10
1.3.2. Nghiên cứu thành phần và biện pháp phòng trừ sâu hại trên
cây vải 12
1.3.3. Nghiên cứu về loài sâu đo ngài xanh T. falsaria (Prout)
17
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1. Đối tượng nghiên cứu 21
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu 21
2.2.2. Thời gian nghiên cứu 21
2.3. Vật liệu nghiên cứu 21

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1. Thành phần sâu đo hại vải tại Lục Ngạn, Bắc Giang 35
3.2. Diễn biến mật độ sâu đo ngài xanh T. falsaria tại Lục Ngạn,
Bắc Giang. 37
3.2.1. Diễn biến sâu đo ngài xanh trên các giống vải khác nhau
năm 2014 tại Lục Ngạn, Bắc Giang 37
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.2.2. Diễn biến mật độ sâu đo ngài xanh trên các nhóm tuổi cây
vải khác nhau tại Lục Ngạn, Bắc Giang năm 2014. 40
3.3. Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của sâu đo ngài
xanh T. falsaria 43
3.3.1. Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài sâu đo ngài xanh
T. falsaria 43
3.3.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu đo ngài
xanh T. falsaria 47
3.4. Nghiên cứu biện pháp phòng trừ loài sâu đo ngài xanh T. falsaria 58
3.4.1. Biện pháp canh tác 58
3.4.2. Biện pháp phun thuốc BVTV 61
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
Kết luận 65
Đề Nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 70 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1.1. Diện tích, sản lượng vải ở một số tỉnh của Việt Nam 12
3.1. Thành phần sâu đo hại vải tại Lục Ngạn, Bắc Giang năm 2014 35
3.2. Diễn biến mật độ sâu đo ngài xanh trên các giống vải khác nhau tại
Lục Ngạn, Bắc Giang năm 2014 37
3.3. Diễn biến mật độ trên 3 nhóm tuổi cây khác nhau của vải thiều tại
Lục Ngạn, Bắc Giang năm 2014 40
3.4. Kích thước các pha phát dục của loài sâu đo ngài xanh T. falsaria 43
3. 5. Thời gian phát dục pha sâu non sâu đo ngài xanh T. falsaria hại vải
ở các đợt nuôi khác nhau 49
3.6. Vòng đời sâu đo ngài xanh T. falsaria hại vải ở các đợt nuôi 50
3.7. Thời gian sống của trưởng thành sâu đo ngài xanh T. falsaria qua các
loại thức ăn khác nhau 51
3.8. Sức đẻ trứng của sâu đo ngài xanh T. falsaria hại vải 53
3.9. Nhịp điệu đẻ trứng của loài sâu đo ngài xanh T. falsaria hại vải 54
3.10. Tỷ lệ trứng nở của sâu đo ngài xanh hại vải T. falsaria qua các
đợt nuôi 55
3.11. Tỷ lệ chết của các tuổi sâu non sâu đo ngài xanh T. falsaria ở các
đợt nuôi khác nhau 56
3.12. Sức ăn các tuổi sâu non sâu đo ngài xanh T. falsaria hại vải 57
3.13. Ảnh hưởng của cắt tỉa lộc non đến mật độ sâu đo ngài xanh trên
vườn vải tại Lục Ngạn Bắc Giang năm 2014 59

3.11. Sâu non tuổi 4 46
3.13. Nhộng 47
3.14. Trưởng thành 47
3.15. Triệu chứng trên lá 47
3.16. Sâu đo ngài xanh giống cành cây 47
3.17. Triệu chứng trên hoa 47
3.18. Trưởng thành trên lá 47
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix

3.19. Nhộng trong lá 47
3.20. Sâu non trên cành 47
3.21. Nhịp điệu đẻ trứng của sâu đo ngài xanh T. falsaria 54
3.22. Tỷ lệ chết của các tuổi sâu non sâu đo ngài xanh T. falsaria
ở các đợt nuôi khác nhau 56
3.23. Sức ăn của sâu non sâu đo ngài xanh T. falsaria 58
3.24. Diễn biến mật độ sâu đo ngài xanh trên vườn thí nghiệm và
vườn đối chứng 60
3.25. Hiệu lực của các loại thuốc đối với sâu đo ngài xanh trong
phòng thí nghiệm 62
3.26. Hiệu lực của các loại thuốc trừ sâu đo ngài xanh ngoài đồng ruộng 63



chủ lực, chiếm diện tích lớn nhất trong cơ cấu cây ăn quả hiện nay của tỉnh.
Đến năm 2013, tổng diện tích vải ở Bắc Gıang đạt trên 31.000 ha, có

sản lượng trên 130.000 tấn quả tươi, trong đó chỉ riêng huyện Lục Ngạn có
sản lượng cao nhất 71.000 tấn (Nguyễn Việt Hà và Nguyễn Văn Liêm, 2014).
Diện tích trồng vải tăng nhanh cùng với việc đầu tư thâm canh bị

hạn chế đồng nghĩa với việc mật độ và chủng quần sâu hại gia tăng . Hiện nay
trên cây vải có nhiều đối tượng sâu bệnh gây hại như: bọ xít nhãn vải
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

(Tessaratoma papillosa Drury), nhện lông nhung (Eriophyes litchi Keifer),
sâu đo ngài xanh (Thalassodes falsaria), sâu đục cuống quả vải
(Conopomorpha sinensis Bradley), rệp muội (Toxoptera aurantii Boyer de
Fonsoolombe), rệp sáp (Ceroplaster ruben Maskell), trong đó sâu đo ngài
xanh cũng là đối tượng đáng quan tâm. Đây là đối tượng gây hại trên chồi, lá
non, nụ, hoa và quả non làm ảnh hưởng tới mật độ quả, năng suất thực thu và
cả năng suất vụ sau do làm giảm lộc thu.
Để tìm hiểu và đánh giá mức độ gây hại của loài sâu đo ngài xanh
Thalassodes falsaria góp phần giúp cán bộ bảo vệ thực vật chủ động trong
công tác điều tra phát hiện, dự tính dự báo, chỉ đạo phòng trừ và giúp nông
dân các vùng trồng vải có biện pháp phòng trừ hiệu quả. Được sự hướng dẫn
của PGS.TS. Đặng Thị Dung và TS. Phạm Văn Nhạ, chúng tôi tiến hành đề
tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng
chống loài sâu đo ngài xanh Thalassodes falsaria (Prout) hại vải tại
Lục Ngạn, Bắc Giang năm 2014”.

Những kết quả điều tra về triệu chứng gây hại, sự xuất hiện và diễn biến
mật độ của loài sâu đo ngài xanh T. falsaria trên cây vải, sẽ giúp các hộ trồng
vải nhận biết được loài sâu đo ngài xanh T. falsaria cũng như mức độ gây hại
của chúng trên cây vải trên các giống vải khác nhau, độ tuổi khác nhau, để họ
đưa ra biện pháp phòng chống chúng đạt hiệu quả kinh tế, góp phần bảo vệ
sản xuất.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Cây vải (Litchi sinensis Sonn) là một trong những cây ăn quả nhiệt đới có
giá trị kinh tế ở Việt Nam. Quả vải có chứa nhiều chất dinh dưỡng cao như
đường dễ tiêu, vitamin B, C, phốt pho, sắt, canxi Về chất lượng, vải là cây
ăn quả được đánh giá cao với hương vị thơm ngon, giàu chất bổ được nhiều
người trong và ngoài nước ưa chuộng. Quả vải ngoài ăn tươi còn được chế biến
như sấy khô, làm rượu vang, đồ hộp, nước giải khát


Bồ hòn

Sapindaceae (Mitra, 2002). Theo Trần Thế Tục (2008) Trung Quốc
đã trồng vải cách đây hơn 2000 năm. Cây vải có mặt ở Mianma, Ấn Độ cuối thế
kỷ 17, các nước đông Ấn độ và Ôxtrâylia, Nam Phi, Hawai vào cuối thế kỷ 19.
Trên thế giới hiện nay có trên 20 nước trồng vải, sản xuất vải mang tính

thương mại bao gồm các nước: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Ôxtrâylia trong
đó Trung Quốc là nước đứng đầu về diện tích và sản lượng vải.
Trên thế giới, diện tích trồng vải năm 1990 là 183.700 ha, sản lượng
251.000 tấn. Năm 2000 là 780.000 ha với tổng sản lượng đạt tới 1,95 triệu
tấn. Trong đó các nước Đông Nam Á chiếm khoảng 600.000 ha và sản lượng
1,75 triệu tấn (chiếm 78% diện tích và 90% sản lượng vải của thế giới).
Trung Quốc được coi là quê hương của vải và cũng là nước đứng đầu về
diện tích và sản lượng. Năm 2001, diện tích trồng vải ở Trung Quốc là
584.000 ha và sản lượng là 958.700 tấn (Mitra, 2002).
Một số nghiên cứu ở Trung Quốc cho biết vải đươc trồng rộng rãi trên
khắp miền nam nước này, giữa vĩ độ 31 và 18
o
N và kinh độ 101 và 120
o
E . Ở
phía nam Trung Quốc vải đã trở thành một ngành công nghiệp lớn kể từ năm
1980. Năm 1999, sản lượng vải thiều là khoảng 950.000 tấn trong tổng 530.000
ha trồng vải ở Trung Quốc. Tỉnh Quảng Đông là khu vực sản xuất vải quan trọng
nhất ở Trung Quốc (Mitra, 2002).
Tại Ấn Độ vải thiều được trồng chủ yếu ở các bang Bihar, Tây Bengal và
Uttar Pradesh. Sản xuất hiện nay của vải thiều là khoảng 429.000 tấn so với
diện tích khoảng 56.200 ha trồng vải. Vải được trồng chủ yếu ở phía bắc của

Vải được coi là một trong những cây ăn quả quan trọng ở Asam, Ấn Độ.

Tuy nhiên cây vải ở đây cũng bị gây hại đáng kể từ các loài côn trùng ở các
giai đoạn phát triển khác nhau của cây vải. Theo ghi nhận của Kumar et al.
(2011), Mazumde et al. (2014), thì các loài côn trùng và nhện chính gây hại
trên vải ở Ấn Độ là Acerya litchi Keifer, sâu đục quả Conopomorpha
cramerella, Platypeplus aprobola Meyer, Dichocrosis sp., Platypepla
aprobola Meyer), Tessarotoma javanica Thunb, Indarbela quadrinotata, I.
tetraonis và Chlumetia transversa …
Thành phần sâu hại và nhện hại nhãn và vải ở Thái Lan khá phong phú
gồm là 71 loài bao gồm 2 loài nhện và 69 loài côn trùng thuộc 5 bộ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

khác nhau, trong đó có các loài gây hại như: Aceria litchii Keifer, Bactrocera
dorsalis Hendel, Conopomorpha litchiella, Tessaratoma papillosa Drury,
Thalassodes falsaria Prout, Thalassodes quadraria Guenée (DAFF, 2004)
Theo MAF Biosecurity New Zealand (2007) thành phần sâu bệnh gây
hại trên vải ở Đài Loan rất phong phú bao gồm 116 loài và có 20 loài gây hại
cần phải đánh giá nguy cơ gây hại trên quả vải ở New Zealand, trong đó có
các loài côn trùng như: Bactrocera cucurbitae, B. dorsalis, Ceroplastes
pseudoceriferus & C. rubens, Ischnaspis longirostris, Ferrisia virgata …
Ở Florida, Hoa Kỳ có 12 loài gây hại trên vải là trong đó nhóm rệp
sáp là nhiều nhất:

Andaspis punicae, Thysanofiorinia nephelii, Morganella
longispina, Coccus acutissimus, Coccus longulus, Saissetia coffeae,
Ceroplastes cirripediformis, Philephedra tuberculosa, Diaprepes

pyriproxyfen, và methoprene (phòng trừ kiến); Thuốc trừ sâu sinh học

bao gồm sử dụng chế phẩm chứa vi khuẩn Bacillus thuringiensis và
Beauveria bassiana. Có thể kết hợp giữa biện pháp canh tác và sử dụng
thuốc trừ sâu hợp lý trong phòng trừ sâu hại vải. Biện pháp sinh học là

sử dụng thiên địch để kiểm soát sâu bọ cánh phấn và sử dụng thuốc trừ sâu
như Bt trong phòng chống sâu hại trên cây vải (Mark, 2002).
Ở Trung Quốc, Li et al. (2013) chỉ ra rằng các nghiên cứu và kinh
nghiệm rút ra từ nhiều năm thử nghiệm của các nhà nghiên cứu để thúc đẩy
kiểm soát sinh học và giảm sử dụng thuốc trừ sâu trong sản xuất thực phẩm
sạch và an toàn hơn đối với môi trường. Do đó loài Anastatus japonicus ký
sinh trên trứng Tessaratoma papillosa đã được nghiên cứu và đưa vào ứng
dụng trong phòng trừ loài này trên cây vải từ cuối năm 1996. Sau đó là sự ra
đời của kỹ thuật nhân nuôi hàng loạt A. japonicus đã cho hiệu quả trong việc
kiểm soát loài T. papillosa.

Quả vải và nhãn là những sản phẩm nông nghiệp đặc biệt của Đài Loan.
Cho đến nay, biện pháp hóa học thường xuyên được áp dụng để kiểm soát các
loài sâu hại trên cây vải và nhãn ở đây. Ngoài ra, có sự kết hợp giữa các
biện pháp như: vệ sinh đồng ruộng, bảo quản với túi giấy, cắt tỉa và đốt các cành
bị nhiễm nghiêm trọng và lá, loại bỏ các loại trái cây hỏng và áp dụng pheremon
sinh dục để quản lý các loài gây hại cây ăn quả (Hwang, 1988).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

Ở Ấn Độ, đã thử nghiệm các loại thuốc hóa học Phorate 10G,
carbofuran 3G, monocrotophos, endosulfan (0,1%), carbaryl (0,2%), BHC

Theo nghiên cứu của Mae Rim - Samoeng (2010) thì Thalassodes
falsaria (Prout, 1912) là có nguồn gốc ở Ấn Độ. Trưởng thành sải cánh dài
30 - 34 mm, có màu xanh lá cây với những mảng màu trắng và được phủ bởi
màu vàng cam. Sâu non loài này gây hại của nhãn và vải. Loài Thalassodes
falsaria là một loại sâu hại thường xuyên, tuy nhiên vào mùa nhãn nó gây hại
phổ biến hơn ở Thái Lan. Loài này sẽ gây hại nặng hơn nếu nông dân không
có biện pháp phòng trừ.
Loài T. falsaria có gây hại rất phổ biến trên xoài và điều, trước đây loài
này gây hại không đáng kể. Tuy nhiên, trong những năm gần đây nó là loài
gây hại thường xuyên làm thiệt hại đáng kể cho những tán lá cây giống và
vườn ươm. Sự phá hoại cũng là nghiêm trọng trong vườn ươm cây gỗ.

Thí nghiệm của Barkade et al. (2010) về hiệu quả phòng trừ sâu non của loài
này bằng các loại thuốc hóa học kết quả cho thấy các loại thuốc thử nghiệm
đều có hiệu quả đối với loài này trong đó có các loại thuốc có hiệu quả khá
cao như: Emamectin benzoate 5 SG, Lamda cyahalothrin 5 EC, Carbaryl 50
WP, Quinalphos 25 EC
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1. Tình hình sản xuất vải
Việt Nam là một trong những nơi đã thuần hóa và trồng vải sớm nhất
và có điều kiện tự nhiên thích hợp để phát triển cây vải Vùng phân bố
tự nhiên của vải ở nước ta ta từ 18 - 19 vĩ độ Bắc trở ra. Ở Miền Nam, khí hậu
nhiệt đới mùa đông có nhiệt độ khá cao, vải không phân hóa mầm hoa được
nên không có quả. Các tỉnh ở nước ta trồng nhiều giống vải khác nhau nhưng
chủ yếu là giống vải thiều (Trần Thế Tục, 2008; Đường Hồng Dật, 2003).
Vùng trồng vải chủ yếu của Việt Nam là vùng đồng bằng sông Hồng,
trung du Bắc Bộ và một phần khu IV cũ. Những nơi trồng nhiều như tỉnh
Hải Dương (huyện trồng nhiều nhất là Thanh Hà), Bắc Giang (Lục Ngạn),

Phú Thọ (Thanh Hào), nông trường Đông Triều (Quảng Ninh), Vườn

và 16.62% sản lượng các loại quả trong cả nước). Giống vải được trồng
phổ biến là giống vải thiều Thanh Hà (chiếm 95% diện tích), ngoài ra còn có
một số giống vải khác như: Vải Phú Hộ, Vải U Hồng, U Trứng, Vải Yên
Hưng, Vải Bình Khê… Diện tích trồng vải tập trung ở các tỉnh miền núi phía
Bắc, những tỉnh trồng nhiều như: Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh,

Lạng Sơn, Thái Nguyên, Phú Thọ. Diện tích và sản lượng vải ở một số tỉnh
nước ta được thể hiện trong Bảng 1.1.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

Bảng 1.1. Diện tích, sản lượng vải ở một số tỉnh của Việt Nam
STT

Địa phương
(Tỉnh)
Tổng diện
tích (ha)
Diện tích cho sản
phẩm (ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng

(tấn)
1 Bắc Giang 34.923 30.746 51,6 158.774
2 Hải Dương 14.219 12.634 37,7 47.632
3 Lạng Sơn 7.473 5.501 23,1 12.684

bộ cánh đều Homoptera 15 loài chiếm 29,4%, bộ cánh cứng Coleoptera 8 loài
chiếm 15,7%, bộ cánh nửa Hemiptera 3 loài chiếm 5,8%, lớp nhện 5 loài
chiếm 5% trong đó có các loài gây hại chính là Bọ xít nhãn vải, rệp muội,
nhện lông nhung, sâu đục quả, sâu đục thân (Đào Đăng Tựu và cs, 1999).
Theo nghiên cứu của Viện bảo vệ thực vật (1999) về kết quả thực hiện
dự án điều tra cơ bản sâu hại và thiên địch của chúng trên cây ăn quả ở

Việt Nam năm 1997-1999 thì thành phần sâu hại trên nhãn vải có 38 loài.
Trần Huy Thọ và cs (1996) cho biết kết quả điều tra năm 1995 tại

Hà Nội, Hải Hưng, Nam Hà, Yên Bái đã phát hiện 19 loài côn trùng và 4 loài
nhện hại trên nhãn vải, trong đó có các loài gây hại phổ biến như: bọ xít vải,
rệp sáp, ve sầu bướm, nhện vải, ruồi đục quả
Nhóm sâu sâu ăn bông mới bộc phát và gây hại quan trọng trong một
vài năm gần đây khi diện tích trồng nhãn, vải gia tăng. Sâu có thể ăn trụi hết
bông đặc biệt vào giai đoạn bông rộ, đó là giai đoạn các nhà làm vườn ít

sử dụng thuốc trừ sâu vì sợ ảnh hưởng đến sự đậu trái. Điều tra của

Nguyễn Thị Thu Cúc (2002) tại đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận: nhóm
sâu ăn bông hiện diện đều khắp các địa bàn tại Tiền Giang, Đồng Tháp và
Vĩnh Long. Thành phần nhóm sâu này rất phong phú bao gồm 8 loài là:
Thalassodes falsaria, Comibaena sp., Autoba abrupta, Autoba versicolor,
Hemitheo tritonaria, comostota laesaria, Archips sp., Archips micaceana.
Trong đó theo tác giả gây hại quan trọng nhất là loài Thalassodes falsaria.
Hai loài Comibaena sp. và Archips micaceana cũng hiện diện rải rác nhưng
không đáng kể.
Kết quả điều tra bước đầu về thành phần sâu bệnh hại vải ở Lục Ngạn
(Bắc Giang) và Chương Mỹ (Hà Tây) của Nguyễn Xuân Hồng (1999)


Theo Lương Đức Tịnh (2012) đã xác định được 35 loài côn trùng gây
hại trên vải, thuộc 20 họ, 5 bộ trong đó côn trùng thuộc Bộ cánh vảy
(Lepidoptera) có số lượng loài nhiều nhất tới 15 loài thuộc 10 họ. Ngoài ra
thu được 9 loại bệnh hại. Những loài sâu hại nguy hiểm đó là: Sâu đo, sâu đục
cuống quả vải (Conopomorpha sinensis Bradley), bọ xít nhãn, vải
(Tessaratoma papillosa Drury).
Điều tra thành phần sâu bệnh hại vải tại Thanh Hà, đã phát hiện được
10 loài dịch hại, trong đó có 5 loài sâu hại và 3 loài bệnh hại xuất hiện
thường xuyên; đối tượng sâu hại quan trọng, có 2 loại: sâu đo ngài xanh
Thalassodes falsaria và sâu đục cuống quả Comopospha siensis Bradley.

Trích đoạn Điều tra diễn biến mật độ của loài sâu đo ngài xanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status