bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình các đài địa phương trung bộ - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỊ PHÖ HÕA
BẢN TIN “DỰ BÁO THỜI TIẾT” TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH
CÁC ĐÀI ĐỊA PHƢƠNG TRUNG BỘ
( Khảo sát 3 Đài PTTH Quảng Trị, Bình Định và Bình Thuận trong
6 tháng cuối năm 2010) LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ


6 tháng cuối năm 2010)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Thái
Hà Nội- 2011

MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính thời sự và lý do chọn đề tài 3

Tiểu kết chương 2 61
Chƣơng 3: Kinh nghiệm, giải pháp và mô hình nâng cao chất lƣợng Bản tin
dự báo thời tiết của 3 Đài
3.1. Bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện bản tin dự báo thời tiết 64
3.1.1.Bài học được rút ra từ chính cách thực hiện các bản tin dự báo
thời tiết của 3 đài 64
3.1.2. Bài học từ cách làm bản tin dự báo thời tiết của các đài truyền
hình khác 66
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng 73
3.2.1 Tạo cơ sở pháp lý trong việc thực hiện, phát sóng các bản tin dự
báo thời tiết 73
3.2.2. Cải tiến chất lượng của các bản tin 77
3.2.3. Mở thêm nhiều bản tin dự báo thời tiết chuyên biệt 82
3.3. Mô hình Bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình cho các Đài
PTTH Trung Bộ 83
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính thời sự và lý do chọn đề tài

Theo cách phân vùng văn hoá được coi là hợp lý và khách quan hơn cả của
GS Trần Quốc Vượng, trong giáo trình “Cơ sở văn hoá Việt Nam Việt Nam” thì

khốc liệt hơn. Mùa bão thường kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11, và trung bình hàng
năm có 4 cơn bão. Theo số liệu mà PGS.TS Vũ Văn Tuấn (Tổng thư ký Hội Môi
trường và tài nguyên nước) công bố tại hội thảo “Kinh nghiệm phòng chống lụt bão
sau 10 năm lũ lớn miền Trung - năm 1999” do Bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn tổ chức vào hạ tuần tháng 11/ 2009 tại Đà Nẵng cho thấy: Trong khi số cơn
bão đổ bộ vào Việt Nam tăng trong 10 năm trở lại đây thì số cơn bão đổ bộ vào khu
vực miền Trung lại giảm, tuy nhiên cường độ tàn phá của bão khi vào miền Trung
lại tăng một cách khốc liệt.
Tương tự, số ngày mưa lớn và kéo dài ở miền Trung tăng lên nhiều hơn so
với 10 năm trước. Điều này kéo theo lũ ngày một khốc liệt với tần suất dày đặc. Và
hơn lúc nào hết, công tác dự báo thời tiết đối với các phương tiện truyền thông đại
chúng ở Việt Nam nói chung và ở miền Trung nói riêng sẽ giúp người dân miền
Trung chủ động ứng xử với thời tiết, và nhất là phòng ngừa, ứng phó với thiên tai.
Với ý nghĩa vô cùng quan trọng và thiết thực, gắn trực tiếp với đời sống thậm
chí là sinh mệnh của người dân miền Trung của việc dự báo thời tiết trên các
phương tiện thông tin đại chúng, nên tôi đã nghiên cứu việc dự báo thời tiết miền
Trung như một vấn đề thông tin nóng làm chủ đề cho đề tài nghiên cứu trong luận
văn thạc sĩ của mình.
Nội dung các loại hình báo chí đều có dành riêng một phần “đất” nhất
định cho dự báo thời tiết, song so với các loại hình báo khác, ở miền Trung thì các
đài truyền hình (“báo hình”) có ưu thế hơn hẳn trong việc chuyển tải những thông
tin về thời tiết này đến cho công chúng nghe nhìn Miền Trung. Trước hết, đây là
loại hình truyền thông bằng màn ảnh nhỏ khá phổ biến đối với người dân miền
Trung, chỉ đứng sau loại hình báo phát thanh. Tuy nhiên, mang đặc thù là loại hình
dành cho công chúng nghe nhìn cộng với ưu thế ngôn ngữ hình ảnh-âm thanh của
báo hình. Ngoài âm thanh, hình ảnh, các chương trình dự báo thời tiết trên truyền
hình còn có ưu điểm là đưa lên màn ảnh cả ngôn ngữ phi văn tự là biểu đồ, đồ thị, Dự báo thời tiết luôn luôn là vấn đề thông tin nóng, nhất là trong vài năm trở
lại đây, đặc biệt là sau sự cố đoán nhầm hướng đi của cơn bão Chanchu vào tháng
5/ 2006, gây những thiệt hại nghiêm trọng cho miền Trung và các vùng miền khác
trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Tiếp đó trong năm 2008, công tác dự báo vẫn tiếp
tục có nhữ ng sai só t , chậ m trễ trong dự bá o bã o số 7, số 10 và trận mưa lũ lịch sử
vào cuối tháng 10, đầ u thá ng 11, năm 2008 tại Hà Nội gây bức xúc t rong dư luậ n .
Gầ n đây nhấ t , trong cơn bã o số 9 đổ bộ và o cá c tỉ nh miề n Trung ngà y 29/9/2009
lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi cho rằng do dự bá o sai nên tỉnh nà y bị thiệ t hạ i nặ ng . Sự
tranh cãi giữa cơ quan khí tượng và những người “thụ hưởng” dịch vụ dự báo thời
tiết qua các phương tiện truyền thông đại chúng tại Việt Nam vẫn chưa có hồi kết.
Tuy nhiên, trên tinh thần phản biện xã hội, cũng thừa nhận vai trò của truyền thông
trong phòng chống thiên tai thời gian qua vẫn còn quá mờ nhạt. Có thể thấy lối diễn
giải “đều đều” quen thuộc, những mô hình ngôn ngữ bản tin thời tiết dập khuôn,
thiếu sự nhấn mạnh cần thiết, của các phát thanh viên thời tiết trên sóng truyền hình
và phát thanh, đã làm mất tác dụng cảnh báo của thông tin. Các phóng viên báo viết
thì bê nguyên xi bản tin cơ quan khí tượng cung cấp, với đầy đủ từ ngữ kỹ thuật
chuyên biệt, lên trang in.
Đây là vấn đề đã được đặt ra, mổ xẻ, thảo luận, rút ra bài học từ nhiều
hội thảo:
-“Kinh nghiệm phòng chống lụt bão sau 10 năm lũ lớn miền Trung - năm
1999” tháng 11/ 2009 tại Đà Nẵng
- “Biến đổi khí hậu và phát triển đô thị” ngày 14-15/9/2010
- Hội thảo “Tư vấn về tính dễ tổn thương với biến đổi khí hậu trong nông
nghiệp và Đối thoại về chính sách xây dựng khả năng ứng phó trong nông nghiệp ở
vùng Châu Á và Việt Nam”, ngày 21 -22/7/2011 tại Khách sạn Hà Nội
- Hội thảo tham vấn Quốc gia “Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển

đặc thù trên các Đài truyền hình tiêu biểu của Miền Trung, đồng thời đề ra giải
pháp truyền thông để có thể nâng cao chất lượng của bản tin theo hướng gần gũi,
sát thực và dễ hiểu hơn đối với người dân. Đây là cơ sở thông tin quan trọng để
người dân miền Trung – vùng đất luôn đối mặt với những khắc nghiệt với thời tiết,
để tìm ra cách ứng xử văn hoá tốt nhất với thời tiết cũng như phòng chống thiên tai
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích nội dung các bản tin dự báo thời
tiết trên sóng truyền hình của 3 đài: Đài PTTH Quảng Trị (Bắc Trung Bộ), Bình
Định (Trung Trung Bộ) và Bình Thuận ( Nam Trung Bộ).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát của luận văn là một số bản tin dự báo thời tiết trên sóng
truyền hình của 3 đài trong thời gian 6 tháng cuối năm 2010. Vì theo dự báo của
các cơ quan khí tượng thủy văn trong năm 2010, do biến đổi khí hậu, Việt Nam sẽ
hạn hán gay gắt hơn và bão nhiều hơn, Rõ ràng đây là mối lo ngại đối với cư dân
miền Trung, những thiên tai “khôn lường” có thể sẽ xảy ra từ tháng 6 đến tháng 12.
Trong đó, tháng 6 là đỉnh điểm của mùa khô, tháng 8 miền Trung bắt đầu hứng
bão. Do đó, ngoài bản tin thời tiết hàng ngày, trong giai đoạn 6 tháng khảo sát, tác
giả sẽ có góc nhìn toàn diện để phân tích kĩ lưỡng về “dự báo hạn hán” và “dự báo
bão lũ” ở cả 3 đài

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng thao tác phân tích tác phẩm báo chí, nghĩa là phân tích các
bản tin dự báo thời tiết trong ngôn ngữ truyền hình để đánh giá chính xác thực

PHẦN NỘI DUNG

CHƢƠNG 1:
TRUNG BỘ TRONG TOÀN CẢNH ĐỊA LÝ, KHÍ HẬU
VIỆT NAM

1.1. Toàn cảnh địa lý, khí hậu Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, trong khu vực
Đông Nam Á ven biển Thái Bình Dương. Việt Nam có đường biên giới trên đất
liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Cam-pu-chia ở
phía Tây; phía Đông giáp biển Đông. Trên bản đồ, dải đất liền Việt Nam mang
hình chữ S, dài 1.650 km theo hướng Bắc Nam, phần rộng nhất trên đất liền
khoảng 500 km; nơi hẹp nhất gần 50 km. theo nhiều nhà nghiên cứu, nhìn từ góc
nhìn địa – văn – hóa thì đặc điểm thì Việt Nam có 3 thông số chính

1.1.1. Xứ nóng,, ẩm, mưa nhiều
Kéo dài từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắc, xét về tổng thể, Việt Nam nằm
hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía
xích đạo. Vị trí đó đã tạo cho Việt Nam có đặc trưng là một nước nhiệt đới gió mùa
ẩm. Vì vậy, khí hậu nước ta mang đặc trưng là: nóng, ẩm và mưa nhiều, quanh năm
có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn. Nhiệt độ trung bình năm từ 22°C đến 27°C và tăng
dần từ Bắc vào Nam. Mùa hè, nhiệt độ trung bình trên cả nước là 25
0
C (Hà Nội
23
0

gió" hay "ngã tư đường"
Và tính chất ngã tư đường đã tạo cho Việt Nam sức sống và động lực phát
triển. Bốn dòng văn hóa lớn nhất Ấn - Hoa - Cận Đông - Tây gặp nhau, đan chéo
nhau ở ngã tư này. Điều đó tạo cơ hội cho Việt Nam biết tiếp thu, chắt lọc sự tinh
hoa của các nền văn hóa, nhưng đặc biệt lại không làm mất đi bản sắc văn hóa
riêng của mình, đề hình thành nên diện mạo văn hóa mới nhưng thấm đẫm bản sắc
dân tộc.

1.2. Ba hằng số của Văn hóa Việt Nam

Với các hằng số tự nhiên trên nên đã tạo cho dân tộc Việt ngàn đời nay là
một dân tộc nông dân, với nghề trồng lúa nước, và ngàn đời nay, họ cư trú ở nông
thôn, với những nguyên tắc tổ chức đặc thù của một xã hội nông nghiệp điển hình.

Và 3 hằng số văn hóa của Việt Nam đó chính là nông dân, nông nghiệp và nông
thôn.

1.2.1. Nông dân

Chính bởi các thông số đó của môi trường tự nhiên, dân tộc Việt đã thành
một dân tộc nông dân, với nghề trồng lúa nước, chăn nuôi và đánh bắt thủy sản đã
ngàn đời, và ngàn đời nay, họ cư trú ở nông thôn, với những nguyên tắc tổ chức
đặc thù của một xã hội nông nghiệp điển hình.
Theo thống kê dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê, Ở Việt Nam có đến
70,4% dân số sống ở vùng nông thôn, trong khi tỷ lệ này vào năm 1999 là 76,5%.
Cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên. Do vậy, người nông dân
phải dựa vào nhau để chống chọi lại với thiên tai. Hơn nữa, nền nông nghiệp lúa


1.2.2. Nông nghiệp
Chính điều kiện tự nhiên của vùng gió mùa Châu Á làm cho việc trồng lúa
nước là sự lựa chọn tốt nhất, và thế là hình thành nền nông nghiệp lúa nước cùng
với nó là “ văn minh lúa nước” như nhiều nhà nghiên cứu đã nói đến. Ngay trong
tựa đề giáo trình “Việt Nam văn hóa sử cương”, học giả Đào Duy Anh đã ghi nhận
về nghề trồng lúa trên đất Việt của người Việt [ 2, tr.05]. “Khắp một vùng trung
châu Bắc Việt, không một mẫu đất nào là không có dấu vết công trình thảm đạm
kinh dinh của tổ tiên ta để giành lại quyền sống với tạo vật; suốt một dải Trung -
Việt vào đến trung châu Nam Việt không một khúc đường nào là không nhắc lại sự
nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên ta để mở rộng hi vọng cho tương lai. Cái văn
hóa của tổ tiên ta đã gây dựng trong hai nghìn năm để sinh trưởng giữa những
điều kiện tự nhiên ác liệt ở xứ này, tất phải có sinh khí mạnh mẽ lắm.”.
Trong giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, giáo sư Trần Ngọc Thêm đã định
vị ngay văn hóa Việt Nam là loại hình văn hóa gốc nông nghiệp [25, tr.20] “ xứ
nóng sinh ra mưa nhiều, tạo nên sông lớn với những đồng bằng trù phú” [ 32, tr.21]
Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước, hạt gạo gắn liền với sự phát
triển dân tộc và việc sản xuất lúa gạo cho đến nay vẫn là nền kinh tế chủ yếu của
đất nước. Nếu trên trái đất, diện tích đất trồng lúa chiếm 11% thì tại Việt Nam khắp
nơi đều trồng lúa, nhất là ở các miền đồng bằng và trên thế giới số người được sống
bằng lúa gạo là 50% thì tại Việt Nam là 100%. Trên thực tế, việc sản xuất ra lúa

gạo là một hoạt động kinh tế đứng hàng đầu. Những cánh đồng lúa trải dài từ khắp
miền núi, đồng bằng đến cao nguyên, hình thành nên nhiều vùng thâm canh cây
lúa. Những vựa lúa lớn của nước Việt Nam cả về diện tích, sản lượng và chất lượng
có thể kể đến như đồng bằng sông Hồng thuộc khu vực phía bắc, đồng bằng sông
Cửu Long, đồng bằng Nam Bộ.

cao như: nuôi cá lóc trong bể xi măng, ao đất; cá diêu hồng, rô phi đơn tính nuôi
trong bè, nuôi ba ba, ếch,… Trong nuôi nước lợ là tôm thẻ chân trắng trên cát cho
năng suất bình quân 34 tấn/ha/năm (một năm nuôi 03 vụ) và lợi nhuận thu được rất
cao, điều đó làm cho nhiều người dân và nhà doanh nghiệp đã và đang quan tâm

đầu tư vào nuôi trồng thủy sản. Việt Nam đã trở thành 1 trong 10 nước có kim
ngạch xuất khẩu thủy sản cao nhất thế giới. Theo số liệu của Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn, năm 2010, giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước đạt
4,94 tỷ USD.
Trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, phải phấn đấu để nước ta
trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ
quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát
triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với đảm bảo quốc
phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi
nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; xây dựng các trung tâm kinh tế lớn vùng
duyên hải gắn với các hoạt động kinh tế biển làm động lực quan trọng đối với sự
phát triển của cả nước. Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 –
55% GDP, 55 – 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã
hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển.

1.2.3. Nông thôn
Với 90 % dân số theo nghề nông trước kia và hiện tại là hơn 70 % đã hình
thành nên một đặc điểm đó là Ở Việt Nam, người nông dân sống phụ thuộc vào
thiên nhiên rất nhiều. Họ sống cố định một chỗ, ở dưới một mái nhà với mảnh vườn
của mình được bao bọc bởi luỹ trẻ làng bảo vệ. Trong sản xuất, người nông dân
phụ thuộc vào nhiều hiện tượng của tự nhiên như trời, đất, nắng, mưa Bởi vậy mà
họ rất tôn trọng, hoà thuận với tự nhiên và phụ thuộc vào nó. Người Việt đã tích


Bản đồ phân vùng văn hóa Việt Nam

Trong đó, vùng văn hóa Trung Bộ là vùng đất gồm 11 tỉnh, thành gồm: tỉnh
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,
Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và thành phố Đà Nẵng hiện nay.
Nói đến miền Trung như một tổng thể hệ thống nằm trong tổng thể hệ thống Việt
Nam, người ta thường chú ý đến các đặc điểm sau đây:

1.3.1. Đặc điểm tự nhiên Trung Bộ
- Dải đất hẹp chạy dài ven biển từ Quảng Bình đến Bình Thuận
Địa hình miền Trung hẹp theo chiều ngang Đông Tây, nếu quay mặt về
Đông thì trước mặt mỗi người dân Trung Bộ sẽ là Biển Đông, sau lưng là dãy
Trường Sơn. Bờ biển vùng duyên hải miền Trung dài hơn 1 .1000 km. Có nhiều

sông tương đối khá lớn, như sông Gianh ở Quảng Bình, sông Thạch Hãn ở Quảng
Trị, sông Hương ở Thừa Thiên- Huế, sông Vu Gia ở Đà Nẵng, sông Thu Bồn ở
Quảng Nam, sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi. Sông, suối nhiều nhưng chiều dài các
sông đa số ngắn và có độ dốc lớn. Lưu vực các sông thường là đồi núi nên nước
mưa đổ xuống rất nhanh. Các cửa sông lại hay bị bồi lấp làm cản trở việc thoát lũ
cho vùng đồng bằng.

Bản đồ bờ biển miền Trung
Địa hình miền Trung Bộ chia cắt theo chiều dọc Bắc Nam, bởi các đèo là
những dãy núi đồi tách từ Trường Sơn đâm ngang ra biển. Nếu tính từ Tam Điệp
đèo Ba Dội thuộc xứ Thanh thì cứ một đèo, một đèo lại một đèo, lặp đi lặp lại qua
đèo Hoàng Mai, đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cù Mông, đèo Cả và hàng chục đèo

vực miền trung đã phải chống chịu hơn 15 cơn bão, trong đó một số cơn bão có sức
gió giật mạnh trên cấp 12 gây hậu quả nghiêm trọng về người và tài sản.
Khí hậu, miền Trung lại có mùa mưa lệch pha với hai đầu Bắc Nam đất
nước, ở miền Trung, lại gặp gió Tây rất khô nóng, thổi từ Lào qua (xưa người vẫn
gọi là gió Lào tạo ra sự khô rang cho miền Trung)
Không chỉ có bão, miền Trung chịu ảnh hưởng ít nhất của 7 loại hình do
thiên tai, hiểm họa khác: lũ (kể cả lũ quét), lụt, hạn hán, sạt lở đất, lốc, xâm nhập
mặn và xói lở bờ sông.
1.3.2. Đặc điểm xã hội Trung Bộ

Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số vùng duyên hải miền
Trung là 11.325.900 người, mật độ dân số khoảng 197 người/ 1km2. 2 nghề chính
mà hơn 70 % cư dân Trung Bộ dựa vào để sinh sống là: nghề nông và nuôi trồng,
đánh bắt thủy sản. Chính sự phụ thuộc vào thiên nhiên đã khiến cư dân miền Trung
phải luôn theo dõi thời tiết để mà lên kế hoạch cho sản xuất, mùa màng cũng như
phòng tránh những thiên tai. Nếu như trước đây, cũng như mọi vùng, miền khác ở
Việt Nam, cư dân miền Trung thường dựa vào kinh nghiệm đúc kết từ cha ông
thông qua những câu ca dao, tục ngữ. Tuy nhiên, những năm gần đây, biến đổi khí
hậu đã làm thiên nhiên không còn theo một quy luật nào nữa và những bài học kinh
nghiệm từ ca dao, tục ngữ đã không còn giá trị, Không có cách nào khác, cư dân
miền Trung phải theo dõi những bản tin dự bào thời tiết trên các loại hình báo chí
vì nó mang tính khoa học hơn và chính xác hơn so với những kinh nghiệm đúc kết
của ông cha. Đó cũng là lý do để bản tin dự báo thời tiết trở nên ngày càng quan
trọng hơn trong cuộc sống thường nhật của cư dân miền Trung – nơi thiên tai diễn
ra khắc nghiệt nhất.

1.4 Vị trí của bản tin dự báo thời tiết đối với các Đài Phát thanh và

Tuy nhiên, dù mô hình của báo hình kéo đến đài huyện, song việc sản xuất
các bản tin dự báo thời tiết trên sóng truyền hình cũng chỉ mới dừng lại ở đài tỉnh.
Điều này bắt nguồn từ thực tế dự báo thời tiết là bản tin khoa học – chuyên biệt,
nên đài huyện chưa thể tự sản xuất được. Cùng với đài truyền hình Trung ương, các
Trung tâm truyền hình Việt Nam, các Đài truyền hình ở những tỉnh, thành trong cả
nước, các đài PTTH Trung Bộ cũng ý thức rất rõ vai trò bản tin dự báo thời tiết đối
với chính Đài của mình Chính vì thế, tuy có thời lượng tương đối ngắn, nhưng bản
tin dự báo thời tiết luôn được xếp vào các khung giờ vàng của truyền hình địa
phương.
Thực tế, với một vùng đất rất khắc nghiệt như miền Trung – Việt Nam thì
việc nắm bắt kịp thời những biến đổi của thời tiết sẽ giúp công chúng điều chỉnh
cách sinh hoạt sao cho phù hợp và hơn nữa tránh những tổn thất trong nông nghiệp
cày cấy, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản cũng như có thể tránh những tổn thất về tính
mạng. Bên cạnh các kênh truyền hình của đài truyền hình Việt Nam, thì 11 đài
truyền hình Trung Bộ cũng đã dành một sự quan tâm đặc biệt đối với việc thực
hiện và phát sóng các bản tin dự báo thời tiết.  Đài PTTH Quảng Trị ( QTV)
Ngày 20 tháng 7 năm 1955, cùng với sự hình thành đặc khu Vĩnh Linh, Đài
Truyền thanh Vĩnh Linh được thành lập (Tiền thân của Đài PT&TH Quảng Trị ngày
nay).
Tháng 6 năm 1972, cùng với việc thành lập Ty Thông tin – Văn hoá Quảng
Trị, Ban Quản lý truyền thanh Quảng Trị được thành lập. Đến tháng 1 năm 1973,
Đài Truyền thanh Đông Hà được thành lập trực thuộc Ban Quản lý Truyền thanh.
Năm 1976, sáp nhập ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên. Ngày 15
tháng 4 năm 1976, Đài Phát thanh Bình Trị Thiên được thành lập.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status