“Học thuyết tuần hoàn và chu chuyển tư bản (TB), sự vận dụng trong quản lý các doanh nghiệp ở Việt Nam” - Pdf 95



1

Luận văn:
“Học thuyết tuần hoàn và chu chuyển tư bản
(TB), sự vận dụng trong quản lý các doanh
nghiệp ở Việt Nam”
2

LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang trong thời kỳđổi mới mà sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá là mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu. Tuy nhiên, để hoàn thành mục tiêu
này cần có một nguồn vốn đầu tư PT vô cùng lớn. Nhưng để huy động và sử
dụng tốt nguồn vốn này là một vấn đềđáng quan tâm của mọi người.
Trên thực tế hiện nay, việc quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư PT ở tầm
vĩ mô là nền kinh tế quốc dân và cảở các doanh nghiệp còn rất nhiều điều khó
khăn. Tình trạng thừa vốn trong các ngân hàng thương mại và thiếu vốn trong
các doanh nghiệp, vốn kinh doanh không phải làít, việc sử dụng vốn bừa bãi
và lãng phí vốn đang là một thực trạng đáng buồn hiện nay.
Trong giới hạn hiểu biết của mình, em cũng muốn góp phần nào ý kiến
để có phương pháp giải quyết vấn đề này. Chính vì vậy em đã chọn đề tài:

chúng ta sẽ xem kỹ hơn các qúa trình chu chuyển của tư bản trong bài dưới
đây để từđó có thể hiểu rõ hơn về quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư
bản!
1.1. Ba giai đoạn vận động của tư bản và sự biến hoá hình thái của
tư bản.
Mọi tư bản sản xuất trong qúa trình vận động đều trải qua 3 giai đoạn, tồn
tại dưới ba hình thức và thực hiện ba chức năng.
Giai đoạn thứ nhất: Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường với tư cách
người mua, thực hiện hành vi T - H, tức là mua.
Giai đoạn thứ hai: Nhà tư bản tiêu dùng sản xuất các hàng hoáđã mua,
tức tiến hành sản xuất, kết quả là nhà tư bản cóđược một hàng hoá có giá trị
lớn hơn giá trị các yếu tố sản xuất ra hàng hoáđó.
Giai đoạn thứ ba: Nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán,
thực hiện hành vi H' - T', tức là bán.
a. Giai đoạn thứ nhất: T - H 4

T - H ởđây chỉ là hành vi mua bán thông thường, tiền tệđược sử dụng
làm phương tiện mua như mọi số tiền khác trong lưu thông. Tiền tuy làm
phương tiện mua nhưng phải mua được hàng hoá sức lao động và tư liệu
sản xuất nhằm mục đích sản xuất giá trị thặng dư. Hành vi T - H không
chỉđơn thuần biểu thị việc chuyển hoá một món tiền thành hàng hoá, mà
nóđã bước vào 9 giai đoạn vận động tuần hoàn của tư bản.
Hơn nữa, việc mua tư liệu sản xuất và sức lao động không những phải
phù hợp với loại sản phẩm cần chế tạo, mà phải tỉ lệ thích hợp với nhau về
số lượng. Tỉ lệđó nhằm bảo đảm cho quá trình sản xuất được tiến hành bình
thường và nhất làđể sử dụng được triệt để toàn bộ thời gian lao động của
công nhân. Nếu thiếu tư liệu sản xuất thì công nhân không không đủ việc

Hoàn thành quá trình này, giá trị tư bản đã trút bỏ hình thái tiền tệ và
mang hình thái các yếu tố của sản xuất TBCN: tư liệu sản xuất và sức lao
động, tức là hình thái tư bản sản xuất. Như vậy, kết quả của giai đoạn thứ 1'
là tư bản tiền tệ biến thành tư bản sản xuất.
b. Giai đoạn thứ hai: SX
Tư bản ứng ra mua hàng hoá sức lao động tư liệu sản xuất nhằm mục
đích thu về một tư bản có gía trị lớn hơn. Mục đích đó không thể thực hiện
được bằng cách bán ngay các hàng hoáđã mua mà chỉ có thểđạt được bằng
cách sử dụng các hàng hoáấy sản xuất ra một hàng hoá mới. Do đó, tiếp
theo giai đoạn thứ 1' (mua sức lao động và tư liệu sản xuất) tất yếu dẫn đến
giai đoạn thứ hai - giai đoạn sử dụng các hàng hoáđã mua, tức sản xuất.
Quá trình này có thể biển diễn như sau:
Slđ
Tlsx
Quá trình sản xuất ởđây diễn ra cũng giống như quá trình sản xuất
của mọi hình thái xã hội khác, là sự kết hợp của hai yếu tố sức lao động và
tư liệu sản xuất. Phương thức kết hợp đặc thù này không chỉ là kết quả, mà
còn là yêu cầu của sự vận động tư bản, qúa trình sản xuất vì vậy trở thành
một chức năng của tư bản, trở thành quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong khi thực hiện chức năng của mình, tư bản sản xuất tiêu dùng các
thành phần của nóđể biến thành một khối lượng sản phẩm có giá trị lớn
hơn. Kết quả là một hàng hoá mới được tạo ra khác cả về giá trị sử dụng và
lượng giá trị so với các hàng hoá cấu thành tư bản sản xuất. Hàng hoá mới
này là hàng hoá mang giá trị thặng dư, đã trở thành H', có giá trị bằng giá
trị của tư bản sản xuất hao phí ra nó cộng với gía trị thặng dư (m) do tư bản
sản xuất ấy đẻ ra. Nhờ vậy kết quả của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất
biến thành tư bản hàng hoá.
c. Giai đoạn thứ ba: H ' - T'
Sản xuất hàng hoá, tư bản chưa thể ngừng vận động nhà tư bản đang
tồn tại dưới hình thức hàng hoá, cần phải đem bán để thu tiền về.

Slđ
Tlsx

Trong công thức này, với tư cách là một giá trị, tư bản đã trải qua một
chuỗi biến hoá hình thái có quan hệ với nhau, qui định lẫn nhau; có bao
nhiêu biến hoá hình thái là có bấy nhiêu thời kỳ hay giai đoạn của quá trình
vận động từ tư bản. Trong giai đoạn đó, có hai giai đoạn thuộc lĩnh vực lưu
thông và một giai đoạn thuộc lĩnh vực sản xuất. Sự vận động của tư bản trải
qua đoạn, lần lượt mang ba hình thái rồi quay trở về hình thái ban đầu với
giá trị không chỉđược bảo tồn mà còn tăng lên, gọi là sự tuần hoàn của tư
bản.
Tuần hoàn của tư bản chỉ có thể tiến hành bình thường chừng nào các
giai đoạn khác nhau của nó không ngừng chuyển tiếp. Mặt khác, bản thân
sự tuần hoàn của tư bản lại làm cho tư bản phải nằm lại ở mỗi một giai
đoạn tuần hoàn trong một thời gian nhất định. Do đó, sự vận động tuần
hoàn của tư bản là sự vận động đứt quảng không ngừng. Chính trong sự
T
-

H

………s

n xu

t
……

G. đoạn III.
Hình thức tư bản
hàng hoá.
Chức năng thực
hiện giá trị và giá trị
th

ng d
ư
7

vận động mâu thuẫn đó mà tư bản tự bảo tồn, chuyển hoá giá trị và không
ngừng lớn lên.
2.1. Điều kiện để cho tuần hoàn TB được bình thường
Sự vận động của TB chỉ diễn ra bình thường khi các giai đoạn của
nóđược diễn ra liên tục, kế tiếp nhau. Mỗi sự gián đoạn ở bất kỳ giai đoạn
nào cũng khiến cho sự tuần hoàn này bịđình trị.
Mặt khác, TB phát tồn tại dưới cả ba hình thái là TB tiền tệ, TB sản xuất,
TB hàng hoá.
3.1. Các hình thái tuần hoàn của tư bản
Trong quá trình vận động trải qua 3 giai đoạn, tư bản lần lượt khoác
lấy các hình thái tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất, tư bản hàng hoá vàở mỗi
hình thái nó hoàn thành một chức năng thích hợp. Đó là tư bản công nghiệp
(công nghiệp với ý nghĩa bao quát mọi ngành sản xuất vật chất kinh
doanh). Tư bản công nghiệp là hình thái tồn tại duy nhất của tư bản với
chức năng không chỉ chiếm lấy giá trị thặng dư mà còn tạo ra giá trị thặng
dư.

nên hình như lưu thông đẻ ra giá trị lớn hơn và T' là mục đích đạt được
trong lưu thông nên hình như lưu thông đẻ ra giá trị lớn hơn, còn giai đoạn
sản xuất chỉ làkhâu trung gian. Do đó hình thái tuần hoàn của tư bản tiền tệ
là hình thái nổi bật nhất, đặc trưng nhất nêu rõ nhất động cơ, mục đích của
tuần hoàn của tư bản đồng thời cũng là hình thái phiến diện nhất, che giấu
nhất quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa.
b. Tuần hoàn của tư bản sản xuất có công thức:
SX H' - T' - H' SX
Nói lên sự hoạt động lắp đi lắp lại theo chu kỳ của tư bản sản xuất. Tư
bản hàng hoá trong tuần hoàn này cho thấy rõ nó là kết quả trực tiếp của
sản xuất, còn tư bản tiền tệ kết thúc sự thực hiện tư bản hàng hoá (H') - là
phương tiện mua, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho sản xuất, tức là chỉ
làm môi giới cho tư bản hàng hoá chuyển thành tư bản sản xuất. Tuần hoàn
này vạch rõ nguồn gốc của tư bản. Dù là tái sản xuất giản đơn hay tái sản
xuất mở rộng, nguồn gốc tư bản đều từ qúa trình sản xuất mà ra. Song tuần
hoàn này không biểu thị việc sản xuất giá trị thặng dư. Dù là sản xuất hay
sản xuất kết cục của nó chỉ xuất hiện dưới hình thái cần thiết để làm chức
năng tư bản sản xuất, thực hiện qúa trình tái sản xuất, nó không hề chỉ ra
mục đích của quá trình là làm tăng thêm giá trị. Do đó người ta dễ lầm rằng
mục đích của nó chỉ là sản xuất, trung tâm của vấn đề là cố gắng sản xuất
thật nhiều, thật rẻ, có trao đổi sản phẩm cũng chỉ là trao đổi sản phẩm để
sản xuất được liên tục.
c. Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, tư bản thương nghiệp là một bộ
phận của tư bản công nghiệp dưới hình thái tư bản hàng hoá tách ra. 9

Nóđược hình thành khi có một số thương nhân ứng tư bản tiền tệ ra đảm
bảo việc mua và bán hàng hoá cho tư bản công nghiệp nhằm mục đích thu

phản ánh hiện thực tư bản chủ nghĩa một cách phiến diện, làm nổi bật bản 10
chất này và che dấu bản chất khác sự vận động của tư bản công nghiệp. Do
đó, phải xem xét đồng thời cả 3 hình thái tuần hoàn mới nhận thức đầy đủ
sự vận động thực tế của tư bản, mới hiểu biết đúng đắn bản chất của mối
quan hệ giai cấp mà tư bản biểu hiện trong sự vận động của nó.
Trong thực tế, chỉ có sự thống nhất của 3 hình thái tuần hoàn thì qúa
trình vận động của tư bản mới có thể tiến hành liên tục không ngừng. Tuần
hoàn của tư bản chỉ tiến hành được bình thường khi cả ba giai đoạn chuyển
tiếp một cách trôi chảy. Nếu một giai đoạn nào ngừng trệ thì toàn bộ tuần
hoàn sẽ bị ngừng trệ. Song muốn đảm bảo tuần hoàn không ngừng của tư
bản, bảo đảm cho tư bản liên tục chuyển hoá hình thái qua các giai đoạn kế
tiếp nhau thì phải đủ hai điều kiện.
Thứ nhất, toàn bộ tư bản phải phân ra ba bộ phận, tồn tại đồng thời ở
cả ba hình thái.
Thứ hai, mỗi bộ phận tư bản ở mỗi hình thái khác nhau đều phải
không ngừng liên tục trải qua 3 hình thái. Hai điều kiện này quan hệ chặt
chẽ với nhau, ràng buộc lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau. Chỉ khi có sự sắp
xếp của các bộ phận tư bản tồn tại đồng thời ở cả 3 hình thái thì mới có sự
kế tục nhau của các bộ phận tư bản ấy. Vì vậy, tuần hoàn của tư bản trong
sự liên tục của nó không những là sự thống nhất của quá trình lưu thông và
quá trình sản xuất, mà còn là sự thống nhất của cả 3 tuần hoàn của nó nữa.
11
CHƯƠNG II. CHUCHUYỂN TƯBẢN
1.2. Khái niệm chu chuyển TB

- Thời gian gián đoạn lao động: Là thời gian đối tượng lao động hoặc
bán thành phẩm, chịu sự tác động của tự nhiên mà không cần lao động của
con người góp sức hoặc nếu có không đáng kể.
Thời gian lao động trực tiếp và thời gian gián đoạn lao động có thể
xen kẽ vào nhau, cũng có thể tách thành những thời kỳ riêng biệt tuỳ thuộc
từng ngành sản xuất cụ thể.
Thời gian gián đoạn lao động không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư.
Do đó, rút ngắn thời gian này là vấn đề cóý nghĩa hết sức quan trọng đối
với các xí nghiệp tư bản chủ nghĩa.
Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn do tác động của nhiều yếu
tố, chủ yếu là 4 nhân tố sau đây:
- Tính chất của ngành sản xuất.
- Sản phẩm sản xuất chịu sự tác động của quá trình tự nhiên dài
hay ngắn.
- Năng xuất lao động, trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật cao
hay thấp.
- Dự trữ sản xuất đủ, thiếu hay thừa.
Thời gian lưu thông của tư bản là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực
lưu thông. Trong thời gian lưu thông tư bản không làm chức năng sản xuất
do đó không sản xuất không sản xuất ra hàng hoá, cũng không sản xuất ra
giá trị thặng dư.
Thời gian lưu thông ngắn hay dài khiến cho quá trình sản xuất lắp đi
lắp lại nhanh hay chậm, khối lượng một tư bản nhất định làm chức năng ưt
bản sản xuất được nhiều lần hay ít lần do đó hiệu quả của tư bản, tức là
việc sản xuất ra giá trị thặng dư cao hay thấp.
Thời gian lưu thông gồm thời gian mua và thời gian bán, trong đó thời
gian bán quan trọng hơn và khó khăn hơn. Thời gian lưu thông dài hay
ngắn chủ yếu là 3 nhân tố: tình hình thị trường tốt hay xấu; khoảng cách thị
trường xa haygần; giao thông khó khăn hay thuận lợi, phương tiện giao
thông hiện đại hay thô sơ.

vòng chu chuyển của chúng cũng rất khác nhau. Trong lĩnh vực kinh tế
người ta phân chia các bộ phận tư bản thành tư bản cốđịnh và tư bản lưu
động.
a- TB cốđịnh là bộ phận TB sản xuất mà bản thân nó tham gia hoàn toàn
vào qúa trình sản xuất, nhưng GT thì lại không chuyển hết một lần, mà
chuyển dần từng phần một vào sản phẩm, ví dụ: nhà xưởng, máy
móc Trong sản xuất, những thứ này hao mòn dần đi và chỉ chuyển hết GT
của chúng vào sản phẩm sau một thời gian dài.
b- TB lưu động là bộ phận TB, khi tham gia vào quá trình sản xuất, nó
chuyển toàn bộ GT của nó sang sản phẩm. Đó là bộ phận tứ bản bất biến
dưới hình thái nguyên vật liệu, nhiên liệu Bộ phận TB khả biến có phương
thức chu chuyển giống như thế nên cũng được coi là chủ nghĩa TB lưu
động.
Sự khác nhau giữa TB cốđịnh và TB lưu động đôi khi chỉ là tương đối.
Lấy ví du như “con trâu”, đối với người nông dân thì con trâu là phương
tiện sản xuất, do đó nó là TB cốđịnh, song đối với các lò mổ thì con trâu là
“nguyên liệu sản xuất”, do đó nó là TB lưu động.
Sự phân chia tư bản thành tư bản cốđịnh và tư bản lưu động làđặc
điểm riêng của tư bản sản xuất. Căn cứ vào sự phân chia là phương thức
chu chuyển của tư bản. Tư bản cốđịnh chu chuyển chậm hơn tư bản lưu
động. Trong khi tư bản cốđịnh chu chuyển được 1 vòng thì tư bản lưu động
có thể chu chuyển được nhiều vòng hơn.
Xác định tư liệu sản xuất là tư bản cốđịnh hay tư bản lưu động phải
căn cứ vào chức năng của nó trong quá trình sản xuất. Trong quá trình sản
xuất tư bản cốđịnh bị hao mòn dần. Một chiếc máy từ chỗ mới nguyên vẹn
bị hao mòn dần trong quá trình sử dụng cuối cùng chỉ còn làđống sắt vụn.
Đó là hao mòn về mặt giá trị sử dụng. Đi đôi với hao mòn vật chất giá trị 15

những chi phí sửa chữa lớn có tính chất thay thế hay đổi mới tư bản cốđịnh
tính vào quĩ khâú hao TSCĐ.
CHƯƠNG IV 16
ÝNGHĨATHỰCTIỄNKHINGHIÊNCỨULÝTHUYẾTTUẦNHOÀNV
ÀCHUCHUYỂNCỦATƯBẢNĐỐIVỚIVIỆCQUẢNLÝCÁCDOANHN
GHIỆPỞNƯỚCTAKHIBƯỚCVÀONỀNKINHTẾTHỊTRƯỜNGCÓS
ỰQUẢNLÝCỦANHÀNƯỚC.
Tại Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đánh dấu một bước ngoặt quan
trọng cho nền kinh tế nước ta, từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Trước năm
1986 quan hệ ngoại giao của nước ta với các nước trên thế giới rất mờ nhạt,
chủ yếu quan hệ với một số nước anh em như: Liên Xô (cũ), Trung Quốc,
Bungari với mục đích tiếp tục nhận viện trợ . Nền kinh tế trong nước còn
đang yếu, các doanh nghiệp sản xuất theo lệnh từ cấp trên đưa xuống và
cũng chính Nhà nước tìm cách tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp bên
cạnh đó lạm phát luôn là mức phi mã. Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước các doanh nghiệp có trách nhiệm duy trì, bảo
tồn và phát triền nguồn vốn hiện có nghĩa là doanh nghiệp tự mình sản xuất
kinh doanh tìm "đầu vào" và "đầu ra" cho doanh nghiệp. Về phía Nhà nước
lúc này chỉ quản lý các doanh nghiệp ở tầm vĩ mô. Do đó nghiên cứu lý
thuyết thuần hoàn của tư bản rất cóý nghĩa đối với việc quản lý các doanh
nghiệp ở nước ta trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
1.4. Biện pháp nâng cao tốc độ chu chuyển của tư bản
Thứ nhất: xác định đường lối sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.
Hiện nay nước ta đang tồn tại song song 5 phần kinh tế. Cùng với sự
xuất hiện của những doanh nghiệp mới thành lập đã có rất nhiều doanh
nghiệp làm ăn không có hiệu quả dẫn đến phá sản. Ngay từ khi có quyết

vào kinh nghiệm sản xuất kinh doanh mà dự tính trước những công việc
bảo dưỡng, tiểu tu, trung tu, đại tu tài sản cốđịnh sau những khoảng thời
gian hoạt động nhất định, cũng như việc sửa chữa hư hỏng thông thường và
bất thường có thể xảy ra.
Ngoài ra, để tránh hao mòn vôích, nhất là hao mòn vô hình doanh
nghiệp phải ra sức tiết kiệm các chi phí bảo quản và sửa chữa bằng cách
nâng cao ý thức người lao động đối với việc sử dụng máy móc, tăng cường
sử dụng hết công suất máy thiết kếđể thu hồi vốn nhanh và thu nhiều lợi
nhuận trong thời gian ngắn nhất.
Thứ ba: đưa ra các giải pháp để tăng tốc độ chu chuyển vốn. 18
Muốn quay vòng vốn nhanh để tiếp tục một chu kỳ sản xuất mới các
doanh nghiệp phải ra sức rút ngắn thời gian sản xuất và thời gian lưu thông
vì nó là thành phần tạo nên thời gian chu chuyển của vốn. Các doanh
nghiệp ở nước ta trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
thường đưa ra những giải pháp sau đây để rút ngắn thời gian sản xuất.
+ Áp dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại để tăng năng suất lao động.
Bên cạnh việc nhập khẩu một số dây chuyền nước ngoài có công nghệ tiên
tiến các doanh nghiệp không nên bỏ qua những dây chuyền sản xuất có khả
năng sử dụng bằng cách bán lại cho những doanh nghiệp cần nó.
+ Mở rộng quan hệđể liên doanh, liên kết. Việt Nam là một trong
những nước nghèo nhất trên thế giới do đó liên doanh liên kết là con đường
ngắn nhất để bắt kịp với sự tiến bộ của xã hội.
+ Cải tiến bộ máy tổ chức và quản lý lao động. Hiện nay một số
doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu tổ chức quản lý cồng kềnh dẫn đến giải
quyết công việc bị chồng chéo lên nhau,vi phạm quyền hạn và trách nhiệm
của người này với người khác. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải giảm lực
lượng lao động gián tiếp không có năng lực để bộ máy được gọn nhẹ linh

các nhà quản trị tận dụng cơ hội đểđầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
2.4. Vốn- Vai trò của việc quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả
Việc quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả là một chìa khoá quan trọng
cho thành công của các doanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói
chung. Tuy nhiên, do có những hạn chế nhất định cho nên tiểu luận này chỉ
nghiên cứu về vốn, việc quản lý và sử dụng vốn ở phương diện vĩ mô.
Để thấy được vai trò của việc quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả, chúng ta
nhìn lại nền kinh tế nước ta thời kỳ kế hoạch hoá tập trung. Với tham vọng
mau chóng xây dựng một nền kinh tế PT “toàn diện tự chủ”, trong đó công
nghiệp hiện đại, giao thông, bưu điện, thương nghiệp quốc doanh tiên
tiến , các nhà hoạch định chính sách đãđưa ra chiến lược “ưu tiên PT
công nghiệp nặng”. Như chúng ta đã biết, công nghiệp nặng là ngành đòi
hỏi phải có một lượng TB ứng trước lớn, thời gian chu chuyển của TB
cốđịnh rất dài, do đó hiệu quả TB đương nhiên không cao và hiệu quả kinh
tế thu được rất chậm. Trong điều kiện nước ta lúc bấy giờ, nền kinh tế tăng
trưởng chậm, lạm phát tăng, vốn đầu tư hầu hết chỉ dựa vào ngân sách quốc
gia. Do nguồn vốn ít ỏi, thực lực kinh tế còn yếu cho nên nhà TB đã không
đầu tư vào các ngành có thời gian chu chuyển ngắn hay tốc độ chu chuyển
nhanh. Chính vì sai lầm này, mọi nguồn lực đều bị sử dụng vô tội vạ, các 20
nguồn vốn tài trợ đều được đổ vào công nghiệp nặng bất chấp hiệu quả,
bất chấp quy luật cung cầu. Hậu quả là ngân sách nhà nước cạn kiệt, nợ
nước ngoài chồng chất, lạm phát tăng, hệ thống công nghiệp nặng đồ sộ
không còn được nuôi dưỡng bỗng chốc trở thành gánh nặng kinh tế.
Như vây, việc quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả là hết sức quan trọng,
đặc biệt là trong việc xác định mục tiêu và hoạch định chiến lược PT kinh
tế, từđó có chiến lược huy động vốn và sử dụng vốn thích hợp. Nước ta
hiện nay đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, với một nền 22
TÀILIỆUTHAMKHẢO 1. C.Mác tư bản quyển 2 - Tập 1
2. C.Mác tư bản quyển 2 - Tập 2
3. Chính sách cổ phần hoá DNNN (NXB chính trị quốc gia 1997)
4. Một số văn kiện Đại hội Đảng VIII
5. Giáo trình “Kinh tế chính trị” tập II - Trường ĐH KTQD
6. Tạp chí “Tài chính tiền tệ” số 2, 05, 18 năm 1999
7. Tạp chí “Phát triển kinh tế” các số: 20-22/2000
8. Tạp chí “Ngân hàng” số 4/2000
9. Tạp chí “Doanh nghiệp” số 8/2000


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status