68
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài
:
DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ – GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
VÀ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI QUỐC DOANH VIỆT NAM
Sinh viên : Hà Duy Tiến
nghiêm trọng. Các nhà kinh tế cũng như các nhà quản lý trên thế giới trên thế
giới đặc biệ
t quan tâm, nghiên cứu đến lĩnh vực tài chính nói chung và hệ
thống ngân hàng nói riêng.Việt Nam hiện nay đang trong quá trình chuyển đổi
nền kinh tế tiến tới công nghiệp hoá,hiện đại hoá. Đảng và nhà nước ta luôn
có chủ trương huy động mọi nguồn lực, nguồn vốn phục vụ cho sự nghiệp
phát triển kinh tế xã hội trong đó nguồn vốn trong nước là quyết định, nguồn
vốn ngoài nước là rất quan trọng, nguồn vố
n hỗ trơ phát triển ODA cần được
sự quan tâm đặc biệt. Đảng và nhà nước cũng chủ trương phát triển kinh tế
hướng vào xuất khẩu. Tất cả cho thấy mối quan hệ kinh tế với nước ngoài là
đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh ở nước ta. Mà mối quan hệ này
muốn tồn tại và phát triển thì phải nhờ vào các dịch vụ ngân hàng quốc tế. Do
vậy việc nghiên cứu về d
ịch vụ ngân hàng quốc tế ở các ngân hàng quốc
doanh ở Việt nam là rất cần thiết.
Khoá luận tốt nghiệp này tập trung vào hệ thống hoá vấn đề lý luận,
làm rõ bản chất vai trò và lợi ích của dịch vụ ngân hàng quốc tế. Từ lý luận
dẫn đến đánh giá khách quan hoạt động ngân hàng quốc tế ở các ngân hàng
thương mại quốc doanh Việt nam. Khoá luận này không tập trung vào việc
mô tả qui trình nghiệp vụ
, mà chủ yếu phân tích dữ liệu nhằm mục đích giải
70
thích được vấn đề: Tại sao một số dịch vụ có tồn tại nhưng chưa phát triển,
một số khác có phát triển nhưng chưa đạt được trình độ quốc tế, từ đó đưa ra
những giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện và phát triển hoạt động ngân hàng
quốc tế ở các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam.
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
I . TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
1. Đôi nét về lịch sử ngân hàng và dịch vụ ngân hàng
Thuật ngữ "ngân hàng" đã có từ lâu. Tại thành Athène (Hylạp), các
nhà đổi tiền được gọi Trapezita - bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "Trapeza"có
nghĩa là cái bàn. Hoạt động mua bán, trao đổi, vay tiền được tiến hành trên
các ghế dài gọi là Banca. Đây cũng là nguồn gốc tạo các từ Banque (Pháp),
Bank (Anh, Mỹ, Đức), Banco (Italia)…. có nghĩa là ngân hàng sau này.
Ngân hàng liên tục phát triển theo điều kiện kinh tế xã hội. Các nghiệ
p
vụ ngân hàng đơn giản đã xuất hiện từ thời thượng cổ. Dưới thời Trung cổ,
các hoạt động ngân hàng được mở rộng tại khắp các nước Châu Âu, Trung
đông, Trung Hoa. Tuy hoạt động ngân hàng xuất hiện từ lâu, nhưng mãi đến
đầu thế kỷ XV (1401), mới có một cơ quan trên thế giới được xem là một
ngân hàng thực sự, đó là Banca di Barcelone ở Tây ban nha. Và sau đó ít năm,
ngân hàng Banca di Valencia cũng đựơc thành lậ
p ở Tây ban nha. Hai ngân
hàng này được coi là hai ngân hàng đầu tiên trên thế giới đã thực hiện phần
lớn các nghiệp vụ của ngân hàng hiện nay tuy qui mô và mức độ có khác
nhau. Trước thế kỷ 17 hoạt động ngân hàng chỉ là buôn tiền, cho vay nặng lãi
là chủ yếu và khách hàng chính là vua chúa và tầng lớp quí tộc giàu sang.
Năm 1557 vua chúa các nước Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha nhất loạt
tuyên bố không trả nợ làm cho hàng loạt ngân hàng phá sản
Do không chịu mức lãi suất cao quá mức, các nhà tư bản nông, công,
thương nghiệp hùn vốn với nhau lập ra các ngân hàng, hội tín dụng để cho
vay vốn với mức lãi suất có thể chấp nhận được. Loại ngân hàng này xuất
hiện ở Vienise (Italia) năm 1589, Milan (Italia) năm 1593, Asmterdam (Hà
một loại tiền hay tài sản thì được thanh toán chuyển nhượng lẫn nhau trong
mua bán giữa họ ở cùng một ngân hàng và kể cả đối tác ở ngân hàng khác, và
nợ đáo hạn được bù trừ.
73
♦ Nghiệp vụ chuyển ngân, tức là chuyển tiền từ nơi này sang nơi khác
cũng được áp dụng.
♦ Ngân hàng cũng làm nghiệp vụ bảo lãnh, là biểu hiện ban đầu của
hình thức chấp nhận các thương phiếu trong nghiệp vụ ngân hàng hiện đại
♦ Ngân hàng đã áp dụng chiết khấu thương phiếu.
Giai đoạn thứ ba: Ngân hàng đánh dấu sự phát triển vào giai đoạn th
ứ
ba với việc mạnh dạn cho vay tiền, tạo ra các khoản tiền mới trong lưu thông.
Ngân hàng từ lâu đã phát hành các chứng thư (như séc ngày nay) khi có người
gửi vào ngân hàng bằng tiền vàng hoặc tiền đúc - 100 tiền ngân hàng thay cho
100 tiền vàng đúc. Tuy nhiên vào cuối thế kỷ XVII khi chứng thư được chấp
nhận rộng rãi và nhu cầu tăng đột ngột, một số ngân hàng đã phát hành các
chứng thư tự do (không có tiền vàng bảo đả
m) và tiền ngân hàng ra đời. Tuy
nhiên tiền ngân hàng (Bank notes) chỉ được lưu hành rộng rãi từ đầu thế kỷ
XX sau khi nhà nước độc quyền phát hành giấy bạc pháp định. Ngày nay do
sự phát triển về kinh tế, đặc biệt là khoa học công nghệ, dịch vụ ngân hàng đã
phát triển về mọi mặt và ra đời những loại sử dụng công nghệ cao như thanh
toán bằng thẻ điện tử, ứng dụng mạng SWIFT…
Do s
ự đa dạng của dịch vụ ngân hàng nên không thể có định nghĩa cụ
thể, thống nhất về dịch vụ ngân hàng. Hiểu nôm na dịch vụ ngân hàng nói
chung là tất cả những việc mà ngân hàng thường làm trong khuôn khổ nghề
nghiệp của họ.
2. Lịch sử phát triển của dịch vụ ngân hàng quốc tế
các nước tư bản khác như Canada và đặc biệt là Nhật cũng giành được những
thành tựu kinh tế quan trọng. Lẽ tất yếu khi kinh tế phát triển kéo theo việc
các ngân hàng của các quốc gia công nghiệp hoá, đặc biệt là ngân hàng các
nước Canada, Nhật bản, Đức, Anh, Pháp c
ũng theo gương của các Ngân hàng
Hoa kỳ ra sức mở rộng nghiệp vụ của mình ra nước ngoài trong thập kỷ 70.
Lịch sử ngân hàng gọi đây là làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế
thứ hai.
Bên cạnh làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng ồ ạt của các nước tư
bản, có một làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ ba của các nước đang
phát triển diễn ra bình lặng vào cuối thậ
p kỷ 70.
Làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ tư bắt đầu bằng sự kiện ra
75
đời đạo luật nhất thể hoá châu Âu ban hành vào năm 1986; trong đó Cộng
đồng Châu Âu xoá bỏ mọi rào chắn đối với luồng vốn quốc tế. Điều này tạo
điều kiện cho dịch vụ ngân hàng quốc tế phát triển mạnh mẽ về chất lượng và
số lượng và vì vậy các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mang tính toàn cầu hoá.
76
3. Bản chất dịch vụ ngân hàng quốc tế
3.1. Định nghĩa dịch vụ ngân hàng quốc tế
Phần trên đã cho thấy một bức tranh tổng quát về dịch vụ ngân hàng và
dịch vụ ngân hàng quốc tế nói chung, nhưng để xây dựng định nghĩa dịch vụ
ngân hàng quốc tế cần:
♦ Căn cứ phân biệt nghiệp vụ ngân hàng quốc tế và nghiệp vụ ngân
hàng trong nước là lo
ại hoạt động kinh doanh mà ngân hàng cung cấp cho
khách hàng của họ có tính quốc tế hay không. Điều này được giải thích bởi ba
lời.
Việc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, các ngân hàng
thương mại tổ chức bằng hai phương thức sau:
Tiến hành các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại nước ngoài bằng
cách thiết lập các chi nhánh, công ty con, văn phòng đại diện. v.v ở nước
ngoài.
Tổ chức một bộ phận kinh doanh quốc tế được chuyên môn hoá
tại trụ sở chính để thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
3.2. Đặc điểm nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
Mặc dù ngày nay dịch vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại
phát triển đa dạng về hình thức cũng như nội dung, tuy nhiên sau khi nghiên
cứu về học thuật cũng như quá trình vận động phát triển của nó, chúng ta rút
ra những đặc điểm chung như
sau:
Xu thế gia tăng nhanh hơn mức tăng tiềm lực sản xuất: Như đã
trình bày trong phần lịch sử phát triển, ngày nay xu thế quốc tế hoá hoạt động
ngân hàng đang diễn ra mạnh mẽ. Trong lĩnh vực kinh doanh và sản xuất
hàng hoá cũng diễn ra xu thế toàn cầu hoá nhưng thực tế cho thấy mức độ
thấp hơn của thị trường tài chính. Hàng ngày, lượng tiền tệ
lưu chuyển trên thị
trường tài chính thế giới cao gấp 30 lần khối lượng hàng hoá lưu chuyển trên
phạm vi toàn cầu. Đối với các nước đang phát triển, chỉ trong 8 năm (1990-
1997), dòng vốn đầu tư tư nhân đổ vào tăng hơn 5 lần. Trong khi mậu dịch
quốc tế của giai đoạn này chỉ tăng 5%/năm thì dòng vốn tư nhân lưu chuyển
tăng 30%/ năm.
78
Dịch vụ ngân hàng quốc tế đề cao nhân tố con người: Đặc điểm
này do đặc điểm kinh doanh quốc tế hiện nay tạo ra. Ngày nay, do sự phát
triển mạnh mẽ về khoa học công nghệ và kinh tế cũng như sự phức tạp của
của dịch vụ
79
ngân hàng quốc tế quyết định. Do sự phức tạp trong môi trường hoạt động
kinh doanh quốc tế, do sự không thống nhất về luật pháp giữa các quốc gia,
do trình độ phát triển không đồng đều mà đòi hỏi phải có luật pháp quốc tế,
thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi và an toàn cho các ngân hàng thực
hiện dịch vụ ngân hàng quốc tế.
3.3 Động cơ tiế
n hành dịch vụ ngân hàng quốc tế
Động cơ dễ hiểu nhất là mong muốn theo đuổi các khách hàng
khi các khách hàng của họ thực hiện hoạt động ra nước ngoài. Đây là một
nguyên lý Marketing truyền thống “theo chân khách hàng”. Các công ty của
Mỹ những năm 60, 70 của Nhật và châu Âu trong thập niên 70 hăng hái mở
rộng hoạt động ra nước ngoài thì các ngân hàng của họ cũng theo sau. Động
cơ này có phần mang tính phòng vệ, bởi vì các ngân hàng muốn duy trì và
củng c
ố các mối quan hệ với các khách hàng và muốn chứng tỏ một điều là họ
có kiến thức và chất lượng phục vụ cao hơn các ngân hàng địa phương.
Động cơ khác thúc đẩy các ngân hàng mở rộng ra quốc tế là
nhằm đa dạng hoá cơ sở kinh doanh của họ. Các ngân hàng đầu tư vào các
khoản cho vay có đặc tính khác với các khoản vay nội địa. Loại nhu cầu về
các khoản vay nước ngoài có thể
bù đắp các biến động về nhu cầu khoản vay
nội địa vì vậy có tác dụng làm bình ổn thu nhập của ngân hàng. Hơn thế nữa
nhờ đa dạng hoá kinh doanh mà làm thu nhập ngân hàng tăng, khả năng cạnh
tranh mạnh, phân tán được rủi ro, thiết lập nhiều quan hệ kinh doanh tạo tiền
đề thực hiện đầu tư kinh doanh sau này.
4. Các hình thức tổ chức nghiệp vụ ngân hàng quốc tế và vai trò của các
trung tâm tài chính quốc tế
chi nhánh thực hiện kinh donh nghiệp vụ ngân hàng bán sỉ dựa chủ yếu vào
các khoản tiền gửi mua từ hệ thống ngân hàng quốc tế được biết đến như là
thị trường liên ngân hàng. Họ không thể phát triển một cơ sở tiền g
ửi địa
phương. Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài vừa chịu sự điều chỉnh của luật
ngân hàng trong nước vừa chịu sự điều chỉnh của luật ngân hàng nước ngoài
mà nó mở chi nhánh.
Ở một số quốc gia, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị
cấm, ở một số quốc gia khác người ta không muốn lập chi nhánh vì có rủi ro
sung công. Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài thường được mở tại các trung
tâm tài chính và thương mại của thế giới.
81
Ngân hàng con ở nước ngoài: Ngân hàng con ở nước ngoài là một
định chế độc lập do ngân hàng mẹ sở hữu hoàn toàn hoặc gần như sở hữu
hoàn toàn để phù hợp với luật pháp của nước ngoài. Ngân hàng con ở nước
ngoài hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả
hoạt động kinh doanh của mình.
Ngoài ra còn hình thức Ngân hàng con ở nước ngoài nhưng ngân hàng
mẹ không kiểm soát chúng (ngân hàng m
ẹ chỉ đóng góp một phần vốn tối
thiểu, không đủ giành quyền kiểm soát). Nói chung, ngân hàng con ở nước
ngoài chịu sự điều chỉnh của luật pháp nước sở tại và hầu như không chịu
ảnh hưởng của luật pháp tại nước mà ngân hàng mẹ đặt trụ sở chính.
Trong thời gian gân đây, các ngân hàng kinh doanh quốc tế có xu
hướng mua các ngân hàng con thay vì lập chi nhánh ở nước ngoài. Việc sở
hữu một ngân hàng con, trách nhi
ệm của ngân hàng mẹ chỉ giới hạn trong số
vốn đầu tư vào ngân hàng con thấp hơn giới hạn trách nhiệm của ngân hàng
mẹ đối với chi nhánh mới thành lập. Ngoài ra việc lập chi nhánh cũng rất tốn
các IBF, ý đồ chính của Fed là nhằm thu họat động này trở lại Mỹ. IBF tạo ra
cho các ngân hàng môi trường tương đối tự do giống như môi trường các chi
nhánh và ngân hàng trực thuộc của họ đã gặ
p ở nước ngoài. Không có các quy
định dự trữ hay các hạn chế lãi suất nào đối với tiền gửi của người nước
ngoài, không phải bảo hiểm cho các khoản tiền gửi và tránh được những đánh
giá liên quan đến bảo hiểm. Phần lớn các tài sản của IBF bao gồm các khoản
cho vay đối với các doanh nghiệp, chính phủ và ngân hàng trung ương nước
ngoài với mục đích sử dụng ngoài nước Mỹ. Nguồn vốn c
ủa họ là từ các
khoản vay liên ngân hàng của các tổ chức quốc tế , các chính phủ và các cơ
quan nước ngoài
4.2. Vai trò của các trung tâm tài chính quốc tế
4.2.1. Đặc điểm và các loại hình trung tâm tài chính quốc tế
Trung tâm tài chính quốc tế là địa điểm có mật độ cao các trụ sở của
các ngân hàng hoạt động kinh doanh quốc tế, bất kể ngân hàng đó thuộc sở
hữu của quốc gia nào. Các trung tâm tài chính có 3 đặc điểm quan trọng sau :
Tại các trung tâm tài chính quốc tế, các ngân hàng quốc tế giao
dịch với nhau bằng đồng tiền nước ngoài chứ không phải bằng đồng tiền của
83
nước chủ nhà. Bởi vậy các giao dịch tài chính ở trung tâm tài chính không
liên quan trực tiếp tới hệ thống ngân hàng nội địa.
Các ngân hàng quốc tế hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc
tế nói chung được miễn thuế và không chịu sự quản lý ngoại hối như đối với
các thị trường tài chính nội địa.
Hoạt động tài chính tại các trung tâm tài chính quốc tế chủ yếu
diễn ra giữa các khách hàng là ng
ười không cư trú (mặc dù không phải là độc
quyền).
Trung tâm quỹ (như Singapore, Hongkong)
Trung tâm quỹ đóng vai trò như trung gian tài chính hướng nội, đóng
vai trò như kênh dẫn vốn từ bên ngoài vào trong nước hay khu vực. Ngày nay
Singapore và Hongkong đã phát triển thành trung tâm tài chính phát triển có
thể
đua tranh với các trung tâm tài chính chủ chốt như London, New York, và
Tokyo.
Trung tâm tập hợp tài chính (như Bahrain)
Trung tâm tập hợp tài chính chủ yếu liên quan đến trung gian tài chính
hướng ngoại. Các quốc gia ở khu vực gần Trung tâm tập hợp tài chính huy
động được nhiều vốn nhưng năng lực sử dụng vốn kém. Nguồn tài chính
thặng dư được tích luỹ ở trung tâm tập hợp tài chính sẽ được các tổ chức tài
chính quốc tế đầu tư vào các khu v
ực khác trên thế giới.
Trung tâm tài chính quốc tế ở các nước đang phát triển
Từ thập niên 70, nhiều trung tâm tài chính nước ngoài đã được thiết lập
ở các quốc gia đang phát triển như Singapore, Hongkong, Philippines,
Bahrain, Egyp, Panama Trong những năm gần đây, các trung tâm tài chính
quốc tế đã được xây dựng tại các nước công nghiệp hóa mới nổi như Malaysia
và Thái Lan.
• 4.2.2. Vai trò của các trung tâm tài chính quốc tế
Trung tâm tài chính quốc tế đóng vai trò quan trọng trong hoạt động
ngân hàng và tài chính quốc tế. Sau đây là một số vai trò của trung tâm tài
chính quốc tế:
1. Đa dạng hoá mạng lưới ngân hàng quốc tế: Hiện nay các trung tâm
tài chính quốc tế là tụ điểm các giao dịch kinh doanh của các ngân hàng quốc
tế. Trong các trung tâm này, các ngân hàng quốc tế chủ chốt hiện diện dưới
85
các hình thức khác nhau. Với các ngân hàng không có mạng lưới ở nước
hàng, trong khi những ngân hàng khác sử dụng nguồ
n tiền thặng dư để tài trợ
86
hoạt động tín dụng quốc tế. Trung tâm tài chính quốc tế là môi trường thuận
lợi cho người vay và người đầu tư trong vùng gặp nhau.
4. Tạo ra môi trường pháp lý dễ chịu: Nhà cầm quyền tại các trung tâm
tài chính đã cho phép các ngân hàng quốc tế không chịu các gánh nặng về
thuế, những đòi hỏi về tỷ lệ vốn khả dụng cũng như dự trữ bắt buộc. Các
ngân hàng quốc tế cũng được phép huy động và sử dụng nguồn vốn quốc tế
tạm thời nhàn rỗi để đầu tư mà không bị kiể
m soát về ngoại hối cũng như về
tiền tệ. Thị trường liên ngân hàng cung cấp cho họ cơ hội đầu tư nguồn vốn
thặng dư một cách dễ dàng và với rủi ro thấp nhất.
Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ thuận lợi cho các hoạt động ngân
hàng mà còn thuận lợi cho các các hoạt động khác nhờ những ưu điểm hiển
nhiên của nó. Trung tâm tài chính là nơi đóng trụ sở
của các công ty con của
các công ty đa quốc gia. Các công ty con này có được môi trường pháp lý
thuận lợi hơn so với môi trường pháp lý tại chính trụ sở chính của công ty
mẹ.
II. MỘT SỐ NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ngoài việc thành lập các tổ chức ngân hàng ở nước ngoài nhằm thực
hiện các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, các ngân hàng hoạt động kinh doanh
quốc tế còn tổ chức tại trụ sở chính hoặc các chi nhánh trong nước các đơn vị
chuyên biệt tiến hành các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Các nghiệp vụ ngân
hàng quốc tế này có thể khái quát thành 3 nhóm như sau:
khoản của một ngân hàng nước ngoài gửi ở ngân hàng đị
a phương bằng tiền
nước ngân hàng địa phương. Ví dụ ngân hàng Bank of America có tài khoản
VND tại ngân hàng Vietcombank thì đó là tài khoản Vostro.
Mục đích của hai loại tài khoản này là thực hiện thanh toán bù trừ và
chuyển tiền quốc tế.
1.2. Ngân hàng đại lý
Hai ngân hàng được coi là ngân hàng đại lý của nhau nếu hai ngân hàng
cùng duy trì tài khoản ngân hàng đại lý với nhau.
Các ngân hàng trở thành các ngân hàng đại lý của nhau khi phát sinh
nhu cầu thanh toán cho khách hàng của ngân hàng tại nơi mà ngân hàng của
họ không có chi nhánh. Các khách hàng của ngân hàng thường yêu cầu ngân
hàng cung cấp các d
ịch vụ tài chính tại bất cứ nơi nào trên thế giới. Trên lý
thuyết thì điều này có thể thực hiện được qua ngân hàng chi nhánh. Tuy
nhiên, trên thực tế là không thể vì rất tốn kém và gặp khó khăn về chính trị
văn hoá …ở nhiều nước. Mối quan hệ ngân hàng đại lý đem lại lợi ích rất lớn
88
cho ngân hàng bởi vì ngân hàng có thể phục vụ các công ty với chi phí rất
thấp và không cần đội ngũ nhân sự cũng như cơ sở vật chất ở nước ngoài, do
vậy có thể phục vụ khách hàng ở rất nhiều nơi trên thế giới. Điều bất lợi đối
với các khách hàng, các công ty, là họ không nhận được chất lượng dịch vụ
thông qua các ngân hàng đại lý như họ đã nhận
được từ chính ngân hàng của
họ.
Tuy nhiên, không phải tất cả các loại giao dịch liên ngân hàng nào
cũng là dịch vụ ngân hàng đại lý. Nhiều nghiệp vụ giữa các ngân hàng không
được coi là dịch vụ ngân hàng đại lý bởi vì nó không đòi hỏi mối quan hệ liên
ký thác. Dịch vụ lưu ký bao gồm việc xuất, nhập chứng khoán, chuyển giao
chứng khoán, bảo qu
ản chứng khoán trong kho, kế toán chứng khoán, giúp
khách hàng nhận cổ tức và thực hiện quyền cổ đông. Các ngân hàng thực hiện
nghiệp vụ lưu ký tại các quốc gia khác nhau gọi là ngân hàng siêu lưu ký, các
ngân hàng này cũng mua, bán, phân phối chứng khoán khi được khách hàng
tín thác.
Vai trò cơ bản của dịch vụ lưu ký là giảm thiểu rủi ro thanh toán và rủi
ro hoạt động mà các nhà đầu tư phải đối mặt trong tất cả các loại chứng
khoán. Dịch v
ụ lưu ký có thể đạt được bằng cách thực hiện thanh toán giao
dịch chứng khoán nhanh chóng, chính xác và vì vậy giảm thiểu khả năng rủi
ro trong giao dịch. Ngoài ra các ngân hàng làm dịch vụ lưu ký còn thu nhận
cổ tức nhân danh nhà đầu tư, thực hiện các yêu cầu hoàn lại tiền thuế cũng
như các hoạt động khác. Dịch vụ lưu ký còn phục vụ các nhu cầu thông tin
thị trường cho các khách hàng.
Các dịch vụ lưu ký đã là mộ
t trong những sản phẩm ngân hàng quốc tế
phát triển trong thời gian gần đây. Dịch vụ này đã phát triển cùng với việc
mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong thập kỷ vừa qua, người ta đã
ước tính rằng vào những năm đầu thập niên 90, giá trị chứng khoán nằm trong
tay các tổ chức thực hiện dịch vụ lưu ký toàn cầu xấp xỉ khoảng 600 tỷ USD
đế
n 800 tỷ USD. Dịch vụ lưu ký là một nghiệp vụ phổ biến của ngân hàng
bởi vì đó là dịch vụ thu phí, khách hàng ổn định và cần ít vốn. Tuy nhiên dịch
vụ lưu ký hiện nay là một lĩnh vực cạnh tranh hết sức gay gắt.
1.4. Dịch vụ séc du lịch
90
Với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch quốc tế, các ngân hàng thương
t định, trả tiền sau mà ngân hàng cho phép căn cứ vào khả năng tài chính,
91
số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của chủ thẻ. Như vậy, về bản chất kinh tế,
thẻ tín dụng chính là sự vay mượn tiền của chủ thẻ đối với ngân hàng với một
số điều kiện đảm bảo của ngân hàng như: tài khoản của chủ thẻ (nếu có), hợp
đồng sử dụng thẻ, tài sản thế ch
ấp Tuy nhiên chủ thẻ chỉ sử dụng được thẻ
tại những nơi nhất định (đại lý chấp nhận thẻ, ngân hàng đại lý).
Việc cung cấp các dịch vụ thẻ tín dụng cho khách hàng, ngân hàng có
hai cách lựa chọn như sau:
- Ngân hàng có thể trở thành một thành viên với một nhóm các ngân
hàng cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng hoặc đóng vai trò như một đại lý;
- Ngân hàng cũng có thể phát hành thẻ của riêng ngân hàng nhưng họ
phải thu hút được đủ những người cung cấp hàng hoá và dịch vụ, và phải có
nhóm người giữ thẻ đủ lớn để những người cung cấp hàng hoá và dịch vụ
quen thuộc với phương thức đó. Dịch vụ thẻ tín dụng đòi hỏi phải có khối
lượng khách hàng đủ lớn, nếu ngân hàng muốn thu được lợi nhuận.
1.5.2. Các loại thẻ thanh toán quốc tế tiêu biểu hiện nay
Th
ẻ Diners Club là loại thẻ du lịch và giải trí do tổ chức thẻ tự phát
hành năm 1949 tại Mỹ. Vào năm 1960 nó là loại thẻ trước tiên có ở Nhật
Thẻ American Express (thẻ Amex) do Tổ chức thẻ American Express
phát hành lần đầu dưới tên Green Amex, không hạn mức tín dụng, chủ thẻ
được chi xài và có trách nhiệm trả một lần vào cuối tháng. Năm 1987 Amex
cho ra đời thêm 3 loại thẻ mới Amex Gold, Platium và Optima có hạn mức tín
dụng tuần hoàn. Hiện nay
đây là tổ chức thẻ du lịch và giải trí lớn nhất thế
giới, tổ chức này tự phát hành và quản lý chủ thẻ, không cấp giấy phép thành
Chủ thẻ Là người có tên trên thẻ do Ngân hàng phát hành thẻ cấp và
được quyền sử dụng thẻ. Ch
ỉ có chủ thẻ mới sử dụng thẻ của mình mà thôi.
Chủ thẻ có thể yêu cầu cấp thêm cho người thân thẻ phụ.
Cơ sở chấp nhận thẻ là các đơn vị bán hàng hoá, dịch vụ như cửa
hàng, khách sạn, nhà hàng…. Có kí hợp đồng với ngân hàng thanh toán thẻ để
chấp nhận thanh toán.
1.6. Dịch vụ thanh toán quốc tế
1.6.1. Dịch vụ chuyển tiền (Remittance)
Chuyển tiền là phương th
ức thanh toán trong đó một khách hàng của
ngân hàng yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho