luận văn thạc sĩ Vấn đề bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu số trên sóng truyền hình các đài phát thanh – truyền hình khu vực miền núi phía bắc luận văn thạc sĩ báo chí học - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VẤN ĐỀ BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN
SÓNG TRUYỀN HÌNH CÁC ĐÀI PHÁT THANH–TRUYỀN HÌNH KHU
VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
(Khảo sát các Đài Phát thanh – Truyền hình: Hà Giang, Lào Cai, Sơn La
từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2014)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội, 11/2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VẤN ĐỀ BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN
SÓNG TRUYỀN HÌNH CÁC ĐÀI PHÁT THANH–TRUYỀN HÌNH KHU
VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
(Khảo sát các Đài Phát thanh – Truyền hình: Hà Giang, Lào Cai, Sơn La
từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2014)
Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số


yêu nước của văn hóa dân tộc ta không chỉ biểu lộ ở lòng dũng cảm, đức hy sinh
mà còn ở tinh thần đoàn kết, nhân ái, yêu thương con người, ý thức bảo vệ nhân
phẩm, giữ gìn đạo lý.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, văn hóa Việt Nam đã vượt qua thế bị động
để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu thêm bản sắc của mình
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn coi
trọng mặt trận văn hóa mà cốt lõi của nó là bản sắc văn hóa dân tộc. Nghị quyết
hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành TW khóa VIII đã đánh dấu bước phát triển
mới về đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng. Với phương hướng chung của sự
nghiệp văn hóa nước ta là: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa
thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người…tạo nên trên
đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao…”
Tinh thần Nghị quyết TW5 thực sự là nguồn cảm hứng, nâng cao tinh thần
của nhân dân ta bước vào thế kỷ mới, làm cho văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển của đất nước. Nghị quyết cũng chỉ rõ “Nền văn hóa Việt


Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt
Nam”
Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, năm 2011 Thủ tướng
Chính phủ đã phê duyệt đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số
Việt Nam đến năm 2020”. Đây là sự kiện quan trọng tiếp tục thể hiện chính sách
của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân
tộc thiểu số Việt Nam.
Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương, chính sách nhằm ưu tiên,
phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi với quan điểm chỉ đạo xuyên suốt:
Các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương
yêu, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Tuy nhiên, khoảng cách chênh lệch
về trình độ phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số và miền núi với các khu vực khác

lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc với tiếp thu có chọn
lọc tinh hoa văn hoá nhân loại sẽ làm phong phú cho văn hoá đất nước, thúc đẩy
văn hoá phát triển.
Đây không phải là trách nhiệm của riêng ngành văn hóa, mà việc bảo tồn,
phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số là trách nhiệm chung của toàn xã
hội. Và vai trò của những người làm công tác tuyên truyền nói chung và đối với
lĩnh vực truyền hình nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc gìn giữ, phát
triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số. Với thế mạnh đặc trưng của thể loại báo
hình, truyền hình cần phải phát huy cao hơn nữa vai trò xung kích trên mặt trận
tuyên truyền bảo tồn, phát triển bản sắc các dân tộc thiểu số.
Khu vực miền núi phía Bắc gồm các tỉnh là: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai,
Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu và Sơn La, Thái
Nguyên. Đây là khu vực giàu có tiềm năng, với lợi thế phát triển nông, lâm
nghiệp, thủy điện, khoáng sản, du lịch và kinh tế cửa khẩu. Đây là nơi có nhiều
nguồn tài nguyên thiên nhiên thiết yếu đối với sự phát triển bền vững của Vùng và
của cả nước.
Bên cạnh đó, các tỉnh miền núi phía Bắc là khu vực có số lượng các dân
tộc đa dạng và đặc trưng nhất ở Việt Nam, trong đó có những dân tộc chiếm số


lượng lớn như người Tày, Nùng, Thái, Mông, Dao… Ở bất kỳ đâu trên khu vực
này đều dễ dàng gặp những người thuộc các dân tộc khác nhau sinh sống. Và ở
những vùng đất khác nhau, các dân tộc cũng phân bố với số lượng nhiều ít khác
nhau.
Khu vực này cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử và danh thắng nổi tiếng
thế giới. Trong lịch sử cũng như hiện tại, khu vực miền núi phía Bắc luôn luôn
có vị thế địa - chính trị vô cùng quan trọng, liên quan mật thiết đến sự hưng
thịnh, tồn vong của đất nước. Tuy nhiên, hiện nay khu vực miền núi phía Bắc là
một trong những vùng đang phải đương đầu với những khó khăn gay gắt và
phức tạp nhất.

nhiều bất cập, hạn chế như: Nội dung thể hiện chưa phong phú, đa dạng, chậm đổi
mới, chưa hấp dẫn; Đội ngũ phóng viên, biên tập viên chưa có chuyên môn sâu, sự
am hiểu về văn hóa các dân tộc thiểu số còn hạn chế…. Nền kinh tế thị trường do
Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã gặt hái được kết quả bước
đầu đáng phấn khởi. Song, những hệ lụy do mặt trái của cơ chế thị trường gây ra
không phải là nhỏ. Điều này đang tác động trực tiếp vào đời sống văn hóa của
nhân dân nói chung và đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nói riêng
gây nguy cơ sói mòn đạo đức dân tộc, hủy hoại những giá trị dân tộc mà ông cha
ta bao đời nay dầy công vun đắp.
Khu vực miền núi phía Bắc là một vùng có cơ cấu dân tộc thiểu số cùng
chung sống khá đa dạng. Qua cơ cấu dân tộc ở đây cho thấy khu vực này có
nền văn hóa rất phong phú và đa dạng. Mỗi dân tộc có nét đẹp, giá trị bản sắc
văn hóa riêng. Trước tình hình đó, hệ thống báo chí nói chung và các Đài Phát
thanh – Truyền hình nói riêng cần phải có những nghiên cứu cụ thể, khoa học
tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền
bảo tồn những giá trị bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số. Do đó, tôi chọn đề
tài: “Vấn đề bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trên sóng
truyền hình của các Đài Phát thanh - Truyền hình khu vực miền núi phía
Bắc” (Khảo sát tại Đài Phát thanh – Truyền hình 3 tỉnh: Hà Giang, Lào Cai và


Sơn La từ tháng 1/2014 đến 6/2014) làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc
sỹ.
Qua kết quả nghiên cứu này, tác giả muốn đóng góp một phần nhất định vào
việc nghiên cứu vấn đề bảo tồn, phát triển bản sắc các dân tộc thiểu số. Chính vì
vậy, việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, giúp tác
giả có thêm kiến thức để vận dụng vào công việc của mình trong thời gian tới
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, vấn đề văn hóa và bản sắc văn hóa đã có nhiều công
trình nghiên cứu và tìm hiểu, nhưng ở mỗi góc độ, mỗi nhà khoa học lại có cách

pháp nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng Mông tại Đài tiếng nói
Việt Nam.
Nguyễn Thu Liên (1997): Vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong các
chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam. Luận văn Thạc sỹ báo chí:
Đề tài cũng đề cập tới việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nói chung trong
chương trình phát thanh tại Đài tiếng nói Việt Nam.
Nguyễn Xuyên An Việt (2001): Thông tin về miền núi và dân tộc trên sóng
VTV1 – Đài Truyền hình Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Báo chí: Đề tài chủ yếu
khảo sát các chương trình có nội dung về miền núi và dân tộc trên sóng VTV1 của
Đài Truyền hình Việt Nam, từ đó chỉ ra thực trạng cũng như giải pháp khắc phục.
Đỗ Thanh Phúc (2005): Vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc trên
sóng truyền hình tại Đài Truyền hình Hòa Bình, Luận văn thạc sỹ truyền thông đại
chúng: Đề tài đề cập tới vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc nói chung trên
sóng truyền hình tại một địa phương cụ thể là Hòa Bình.
Trịnh Liên Hà Quyên (2006): Báo Văn hóa với vấn đề bảo tồn và phát huy
di sản văn hóa trong giai đoạn hiện nay. Luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng:
Đề tài khảo sát các tin, bài đăng trên Báo văn hóa về vấn đề bảo tồn và phát huy
các di sản văn hóa nói chung.
Qua thống kê trên cho thấy, cho đến thời điểm hiện tại đã có nhiều công
trình nghiên cứu về đề tài văn hóa các dân tộc nói chung và dân tộc thiểu số nói
riêng. Mỗi công trình nghiên cứu đã đề cập tới những khía cạnh khác nhau của


lĩnh vực văn hóa và tuyên truyền văn hóa các dân tộc nói chung hoặc của từng dân
tộc cụ thể với những góc nhìn mới hơn tạo nên tổng thể đa dạng, phong phú ở lĩnh
vực văn hóa nói chung và văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về việc bảo tồn, phát triển văn hóa các
dân tộc thiểu số trên sóng truyền hình được đề cập còn khá khiêm tốn. Số lượng
công trình nghiên cứu nào đề cập tới đối tượng cụ thể là dân tộc thiểu số khu vực
miền núi phía Bắc còn hạn chế, thậm chí là chưa có. Địa bàn nghiên cứu của các

quả tuyên truyền bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên
truyền hình khu vực Tây Bắc.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động tuyên truyền về vấn đề
bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên sóng truyền hình của
Đài Phát thanh – Truyền hình khu vực miền núi phía Bắc.
4.2. Đối tượng khảo sát
- Khảo sát các tin, bài trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền
hình Lào Cai, Sơn La, Hà Giang.
Chúng tôi chọn 2 nhóm chương trình của các Đài gồm: Nhóm thời sự (bao
gồm tin thời sự, phóng sự phản ánh và phóng sự chuyên đề); Nhóm văn hóa –
nghệ thuật (Đài PT – TH Hà Giang gồm chuyên mục: Sắc màu văn hóa, Giai điệu
quê hương, Nghề và làng nghề; Đài PT – TH Lào Cai gồm: Sắc màu Lào Cai,
Đi và khám phá; Đài PT – TH Sơn Là gồm: Văn hóa dân tộc; Dân ca dân vũ).
- Các nhà báo, các nhà lãnh đạo quản lý, phóng viên các Đài Phát thanh Truyền hình của các Đài trong phạm vi khảo sát.
- Khán giả truyền hình - công chúng mục tiêu của các Đài truyền hình.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian và điều kiện có hạn, với khuôn khổ của đề tài này, tác giả chỉ
tập trung đi sâu vào nghiên cứu vấn đề bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa các dân
tộc thiểu số trong các chương trình truyền hình của ba Đài phát thanh – Truyền
hình khu vực miền núi phía Bắc đó là Lào Cai, Sơn La và Hà Giang với các


chương trình sau: Nhóm thời sự (bao gồm tin thời sự, phóng sự phản ánh); Nhóm
văn hóa – nghệ thuật (Đài PT – TH Hà Giang gồm chuyên mục: Sắc màu văn hóa,
Giai điệu quê hương, Nghề và làng nghề; Đài PT – TH Lào Cai gồm: Sắc màu
Lào Cai, Đi và khám phá; Đài PT – TH Sơn Là gồm: Văn hóa dân tộc; Dân ca
dân vũ)
Việc chọn 3 đơn vị này trong phạm vi khảo sát vì các lý do sau:

tuyên truyền về vấn đề bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên
sóng truyền hình của các Đài Phát thanh – truyền hình Lào Cai, Sơn La và Hà
Giang. Từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất để nâng cao chất lượng sản xuất các
chương trình
- Phương pháp so sánh
Tác giả sử dụng phương pháp này để làm nổi rõ những khác biệt trong công
tác tuyên truyền về vấn đề bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số
trên sóng truyền hình của các Đài Phát thanh – truyền hình trong khu vực miền núi
phía Bắc. Từ đó nhìn nhận những mặt còn hạn chế và đề xuất các giải pháp khắc
phục
- Phương pháp điều tra xã hội học
Việc sử dụng phương pháp này, thông qua việc điều tra đối tượng công
chúng khán giả, tác giả có những câu trả lời khách quan nhất về việc tuyên truyền
vấn đề bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên sóng truyền
hình Đài Phát thanh – truyền hình. Đồng thời có những hướng giải pháp khắc phục
trên cơ sở ý kiến công chúng khán giả.
+ Tác giả phát phiếu trưng cầu ý kiến ngẫu nhiên của 300 công chúng tại 3
tỉnh Sơn La, Lào Cai và Hà Giang, mỗi tỉnh 100 phiếu. Qua khảo sát, tác giả chỉ
sử dụng được 264 phiếu thu về để phân tích các nội dung nghiên cứu của đề tài bởi
264 phiếu này.
-Phương pháp phỏng vấn sâu


Phương pháp này tác giả sử dụng với nhóm đối tượng là các đồng chí lãnh
đạo tỉnh, lãnh đạo các Đài và nhóm biên tập viên, phóng viên các Đài thuộc phạm
vi khảo sát nhằm có những ý kiến cá nhân đánh giá về vấn đề nghiên cứu.
Việc kết hợp hiệu quả các phương pháp nghiên cứu sẽ tạo được hiệu quả tốt
hơn. Nhìn chung các phương pháp được sử dụng đều có tác dụng tích cực vào kết
quả của luận văn. Trong đó, các phương pháp bao trùm là phân tích, so sánh, tổng
hợp, điều tra xã hội học.

hình hay, điển hình sáng tạo trong cộng đồng về bảo tồn, phát triển bản sắc văn
hóa các dân tộc thiểu số tại khu vực.
Với bản thân tác giả, quá trình hoàn thành công trình nghiên cứu này là sự vận
dụng hệ thống lý luận đã được tiếp thu trong cả khóa học để nghiên cứu một vấn đề cụ
thể. Đó cũng là quá trình tự hoàn thiện thêm về phương diện lý thuyết, và các vấn đề
thực tiễn từ đó tạo cơ sở cho hoạt động báo chí sau này tại địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
- Luận văn được chia thành 3 phần chính: Phần mở đầu; Phần nội dung và
Phần kết luận. Cụ thể :
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số
khu vực miền núi phía Bắc
Chương 2 : Thực trạng hoạt động tuyên truyền về vấn đề bảo tồn, phát triển
văn hóa các dân tộc thiểu số trên sóng truyền hình các Đài PT – TH khu vực miền
núi phía Bắc
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả việc tuyên
truyền bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trên truyền hình
- Ngoài ra, luận văn còn có phần tài liệu tham khảo và phụ lục gồm một số
biên bản phỏng vấn sâu lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo Đài PT-TH các tỉnh và mẫu phiếu
thăm dò ý kiến khán giả và tổng hợp kết quả khảo sát.


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN TRUYỀN HÌNH KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA
BẮC
1.1.Một số khái niệm
1.1.1.Văn hóa
Văn hóa là khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội, thuật
ngữ này không những có nhiều nghĩa trong ngôn ngữ hàng ngày mà còn được sử
dụng ở các ngành khoa học khác nhau. Tuy nhiên, việc xác định nội hàm của nó

tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở
và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là
văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cũng như biểu
hiện của nó mà loài người tạo ra nhằm mục đích thích ứng với nhu cầu đời
sống và đòi hỏi của sinh tồn”. [19, tr.431]
Phan Ngọc vào thập niên 90 của thế kỷ XX cũng đã đưa ra một định nghĩa
văn hóa mang tính thao tác luận, khác với các định nghĩa trước đó, theo ông:
“Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá
nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này
hay tộc người này mô hình hóa theo các mô hình tồn tại trong biểu tượng.
Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này đó là văn hóa dưới hình
thức dễ nhìn thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá
nhân hay tộc người, khác với kiểu lựa chọn của cá nhân hay tộc người
khác” [26, tr.19-20]


Như vậy, theo Phan Ngọc, nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn của cá nhân
hay tộc người làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau
là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc người này tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ
khúc xạ riêng ở mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác
[35, tr.21-22]
Hay một số nhà nghiên cứu gần đây cũng đã nghiên cứu sâu về lĩnh vực này
và đưa ra các quan niệm về văn hóa như sau:
“Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vật chất của hoạt
động con người, là giá trị và phương thức xử thế được công nhận, đã khách thể
hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho một cộng đồng khác và cho
các thể hệ mai sau” [38, tr.11].
Định nghĩa này nhấn mạnh trong văn hóa bao gồm các sản phẩm vật chất và
các hệ thống giá trị các mẫu mực xử thế và các hệ thống hành vi. Vấn đề cần được

mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc. Địa vị, trình độ
phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi
phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc.
Theo số liệu điều tra dân số năm 2009, Việt Nam là một quốc gia thống nhất
gồm 54 dân tộc thành viên với khoảng trên 80 triệu người. Trong tổng số các dân
tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quan niệm là “dân
tộc đa số”, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số được quan niệm là “dân tộc
thiểu số” trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam [2]
Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân
ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc
gia đa dân tộc. Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương
quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới.
Một dân tộc có thể được quan niệm là đa số ở quốc gia này, nhưng đồng thời có
thể là thiểu số ở quốc gia khác. Tóm lại, có thể hiểu: “dân tộc thiểu số là những
dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước đó”.


Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm “dân tộc thiểu số” ở trên chúng ta có thể
hiểu khái niệm “dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc” là những dân tộc có
số dân ít so với dân tộc đa số sinh sống tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
1.1.3. Bảo tồn
Từ điển Tiếng Việt cắt nghĩa: “Bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi” [11,
tr.151]
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật, hiện tượng theo dạng thức
vốn có có của nó. Bảo tồn là không để mai một, không để bị thay đổi, biến hóa hay
biến thái. Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải
biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển”. Đối tượng bảo tồn cần thỏa mãn 2 điều kiện
đó là:
Một là, nó phải được nhìn là tinh hoa, là một giá trị đích thực được nhìn
nhận minh bạch, không có gì hồ nghi hay bàn cãi.

các giá trị văn hóa vật chất, tinh thần hay văn hóa vật thể, phi vật thể của cộng
đồng các DTTS, bao gồm: Toàn bộ các giá trị văn hóa lễ hội, tín ngưỡng, trang
phục, ẩm thực, kiến trúc nhà ở, di sản văn hóa….
Bảo tồn và phát triển văn hóa có thể được coi là thúc đẩy nhau; bảo tồn văn
hóa giữ vai trò là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa. Bên cạnh đó, thông
qua phát triển văn hóa, con người nhận thức và thực hiện hoạt động bảo tồn văn
hóa nhằm thể hiện bản sắc riêng của mình. Cũng bởi tầm quan trọng của việc bảo
tồn văn hóa mà trong quá trình phát triển chứa đựng sự đánh giá, xác lập vị thế của
yếu tố văn hóa mới dựa trên nền tảng giá trị đã được bảo tồn.
Để thực hiện tốt vấn đề bảo tồn văn hóa DTTS trong thời kỳ mở cửa, chúng
ta không tránh khỏi những cái đi ngược lại với thuần phong mĩ tục của văn hóa
dân tộc. Vì vậy, để thực hiện việc bảo tồn, chúng ta cần nhận thức rằng không đơn
thuần là giữ gìn không cho mất đi những giá trị vật chất và tinh thần của các DTTS
đã được sáng tạo trong quá trình lịch sử, mà gắn liền với nó là sự phát triển, tiếp
thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của nhân loại, loại bỏ những gì không phù
hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc, có thế thì trong quá trình phát triển và


hội nhập, chúng ta mới không bị hòa tan, từ đó mới có thể khẳng định vị trí, vai trò
của mình trên trường quốc tế.
1.2. Những nội dung biểu hiện đặc trưng của văn hóa dân tộc thiểu số khu
vực miền núi phía Bắc
1.2.1. Đặc trưng văn hóa dân tộc thiểu số
Hiện nay ở Việt Nam, có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa và đặc
trưng của văn hóa. Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là hệ thống
hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá
trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự
nhiên và xã hội của mình” [39, tr.21]. Định nghĩa này đã chỉ ra 2 nhóm giá trị
riêng biệt đó là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Văn hoá vật chất chỉ ra
phương thức hành động của con người để tồn tại trong đời sống vật chất, thường

tương đối bền vững và tương đối thống nhất. Chính đặc điểm này cho thấy phong
tục tập quán là yếu tố quy định bản sắc văn hóa mỗi dân tộc. Những biểu hiện cụ
thể của phong tục tập quán gồm các luật tục, hệ thống tín ngưỡng dân gian, hệ
thống tôn giáo bản địa, lễ hội tộc người…
Thứ hai, các trang phục dân tộc thiểu số
Trang phục là phương tiện cấu thành và thể hiện bản sắc của các dân tộc
thiểu số rõ nét nhất trong việc nhận dạng văn hóa của từng dân tộc. Trải qua các
thời kỳ lịch sử, các DTTS nước ta đã tạo dựng được những bộ trang phục mang
nét riêng, đẹp, độc đáo, thấm nhuần giá trị văn hóa truyền thống của mỗi tộc
người.
Người dân tộc quan niệm khi chết phải mặc trang phục truyền thống thì tổ
tiên mới nhận diện được con cháu, mới có thể nhận biết cội nguồn khi đã rời xa
cuộc sống... Thế nên, phần lớn các DTTS ở nước ta có trang phục truyền thống
riêng biệt, độc đáo, để người am hiểu chỉ cần nhìn trang phục là phân biệt được
người mặc nó thuộc dân tộc gì, thậm chí là nhánh dân tộc nào. Nếu coi bản sắc văn
hóa là đặc trưng cơ bản nhất của một tộc người, thì trang phục chính là biểu hiện
đầu tiên để có thể nhận biết một dân tộc.


Thứ ba, văn hóa ẩm thực các dân tộc thiểu số
Ẩm thực của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có bản
sắc riêng biệt, nhiều món ăn đã trở thành đặc sản trên đất nước Việt Nam và được
nhiều người biết đến. Và mỗi dân tộc có những món ăn độc đáo, riêng biệt mà chỉ
có ở dân tộc ấy.
Cùng là một món ăn nhưng mỗi một dân tộc đều có riêng cách chế biến, nấu
nướng riêng trong ăn uống. Đối với đồng bào DTTS những sản phẩm trong ẩm
thực đều làm chính từ những nguyên liệu sản vật do chính người dân lao động nơi
đây làm ra. Thông qua những sản phẩm ẩm thực mà người ta có thể biết được đời
sống văn hoá tinh thần cũng như điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên của vùng đất
ấy. Mỗi một sản phẩm ẩm thực là những chắt lọc kinh nghiệm sống, kinh nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status