Bản tin “Dự báo thời tiết” trên sóng truyền hình
các đài địa phương Trung bộ (Khảo sát 3 đài
PTTH Quảng Trị, Bình Định và Bình Thuận
trong 6 tháng cuối năm 2010)
Ngô Thị Phú Hoà
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Báo chí
Chuyên ngành: Báo chí học ; Mã số: 60. 32. 01
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái
Năm bảo vệ: 2011
Abstract. Khía quát về Trung Bộ trong toàn cảnh địa lý, khí hậu Việt Nam. Nghiên cứu
Thực trạng truyền thông về dự báo thời tiết trên Đài PTTH Quảng Trị, Bình Định, Bình
Thuận đối với công chúng. Kinh nghiệm, giải pháp và mô hình nâng cao chất lượng bản
tin dự báo thời tiết của 3 đài
Keywords. Báo chí học; Phương tiện truyền thông; Bản tin; Truyền hình
Content.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính thời sự và lý do chọn đề tài
Nằm trong 6 vùng văn hóa của Việt Nam ( theo phân vùng văn hoá được coi là hợp lý và khách
quan hơn cả của GS Trần Quốc Vượng, trong giáo trình “Cơ sở văn hoá Việt Nam Việt Nam”), Trung Bộ
được biết đến là một dải đất hẹp “ khúc ruột miền Trung” từ Quảng Bình tới Bình Thuận. Địa hình hẹp
theo chiều ngang Đông Tây, bị chia cắt theo chiều dọc Bắc Nam bởi các đèo. Dưới chân đèo là các sông
lớn, nhỏ. Sông, suối nhiều nhưng chiều dài các sông đa số ngắn và có độ dốc lớn. Lưu vực các sông
thường là đồi núi nên nước mưa đổ xuống rất nhanh. Các cửa sông lại hay bị bồi lấp làm cản trở việc
thoát lũ cho vùng đồng bằng, đó cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những đợt lũ kinh hoàng
Trung Bộ) và Đài PTTH Bình Thuận ( nằm ở khu vực Nam Trung Bộ). Ba đài này, do nằm ở 3 vùng
khác nhau của Trung Bộ, qua khảo sát sẽ cho cái nhìn toàn cảnh về các bản tin dự báo thời tiết của khu
vực Trung Bộ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đây là vấn đề đã được đặt ra, mổ xẻ, thảo luận, rút ra bài học từ nhiều hội thảo. Ngoài ra, nhiều tờ
báo in lẫn điện tử đều dành sự đặc biệt quan tâm đến vai trò của truyền thông trong biến đổi khí hậu. Tuy
nhiên, những hội nghị, hội thảo và những bài báo cũng chỉ khai thác ở một góc độ nào đó liên quan đến
việc biến đổi khí hậu hoặc vai trò của truyền thông, trong khi đó chưa đề cập nhiều đến các bản tin dự
báo thời tiết ở báo hình đặc biệt là ở miền Trung. Đến thời điểm này chưa có một nghiên cứu khoa học
chính thức và sâu sắc về vấn đề này. Trong khi đề tài đòi hỏi phải nhìn ở cả 3 góc độ: văn hóa, báo chí và
Pru. Do vậy, đây cũng là một trong những hạn chế trong việc khảo sát tư liệu của tác giả trong quá trình
thực hiện đề tài .
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phác thảo được thực trạng về công tác dự báo thời tiết trên sóng truyền hình của các đài địa
phương khu vực Trung Bộ thông qua 3 đài: Quảng Trị, Bình Định và Bình Thuận thể hiện qua các bản tin
dự báo hàng ngày cũng như những bản tin dự báo thiên tai mang tính cấp bách.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đánh giá tương đối toàn diện về ưu điểm và hạn chế của các bản tin dự báo thời tiết với ngôn
ngữ đặc thù trên các đài truyền hình tiêu biểu của Miền Trung, đồng thời đề ra giải pháp truyền thông để
có thể nâng cao chất lượng của bản tin theo hướng gần gũi, sát thực và dễ hiểu hơn đối với người dân ,
đây là cơ sở thông tin quan trọng để người dân miền Trung – vùng đất luôn đối mặt với những khắc
nghiệt với thời tiết, để tìm ra cách ứng xử văn hoá tốt nhất với thời tiết cũng như phòng chống thiên tai 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1:
TRUNG BỘ TRONG TOÀN CẢNH ĐỊA LÝ, KHÍ HẬU VIỆT NAM
1.1. Toàn cảnh địa lý, khí hậu Việt Nam
1.1.1. Xứ nóng, ẩm, mưa nhiều
Việt Nam nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía
xích đạo. Vị trí đó đã tạo cho Việt Nam có đặc trưng là một nước nhiệt đới gió mùa ẩm. Vì vậy, khí hậu
nước ta mang đặc trưng là: nóng, ẩm và mưa nhiều. Quanh năm có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn, hàng năm
có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình trong năm khoảng trên 2.000mm.
1.1.2. Xứ sông nước
Với đặc trưng là nước mưa nhiều, điều này dẫn đến đặc điểm thứ hai của Việt Nam là vùng sông
nước.
Mang đặc điểm tự nhiên này, nên sông nước đã để lại dấu ấn quan trọng trong tinh thần văn hóa
người Việt Nam: Văn hóa nông nghiệp lúa nước
1.1.3. Giao điểm của các nền văn hóa, văn minh
Do vị trí địa lí nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình
Dương, Đông Nam Á nói chung và Việt Nam từ lâu vẫn được coi là cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản
với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải
1.2.Ba hằng số của Văn hóa Việt Nam
1.2.1. Nông dân
Chính bởi các thông số đó của môi trường tự nhiên, dân tộc Việt đã thành một dân tộc nông dân,
với nghề trồng lúa nước, chăn nuôi và đánh bắt thủy sản. Cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc vào thiên
nhiên. Do vậy, người nông dân phải dựa vào nhau để chống chọi lại với thiên tai
1.2.2. Nông nghiệp
Chính điều kiện tự nhiên của vùng gió mùa Châu Á làm cho việc trồng lúa nước là sự lựa chọn
tốt nhất, và thế là hình thành nền nông nghiệp lúa nước cùng với nó là “ văn minh lúa nước” như nhiều
nhà nghiên cứu đã nói đến. Ngoài ra, với đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo, điều kiện tự
nhiên trên đã tạo điều kiện cho nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản phát triển từ rất sớm
1.2.3.Nông thôn
dân miền Trung. Mang đặc thù là loại hình dành cho công chúng nghe nhìn cộng với ưu thế ngôn ngữ
hình ảnh-âm thanh của báo hình, ngoài âm thanh, hình ảnh, các chương trình dự báo thời tiết trên truyền
hình còn có ưu điểm là đưa lên màn ảnh cả ngôn ngữ phi văn tự là biểu đổ, đồ thị, bảng biểu và cả ngôn
ngữ hình thể của MC bản tin dự báo thời tiết. Với những ưu thế chỉ có ở báo hình, loại hình báo này đã
tạo điều kiện cho bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình trở thành lựa chọn số một cho bất cứ công
chúng nào quan tâm đến thời tiết
Tiểu kết chương 1
Với dải đất hẹp chạy dài ven biển, vùng đất duyên hải miền Trung là nơi có khí hậu khắc nghiệt
nhất. Người miền Trung đã quen với cảnh “ Trời hành cơn lụt mỗi năm” và mỗi năm gồng mình đón vài
cơn bão hay những trận gió Lào bỏng rát. Đặc biệt khi mà thời tiết diễn biến ngày càng phức tạp, biến đổi
khí hậu đã làm thiên tai biến đổi bất thường và khó lường hơn. Để định cư tại đây, buộc cư dân miền
Trung phải theo dõi các bản tin dự báo thời tiết, lấy đó làm nền tảng để ứng xử với thiên nhiên.
Nhận thức được điều này, các cơ quan truyền thông ở cả 4 loại hình báo chí đã và đang nỗ lực để
hoàn thành vai trò của mình. Vượt lên trên các loại hình báo chí khác, báo hình đã trở thành kênh cung
cấp thông tin thời tiết quan trọng cho người dân miền Trung mà điểm nhấn là các bản tin dự báo thời tiết.
Đặc thù của vùng đất “núi cách núi”, địa hình này làm cho sự lan tỏa thông tin hẹp hơn, thường
bó khung trong vị trí 1 tỉnh. Điều này là khó khăn đối với các đài kỹ thuật số hay truyền hình cáp nhưng
lại là thuận lợi cho các đài địa phương khi tránh được sự “ cạnh tranh gay gắt” về mặt thông tin của hàng
chục kênh truyền hình cáp và kỹ thuật số. Bản thân các đài địa phương khu vực Trung Bộ đã nhận thấy
vai trò cực kỳ quan trọng của bản tin dự báo thời tiết đối với công chúng và thậm chí là đối với bản thân
các đài. Điều này được thể hiện rõ qua việc xếp bản tin vào những khung giờ vàng, ngay sau bản tin thời
sự ở các Đài địa phương
CHƢƠNG 2:
THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỀ DỰ BÁO THỜI TIẾT TRÊN ĐÀI PTTH QUẢNG
TRỊ, BÌNH ĐỊNH, BÌNH THUẬN ĐỐI VỚI CÔNG CHÚNG
2.1. Những tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam và miền Trung
2.1.1 Tác động của Biến đổi khí hậu tại việt Nam
Theo Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) thì Việt Nam nằm trong 5 nước hàng
đầu trong số các nước trên thế giới dễ bị tổn thương nhất đối với biến đổi khí hậu.
phó với thiên tai. Đáng chú ý là khác với 3 loại hình báo chí là báo in, phát thanh thì truyền hình lại có ưu
thế nổi trội hơn trong việc dự báo thời tiết đối với công chúng miền Trung.
Loại hình công chúng lựa chọn theo dõi
bản tin dự báo thời tiết
Tỷ lệ:
Báo in
2,66%
Sóng phát thanh
4%
Truyền hình
85,67%
Báo mạng Internet
7,67%
Bảng 2.2: Tỷ lệ công chúng 3 tỉnh Quảng Trị, Bình Định và Bình Thuận theo dõi bản tin DBTT
trên các loại hình truyền thông 2.2 Khảo sát Bản tin dự báo thời tiết của 3 đài:
Quảng Trị, Bình Định và Bình Thuận
- Đội ngũ
Khác với một số đài khác, các đài PTTH Trung Bộ không thành lập các Ban hoặc Tổ chuyên sản
xuất các bản tin dự báo thời tiết phục vụ phát sóng mà thay vào đó là làm kiêm nhiệm. Thông thường các đài đều sử dụng biên tập viên hoặc phát thanh viên có nhiệm vụ lên hình bản tin thời sự hôm đó nhận
thông tin bằng Fax hoặc mail của Trung tâm khí tượng thủy văn để thực hiện.
Ngoài ra, do chỉ làm kiêm nhiệm nên các biên tập viên hoặc phát thanh viên không có sự đầu tư cho
bản tin, chỉ đơn thuần là đọc lại văn bản của Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh.
- Cơ sở vật chất, công nghệ kỹ thuật:
Khảo sát ở 3 đài PTTH Quảng Trị, Bình Định và Bình Thuận thì thấy hầu như công nghệ kỹ
thuật và cơ sở vật chất dành cho việc thực hiện bản tin dự báo thời tiết chỉ là số 0.
+ Trước hết, các đài đều không có Studio dành riêng cho việc thực hiện Bản tin dự báo thời tiết.
+ Thứ hai, các đài cũng không hề trang bị một phần mềm nào hỗ trợ việc thực hiện bản tin. Cách
mây”, “nhiều mây”, “đầy mây”, “không có mây” và “trời nắng”, “15,0 độ Vĩ Bắc; 117,1 độ Kinh Đông”
với công chúng miền Trung, đặc biệt với những người nông dân, ngư dân thì khó mà phân biệt và hiểu
nổi những thuật ngữ chuyên ngành này. Việc lặp đi lặp lại những thuật ngữ ấy không gây được sự chú ý
vì người tiếp nhận sẽ có cảm giác xa lạ với thông tin. TT KTTV tỉnh
Đài PTTH tỉnh
P. Thời sự TH (Hoặc
phòng chương trình)
P. Kỹ thuật truyền
hình
BTV hoặc PTV tiếp
nhận văn bản chỉnh
sửa và đọc
KTV xử lý đồ họa
(kèm nhạc)
Bản tin DBTT
Fax văn bản 2.3.2. Ngôn ngữ truyền hình của bản tin dự báo thời tiết 3 đài
Theo tác giả Vũ Quang Hào thì có 5 loại ngôn ngữ phong cách báo chí: Phong cách khẩu ngữ,
Phong cách văn chương, Phong cách chính luận,, Phong cách khoa học và Phong cách hành chính
Theo cách phân loại này thì các bản tin dự báo thời tiết do Trung tâm khí tượng thủy văn cung
cấp mang phong cách khoa học. Điều này cũng có nghĩa là ngoài các phương tiện ngữ âm, từ ngữ, ngữ
pháp, phương pháp diễn đạt rất là quan trọng. Việc khai thác tối đa lượng thông tin từ kênh thông tin phi
văn tự như sơ đồ, đồ thị, bảng biểu là cực kỳ quan trọng. Điều này cũng cho thấy các bản tin dự báo thời
Khảo sát ở 300 mẫu tại 3 tỉnh Quảng Trị, Bình Định và Bình Thuận cho kết quả như sau:
Bản tin
Tỷ lệ % công chúng nhận xét về nội dung
Không
hiểu
Hiểu một ít,
có nhiều thuật
ngữ vẫn không
hiểu
Dễ hiểu
DBTT hàng ngày
1%
74,3%
24,7% DBTT thiên tai
29%
70%
1%
Bảng 2.4: Tỷ lệ công chúng đánh giá về nội dung bản tin DBTT
-+
Bảng 2.4: Tỷ lệ công chúng
đánh giá về hình thức bản tin
DBTT
Những con số trên đã
phần nào chứng tỏ các bản tin
DBTT của các đài PTTH
Quảng Trị, Bình Định và Bình
Thuận đã không mang lại hiệu quả như công chúng mong đợi.
báo hình
- Vai trò MC thời tiết không nổi bật, các đài chỉ duy trì vai trò của PTV trong việc đọc các bản tin
mà không hề có sự điều chỉnh.
Bản tin
Tỷ lệ % công chúng nhận xét về hình thức
Nhàm
chán, không
hấp dẫn
Đạt yêu
cầu
Hấp dẫn
DBTT hàng ngày
78,67%
17%
4,33%
DBTT thiên tai
72 %
25%
3% - Dự báo vẫn còn chung chung, chưa phát huy được ưu thế sắc thái địa phương
3.1.2. Bài học kinh nghiệm từ cách làm bản tin dự báo thời tiết của các đài truyền hình khác
* Kinh nghiệm một số Đài truyền hình trong nước
- Đài truyền hình Việt Nam (VTV)
Từ một bản tin /ngày (năm 2000) đến nay VTV đã chuyển thành 23 bản tin /ngày. Với bản tin chính
VTV cho một MC trình bày bản tin , đồng thời đầu tư kinh phí ứng dụng phần mềm có tên gọi CadPro
Weather Forecast Visualisation đi kèm với đó là công tác xã hội hóa bản tin thông qua việc kêu gọi của
các nhà tài trợ
- Ngoài đổi mới của bản tin dự báo thời tiết, thời gian gần đây liên tiếp xuất hiện các bản
dự báo thời tiết, đồng thời phổ biến các kiến thức cho nhân dân về các loại hình thời tiết thường gặp, góp
phần vào công việc phát triển KT-XH địa phương và đất nước, phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên
tai gây ra.
3.2.2. Cải tiến chất lượng của các bản tin
* Về nội dung:
- Các đài PTTH Trung Bộ cần thay đổi cách làm, không thể đọc nguyên văn văn bản do Trung tâm
khí tượng thủy văn tỉnh cung cấp mà thay vào đó là đầu tư, diễn giải bằng ngôn ngữ thông thường, tránh
dùng những thuật ngữ.
- Nên bổ sung vào dự báo từng huyện, quận cho công chúng dễ hình dung.
*Về hình thức:
Cần thay đổi format cũng như những hình thức thể hiện một cách sống động, thiết thực và lôi cuốn,
cần phát huy vai trò của MC ( như một số đài đã làm). Riêng đối với những loại hình thời tiết thiên tai
nguy hiểm như bão, nên đi kèm với bản đồ mô tả tọa độ, hướng đi của bão và dự báo hướng đi như cách
mà Đài truyền hình Việt Nam đang ứng dụng.
* Xã hội hóa bản tin dự báo thời tiết
+ Xã hội hóa công tác dự báo thời tiết là cơ chế mở kêu gọi sự đầu tư của các đơn vị ngoài nhà
nước tham gia vào lĩnh vực dự báo và cung cấp thông tin.
+ Xã hội hóa bản tin dự báo thời tiết là kêu gọi các doanh nghiệp, nhà tài trợ đứng ra đầu tư vào
việc thực hiện và phát sóng các bản tin dự báo thời tiết Đầu tư vào đội ngũ, cơ sở vật chất, trang thiết bị (
phần mềm, xây dựng các studio về thời tiết)
3.2.3. Mở thêm nhiều bản tin dự báo thời tiết chuyên biệt
- Bản tin dự báo thời tiết nông vụ.
- Bản tin dự báo thời tiết biển và ngư trường
- Bản tin thời tiết du lịch
3.3. Mô hình các Bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình cho các Đài PTTH Quảng Trị,
Tiểu ban TT
BTV
KTV
đồ họa
Dự báo viên
Chuyên
viên
Bản tin
DBTT
nông vụ
Bản tin DBTT
Biển và ngư
trường
Bản tin
DBTT
Dài ngày
Bản tin
DBTT
Hằng ngày
Bản tin DBTT
Thiên tai
(nếu có)
Bản tin
DBTT
& du lịch
Công chúng
Phản hồi
Đề tài cũng đưa ra một số kiến nghị: Thứ nhất là cơ chế chính sách của các nhà quản lý ở tầm vĩ
mô trong việc thương mại hoá các thông tin dự báo thời tiết
Nhóm giải pháp thứ hai mà luận văn đưa ra là việc cải tiến nội dung và chất lượng của bản tin.
Điều này yêu cầu về nâng cao trình độ đội ngũ, phần mềm, kỹ thuật hiện đại. Để có thể có nguồn kinh phí
đầu tư cho sự cải tiến đòi hỏi sự nỗ lực của chính các đài trong việc thực hiện xã hội hóa, thu hút quảng
cáo, trên cơ sở kinh phí thu được sẽ tập trung đổi mới cả về phương thức chuyển tải và hình thức cho bản
tin, đồng thời mở thêm nhiều bản tin chuyên biệt phục vụ cho từng đối tượng cụ thể đặc biệt là bản tin dự
báo thời tiết nông vụ và bản tin dự báo ngư nghiệp cho nông dân và ngư dân vốn chiếm tỷ lệ dân số cao
trong các tỉnh duyên hải miền Trung
Ngoài ra, đề tài cũng đưa ra mô hình chung trong việc thực hiện bản tin DBTT cho các đài PTTH
Trung Bộ.
Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến vai trò, thực
trạng và xu hướng phát triển của các bản tin dự báo thời tiết của truyền thông. Đây là khó khăn lớn trong
quá trình thu thập tài liệu thực hiện luận văn. Đổi lại, luận văn sẽ mang tính mới mẻ và khai phá, tuy nhiên chắc chắn còn nhiều tồn tại và thiếu sót. Đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao, làm cơ sở cho người
nghiên cứu tiếp theo. Về lâu dài luận văn không chỉ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với các đài khu
vực miền Trung mà mở rộng ra phạm vi các đài địa phương trong cả nước cải tiến các bản tin DBTT theo
nhu cầu ngày càng cao của công chúng.
References.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Sách Tiếng Việt:
1. Nhật An ( 2006), Phát thanh truyền hình, NXB Trẻ
2. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb VH – TT
3. Nguyễn Hoàng Điệp (1995),Thuật ngữ báo chí Việt Nam: hiện trạng và giải pháp,
KLTN, HN
Dương Xuân Sơn, Báo chí phương Tây, NXB ĐHQG – TP HCM, 27. Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2004), Cơ sở lý luận báo chí
truyền thông, Nxb ĐHQG
28. Tập thể tác giả khoa Báo chí 91994-2005), Báo Chí - Những vấn đề lý luận và thực
tiễn, 6 tập
29. Tạ Ngọc Tấn (1999), Báo chí – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Văn hóa
thông tin
30. Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị Quốc gia, HN
31. Nguyễn Thị Minh Thái (2005), Phê bình tác phẩm văn học – nghệ thuật trên báo
chí, Nxb ĐHQG, H.,2005
32. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb GD
33. Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB TP.HCM
34. Hữu Thọ (2000), Công việc của người viết báo, Nxb ĐHQG
35. Nguyễn Gia Thụy, Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của báo chí Việt
Nam, KLTN, HN,
36. Nguyễn Thị Tú, Phát hành báo chí và mối quan hệ với công chúng báo chí ở Việt
Nam (1986 - 2002), LVThS, HN
37. Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng ( 2004), NXB CTQG
38. Trần Quốc Vượng (2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB giáo dục
B. Sách nƣớc ngoài dịch ra tiếng Việt
39. Al Ries & Laura Ries ( 2005), Quảng cáo thoái vị, PR lên ngôi, NXB Trẻ
40.
Anne Gregory ( 2007), Sáng tạo chiến dịch PR hiệu quả, NXB Trẻ
41. A.Toffler (1996), Làn sóng thứ 3, NXB khoa học xã hội
42. E.P.Prôkhôcốp (2004), Cơ sở lý luận của báo chí, NXB Thông tấn, Hà Nội
43.Nguyễn Văn Dững và Hoàng Anh biên dịch (1998), Nhà báo –những bí quyết kỹ