Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Việc áp dụng UCP 500, ICC trong “Phương thức tín dụng chứng từ” – Thực trạng và biện pháp” doc - Pdf 95


1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
*** KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:

VIỆC ÁP DỤNG UCP 500, ICC 1993 TRONG PHƯƠNG THỨC
TÍN DỤNG CHỨNG TỪ - THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP. Người thực hiện : Trần Thị Thu Hằng
Lớp : A2 - CN9
Giáo viên hướng dẫn: TS. Phạm Duy Liên
Hà Nội, tháng 5/2003

LỜI MỞ ĐẦU


tổng cầu và thu nhập của mỗi quốc gia.

3
Do vậy, xuất phát từ lợi ích kinh tế, và mỗi cá nhân đều cần quan tâm
nghiên cứu quan hệ kinh tế quốc tế và những tác động của quan hệ này. Đương
nhiên quan hệ quốc tế là bộ phận cầu nối và hạt nhân quan trọng của quan hệ
kinh tế quốc tế. Khi tìm hiểu về thương mại quốc tế, chúng ta buộc phải có
những hiểu biết nhất định về các vấn
đề tiền tệ, tài chính và thanh toán quốc tế.
Đó là lẽ đương nhiên, bởi vì nếu thương mại là cầu nối cho sự liên hệ của cộng
đồng thế giới, thì tiền tệ và thanh toán quốc tế là công cụ để nó thực hiện chức
năng cầu nối này.
Một phương thức thanh toán quốc tế được phổ biến rộng rãi nhất trong
thương mại quốc tế là Phương thức thanh toán tín d
ụng chứng từ. Việc sử dụng
phương thức thanh toán này tuy phức tạp nhưng lại thoả mãn lợi ích của cả hai
bên xuất khẩu và nhập khẩu, thông qua ngân hàng, người nhập khẩu có được sự
bảo đảm cho quyền sở hữu lô hàng nhập khẩu và ngược lại người xuất khaảu có
được sự bảo đảm cho việc nhận đủ số tiền của lô hàng xuất khẩu. Vì kh
ối lượng
thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ ngày càng rộng lớn, do đó
Phòng Thương mại quốc tế tại Paris – ICC (International Chamber of
Commerce) đã ban hành Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ,
viết tắt là UCP (Uniform Customs and Practice for Documentary Credit) vào
năm 1993 nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa người nhập khẩu, người xuất
khẩu và các ngân hàng có liên quan trong phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ. Bả
n quy tắc này có hiệu lực từ 01/01/1994 sửa đổi từ điều luật ban
hành năm 1983, và thường biết đến là UCP 500.
Để có điều kiện hiểu sâu hơn về Phương thức thanh toán tín dụng chứng

CHƯƠNG I

PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN
TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ HIỆN NAY

I> THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN
QUỐC TẾ TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ.

1. THANH TOÁN QUỐC TẾ LÀ GÌ?

- Thanh toán quốc tế là việc thanh toán giữa các nước với nhau về những
khoản tiền nợ lẫn nhau phát sinh từ những quan hệ giao dịch về kinh tế,
tài chính, chính trị, văn hoá Chủ thể trong thanh toán quốc tế có thể là
thể nhân, pháp nhân hoặc chính ph
ủ của các nước.
- Thanh toán quốc tế là chức năng ngân hàng quốc tế của ngân hàng
thương mại. Nó được hình thành và phát triên cơ sở phát triển ngoại
thương của 1 nước và ngân hàng thương mại được nhà nước giao cho độc
quyền làm công tác thanh toán này. Do vậy các giao dịch thanh toán
trong ngoại thương đều phải thông quan ngân hàng. Nghiệp vụ này đã tạo
sự hoà hợp hệ thống ngân hàng Việt nam vào hệ thống ngân hàng thương
mại thế gi
ới, tạo sự an toàn hiệu quả đối với ngân hàng thương mại và
các doanh nghiệp XNK.
- Thanh toán quốc tế đòi hỏi chuyên môn cao. Luật pháp mỗi nước khác
nhau nên trong thương mại đã có những quy định thống nhất, những
thông lệ quốc tế mà các bên tham gia, kể cả ngân hàng đều phải tuân thủ:
UCP 500, IRC 522, Incoterms 2000 do phòng Thương mại Quốc tế
phát hành đều là những quy phạm pháp luật tuỳ chọn, nhưng khi đã chọn
thì buộc phải tuân theo.

của hoạt động kinh tế đối ngoại. Quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng được mở
rộng. Hàng năm một khối lượng hàng hoá rất lớn được giao lưu trên thị trường

7
thế giới. Cho nên thanh toán quốc tế yêu cầu phải có những phương thức thanh
toán mới cho phù hợp. Do đặc tính thuận lợi của hình thức thanh toán không
dùng tiền mặt, cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng ở các nước, do đó
thanh toán quốc tế sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt (chuyển khoản ) là
chủ yếu.

2.VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ

a> Thanh toán quốc tế tạ
o môi trường ứng dụng công nghệ ngân hàng:

Hệ thống ngân hàng của mỗi nước dù đã hay đang phát triển đều hết sức
quan tâm đến hoạt động thanh toán quốc tế. Tiêu chí hoạt động thanh toán là
nhanh chóng kịp thời và chính xác. Do đó, các công nghệ tiên tiến của ngành
ngân hàng đều được ứng dụng nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn các tiêu chí
nêu trên. Ngân hàng ở các nước đều có mức đầu tư đáng kể vào công nghệ
thông tin và xử
lý dữ liệu.

b> Thanh toán quốc tế mang tính an toàn cao:

Nếu điều kiện về con người và công nghệ được thoả mãn thì thanh toán quốc
tế là một nghiệp vụ thực sự an toàn. Các biện pháp an toàn trong thanh toán
luôn được chú trọng: mã hoá thông tin truyền đi, thiết lập mã điện (test key),
lọc những thông tin gây nhiễu, đối chiếu số liệu tài khoản thôg qua mạng vi
tính đã tọ cho giao dịch thanh toán ngày càng an toàn cho các bên tham gia.

Phương tiện thanh toán là công cụ mà người ta thực hiện trả tiền cho
nhau trong quá trình buôn bán với nhau. Tiền mặt là phương tiện thanh toán
nhưng trong thanh toán quốc tế nó giữ vai trò thứ yếu. Phương tiện thanh toán

9
chủ yếu dùng trong thanh toán quốc tế là hối phiếu (Bill of exchange, Drafts),
séc (cheque, check), thẻ tín dụng Mỗi công cụ thanh toán đều có công dụng
riêng của nó, thích hợp cho từng đối tượng và loại hình giao dịch thanh toán của
các chủ thể kinh tế.
Phần lớn các công cụ thanh toán có khả năng lưu thông (chuyển nhượng,
mua bán) và được xem như là tiền tệ. Các đặc điểm của loại công cụ có thể
chuyển nhượng là:
- Công cụ
phải được chuyển nhượng bằng cách chuyển giao hay ký hậu và
chuyển giao.
- Quyền sở hữu được chuyển giao cho người đáng tin cậy và người đó
không biết bất kỳ khiếm khuyết naò về quyền sở hữu của người chuyển
nhượng.
- Người đang nắm giữ hợp pháp có thể đứng tên khởi kiện.
- Không cần thông báo việc chuyển nhượng cho các bên có liên quan.
- Quyền sở hữu được chuyển nhượng tự do, không bị ràng buộc bởi các
phần đóng góp hay trái quyền đối ứng giữa các bên tham gia trước đó mà
bên được chuyển nhượng không được thông báo cho biết.
Hối phiếu và séc được chuyển quyền sở hữu bằng cách trao tay giống
như giấy bạc ngân hàng chỉ trong trường hợp chúng có quy định thanh toán cho
người cầm giữ chúng. Trong các trường hợp hối phiếu và séc đượ
c thanh toán
theo lệnh, các công cụ đó yêu cầu phải được ký hậu và chuyển giao quyền sở
hữu.



Séc là một lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản tiền gửi- ra lệnh
cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả cho
người cầm séc, gười có tên trong séc hoặc trả theo lệnh của chính người ấy.
Hiện nay, séc là một phương tiện chi trả được dùng hầu như phổ biến
trong giao lưu thanh toán nội địa của tất cả các nướ
c. Trong thanh toán nội địa

11
nước ta có séc chuyển khoản, séc bảo chi, séc định mức, séc chuyển tiền. Trong
thanh toán quốc tế, séc cũng được sử dụng rộng rãi cho thanh toán tiền hàng,
cung ứng lao động, du lịch và các khoản phí mậu dịch.
- Thực tiễn về sử dụng séc trong kinh tế thị trường.

Các nhà nghiên cứu không đồng ý về nguồn gốc của séc mà chỉ đi đến
một kết luận chung là séc được thông dụng tại nước Anh từ thế kỷ 17 và phát
triển mạnh vào thế kỷ 19. Trong thời kỳ Việt nam là thuộc địa của Pháp, séc
cùng với các luật séc của Pháp đã được những người Pháp mang đến và áp dụng
tại Việt nam, luật séc được ban hành sớm nhất tại Việt nam là Luật 1865 củ
a
Pháp, được ban hành vào tháng 4 năm 1967. Như vậy séc đã có mặt tại Việt
nam từ những năm 60 của thế kỷ 19. Việc sử dụng séc được các Ngân hàng
thương mại Việt nam khuyến khích và quảng bá nên séc ngày càng trở nên
thông dụng ở Miền nam vào thập niên 60 và đầu thập niên 70.

2. PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ.

Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả
tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại th
ương giữa người nhập khẩu và người

thời kỳ nhất định.

2.2 - Phương thức chuyển tiền (Remittance)Là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó người nhập khẩu
(người mua, người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số
tiền nhất định cho người hưởng lợi (Beneficiary) theo một địa điểm nhất định
và trong một thời gian nhất định.

13
Về hình thức, việc chuyển tiền của ngân hàng phục vụ người nhập khẩu
có thể tiến hành bằng điện (Telegraphic Transfer) hoặc băng thư (Mail
Transfer)
Có thể mô hình hoá ngiệp vụ này theo sơ đồ:

Phương thức chuyển tiền:


khẩu.

2.3 - Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of Payment)Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán mà trong đó
người xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng thì tiến hành uỷ thác
cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền hàng trên cơ sở hối phiếu do người
xuất khẩu lập. Có hai hình thức nhờ thu là nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng
từ:

Nhờ thu trơn (Clean Collection): Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng
từ cho người nhập khẩu, sau
đó lập hối phiếu uỷ quyền cho ngân hàng phục vụ
mình nhờ thu tiền từ người nhập khẩu.
Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection): Người xuất khẩu chỉ
giao hàng cho người nhập khẩu, sau đó lập hối phiếu cùng bộ chứng từ giao
hàng uỷ quyền cho ngân hàng phục vụ mình nhờ thu. Ngoài ra, tuỳ theo thời
hạn thanh toán còn có nhờ thu chứng từ đổi lấy sự chấp nhận (D/A: Documents
against Acceptance): theo ph
ương thức này, người nhập khẩu khi nhận được hối
phiếu có kỳ hạn do người xuất khẩu lập chỉ cần chấp nhận thanh toán trên hối
phiếu là có thể nhận được bộ chứng từ nhận hàng, việc thanh toán xảy ra sau 1
kỳ hạn ghi trên hối phiếu. Nhờ thu chứng từ đổi lấy sự thanh toán (D/P:

15
Documents against Pyment) thì khó khăn hơn: Người Nhập khẩu phải thanh
toán tiền hàng tại ngân hàng nhờ thu, ngân hàng mới giao chứng từ nhận hàng.
Quy trình này được mô hình hoá như sau:



Ngân hàng phục vụ
người xuất khẩu Người nhập khẩu Người xuất khẩu
(1)
(7)
(3)
(5) (4)
(
2
)
(6)

16
(1) Người xuất khẩu sau khi ký hợp đồng, trong đó quy định phương thức
thanh toán là Nhờ thu, sẽ tiến hành giao hàng cùg bộ chứng từ giao
hàng cho người nhập khẩu.
(2) Người xuất khẩu sau đó chuyển hối phiếu (nếu là nhờ thu trơn) hoặc
bộ chứng từ kèm hối phiếu (nếu là nhờ thu kèm chứng từ) cho ngân
hàng phục vụ mình uỷ thác để nhờ thu.
(3) Ngân hàng ph
ục vụ người xuất khẩu chuyển hối phiếu (hoặc hối
phiếu kèm chứng từ) cho ngân hàng phục vụ người nhập khẩu để nhờ
thu.
(4) Ngân hàng người Nhập khẩu chuyển hối phiếu (hoặc hối phiếu kèm

Phương thức thanh toán này có lợi cho người xuất khẩu vì họ chỉ chu
ẩn
bị hàng xuất sau khi có xác nhận phong toả của ngân hàng. Phương thức này
thường được thực hiện khi người nhập khẩu có văn phòng đại diện tại nước
người xuất khẩu.

2.5 - Phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ

Đây là phương thức thanh toán được áp dụng nhiều nhất trong thương
mại quốc tế vì nó đảm bảo lợi ích cho các bên trong thanh toán. Nếu các
phương thức trên , việc thanh toán phụ thuộc vào người mua thì trong phương
thức này người bán bảo đảm nhận đựơc tiền thanh toán đúng thời hạn khi họ
xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo theo yêu cầu và ngân hàng lúc này không chỉ
đóng vai trò là trung gian làm dịch vụ mà tham gia hẳn vào quá trình thanh toán
với tư cách là một chủ
thể.
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một cam kết của ngân hàng
sẽ trả tiền cho người xuất khẩu theo chỉ dẫn và chịu mọi phí tổn của người nhập
khẩu số tiền đúng trị giá của hàng hoá để giao khi người xuất khẩu đã xuất trình

18
đầy đủ bộ chứng từ cho ngân hàng (Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn ở phần tiếp
theo).
III. PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
1.TẦM QUAN TRỌNG- PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA UCP
1.1 Sự ra đời của UCP

Lần đầu tiên Qui tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (Uniform
Customs and Practice for documentary Credits) gọi tắt là UCP được Phòng
thương mại quốc tế công bố vào năm 1933. Nó là một bộ các Qui tắc được công

với việc giao hàng thực tế, do đó người ta thường thoả thuận với nhau một biện
pháp thoả hiệp - trả tiền “ giao hàng tượng trưng” tức là giao chứng từ di
chuyển quyền sở hữu hay quyền kiểm soát hàng hoá.
Vì vậy sự tín nhiệm trở thành quan trọ
ng và các ngân hàng được yêu cầu
tham dự bằng cách cam kết có điều kiện với người bán là sẽ trả tiền khi xuất
trình các chứng từ và khi thực hiện đúng các điều kiện do người mua qui định.
Đó là nguyên nhân vì sao vẫn thường xuyên cần đến tín dụng chứng từ.

Lý do thứ hai:
Qui tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ rất may
mắn là một văn bản sống được Uỷ ban Ngân hàng của Phòng Thương mại Quốc
tế thường xuyên sửa đổi từ ngày văn bản ra đời.
1.3 Phạm vi áp dụng - Tính chất pháp lý của UCPVăn bản pháp lý quốc tế thông dụng của chứng từ là “ Qui tắc và thực hành
thống nhất về tín dụng chứng từ - UCP “ của Phòng Thương mại Quốc tế. Bản
qui tắc này mang tính chất pháp lý quốc tế tuỳ ý không mang tính chất bắt buộc,
có nghĩa là khi áp dụng nó các bên đương sự phải thoả thuận ghi vào L/C. Và
khi bản qui tắc này đã được thoả thuận ghi vào L/C trong phương thức thanh
toán tín dụng chứ
ng từ, nó được coi như là điều luật chủ yếu để điều chỉnh các

20
mối quan hệ giữa người nhập khẩu, người xuất khẩu, các ngân hàng và các bên
liên quan trong phương thức thanh toán này.
Các điều khoản của UCP sẽ cung cấp cho các ngân hàng, các luật gia, các
người nhập khẩu, các người xuất khẩu, các hãng vận tải sự giúp đỡ thực hành
và trợ lực có liên quan đến thương mại quốc tế.

Khi hàng hoá được mua hay bán ra nước ngoài thì những giao dịch này
có thể trở lên phức tạp, rắc rối vì một số những lý do sau: thời gian giao hàng,
rủi ro trên đường đi, thói quen, quy tắc điều khiển việc xuất nhập khẩu và thực
tế thì người bán hàng và người mua ở các nước khác nhau. Hơn nữa có thể cả
hai bên chưa bao giờ gặp nhau vì vậy chưa thể làm quen với tình trạng kinh
doanh của mỗi bên. Vậy đ
òi hỏi phải có một phương thức thanh toán bảo vệ lợi
ích cho các bên tham gia vào giao dịch này. Người mua phải biết khi nào phải
thanh toán, thanh toán cho ai và có nhận được hàng hoá đúng theo yêu cầu
không. Còn lợi ích của người bán là nhận khoản tiền thanh toán cho hàng hoá
của mình một cách nhanh nhất. Để thoả mãn lợi ích của cả hai bên, một phương
thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong hệ thống ngân hàng là phương
thức tín dụng chứng từ
. Với phương thức này người xuất khẩu phải gửi đến
ngân hàng bộ chứng từ yêu cầu thanh toán, nếu phù hợp người xuất khẩu sẽ
nhận được tiền hàng. Những yêu cầu trong tín dụng chứng từ phải được ghi
trong hợp đồng mua bán.
Nó có 3 chức năng: 22
+ Chức năng thanh toán: là việc dùng chứng từ làm cơ sở thanh toán
giữa hai bên.
+ Chức năng bảo đảm: là sự cam kết trừu tượng, ngân hàng mở đảm bảo
thanh toán cho người xuất khẩu trong trường hợp nhà nhập khẩu không có khả
năng thanh toán cho nhà xuất khẩu.
+ Chức năng tín dụng: là dùng tín nhiệm để vay hoặc ký quỹ một khoản
tín dụng trong thời hạn giữa
đôi bên.


năng xác minh được tính chân thật bề ngoài
của Tín dụng và tuy nhiên nếu nó đồng ý thông báo Tín dụng thì phải thông báo
cho Người hưởng lợi rằng nó không thể xác minh được tính chân thật bề ngoài
của Tín dụng “
d) Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank):
Là ngân hàng đứng ra xác nhận cho ngân hàng mở L/C theo yêu cầu của
nó. Ngân hàng xác nhận thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường
tín dụng và tài chính quốc tế. Ngân hàng mở L/C phải yêu cầu một ngân hàng
khác xác nhận cho mình sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng mở L/C. Muốn xác
nhận , ngân hàng mở L/C phải trả thủ tục phí rất cao (Confirming charges) và
đôi khi còn phải đặt trước một khoản tiền (cash over); mức đặt tiền trước có thẻ
là 100% trị giá L/C. Thông thường các ngân hàng chỉ xác nhận cho L/C không
huỷ ngang.
2.3- Thư Tín dụng L/C là một công cụ quan trọng của phương thức Tín dụng
chứng từ:

24
 L/C là văn bản pháp lý trong đó Ngân hàng mở cam kết trả tiền co
người xuất khẩu nếu họ xuất trình được một bộ thanh toán phù hợp
với nội dung của L/C.
 L/C có tính chất quan trọng, đó là nó hình thành trên cơ sở của Hợp
đồng mua bán, tức là phải căn cứ vào Hợp đồng mua bán để người
nhập khẩu làm đơn yêu cầu mở L/C và sau khi mở rồi L/C lại hoàn
toàn độ
c lập với Hợp đồng mua bán, có nghĩa là khi thanh toán Ngân
hàng mở L/C chỉ căn cứ vào L/C.
Những nội dung chủ yếu của một L/C bao gồm những điều khoản sau
đây:
a. Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C:
Tất cả các thư tín dụng đều phải có số hiệu riêng của nó. Tác dụng của số

dạng một số tuyệt đối. Cách ghi tốt nhất là ghi một số giới hạn mà người xuất
khẩu có thể đạt được dù hàng giao có tính chất nguyên cái hay rời ( ví dụ:
một số tiền không quá là X )
Điều 39 UCP 500 quy định:
a. Những từ "vào khoảng", "ước chừng", "độ chừng" hoặc những t
ừ tương
tự được dùng để nói về số tiền của Tín dụng hoặc số lượng hoặc giá đơn vị ghi
trong Tín dụng phải được hiểu là cho phép một sự xê dịch hơn kém không quá
10% so với số tiền hoặc số lượng hoặc đơn giá mà những từ ấy nói đến.
b. Trừ khi một Tín dụng quy định không được giao hàng nhiều hay ít hơn số
lượng hàng quy định, thì một dung sai 5% hoặc h
ơn kém có thể được chấp nhận
miễn là lúc nào số tiền của các lần thanh toán không được vượt quá số tiền của
Tín dụng. Dung sai này không được áp dụng khi Tín dụng quy định số lượng
tính bằng một đơn vị bao kiện hoặc một số đơn vị chiếc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status