Tài liệu ĐỀ ÁN: lạm phát và các biện pháp khắc phục nhằm giảm lạm phát trong thời kỳ kinh tế mở và phát triển một cách đồng bộ ở Việt Nam. - Pdf 95


- - - [  \ - - -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Lạm phát và các biện pháp khắc
phục nhằm giảm lạm phát trong
thời kỳ kinh tế mở và phát triển một
cách đồng bộ ở Việt Nam

MỤC LỤC

Lời mở đầu
Phần I.Lạm phát một căn bệnh của nền kinh tế thị trường
I.Định nghĩa lạm phát
II.Những nguyên nhân dẫn đến lạm phát
III.Cách đo tính tỉ lệ lạm phát
PhầnII.Một số phương pháp nhằm ổn định giá cả hay tiền tệ,chống lạm
phát
I.Diễn biến và ảnh hưởngcủa lạm phát trong nền kinh tế thị trường
II.Một số phương pháp ổn định giá cả hay tiền tệ.
III.Diễn biến của lạm phát gây ra lạm phát siêu tốc
Phần III.Thực trạng,nguyên nhân lạm phát & những giảI pháp ở Việt
Nam trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế
I.Nguyên nhân lạm phát của nước ta

những biện pháp kiềm chế lạm phát ở nước ta chúng ta cần hiểu rõ những kháI
niệm cơ bản về lạm phát ,cách khắc phục lạm phát.Được sự hướng dẫn của cô
giáo bộ môn Thạc sỹ Hà Thị Đoan và qua tham khảo một số sách báo tàI liệu
em xin đưa ra một vàI suy nghĩ với mong muốn tìm hiểu và vận dụng tốt hơn
những lý luận về lạm phát và các biện pháp khắc phục nhằm giảm lạm phát
trong thời kỳ kinh tế mở và phát triển một cách đồng bộ ở Việt Nam.
Trong bàI viết này sẽ không thể tránh khỏi những sai xót em mong các
thầy cô bỏ qua cho.Em xin chân thành cảm ơn và rất mong có được ý kiến
đóng góp nhiệt tình để có thể hàn thành tốt hơn nữa vấn đề nghiên cứu.

2
PHẦN I
LẠM PHÁT – MỘT CĂN BỆNH CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

I.Quan niệm về lạm phát.
Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới vấn đề lạm phát đã và
đang là một vấn đề hết sức phức tạp đặt ra cho các quốc gia.Lạm phát không
chỉ xảy ra ở những nước kém phát triển mà ngay ở các nước có nền kinh tế
phát triển nền kinh tế cũng co bóng dáng của lạm phát.Lạm phát tác động
đến giá cẩ thị trường.Nhưng chủ yếu không phảI ở chỗ giá cả tăng lên mà ở
chỗ giá cả tương đôí đã thay đổi.Nói cách khác là việc tác động vào thị
trường không phảI là để triệt tiêu hoàn toàn lạm phát mà kìm giữ nó ở một tỉ
lệ nhất định vì bản thân lạm phátlà yếu tố quan hệ mật thiết với vấn đề thất
nghiệp và tiền tệ.Như vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ nó sinh ra cùng
với việc mở rộng hệ thống tàI chính ,các loạI tiền tệ theo sự phát triển của
nền kinh tế từ công xã nguyên thuỷ sang nền kinh tế tự do và đặc biệt là sự
xuất hiện của tiền giấy,đó là hiện tượng đặc trưng của sự thay đổi mức giá
chung ,khi mức giá tăng lên-sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời
gian.


như thế nào?ĐIều đó cũng nói lên một phần mối quan hệ chặt chẽ giữa lạm
phát và tăng trưởng.Nếu tỉ lệ lạm phát đang ở mức thấp hoặc vừa phảI đIều
đó chứng tỏ nền kinh tế nước đó có sức mạnh đIều tiết và quản lý kinh tế vĩ
mô có hiệu quả đã và đang tạo cơ hội thuận lợi để tăng trưởng.Xung quanh
lạm phát có rất nhiều nảy sinh như cách phòng và chữa căn bệnh lạm phát
như thế nào?Nguyên nhân gây ra lạm phát và có nên duy trì tỉ lệ lạm phát
thấp hay chấm dứt lạm phát.Từ đó gây ra nhiều cuộc bàn cãI,tranh luận

4
không chỉ giữa các nhà kinh tế mà còn xảy ra với các quốc gia,các tổ chức
tàI chính quốc tế.Vởy hiểu lạm phát như thế nào?Có một câu hỏi nhưng rất
nhiề câu trả lời,tuy nhiên người ta vẫn thường công nhận lạm phát là sự tăng
lên của giá cả trung bình trong một thời kỳ “Sự tăng lên của giá” do có nhiều
nguyên nhân hoặc do các yếu tố chủ quan của các cấp quản lý kinh tế hoặc
do những đIều kiện chính trị,xã hội,thiên tai gây ra.Có thể giảI thích quy về
những cách đây:
1.Theo thuyết tiền tệ lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cung
tiền .
2.Theo trường pháI Keynes lạm phát có thể xảy ra là do dư cầu về hàng
hoá trong nền kinh tế.
3.Theo thuyết chi phí đẩy lạm phát xảy ra do tăng chi phí sản xuất.Tuy
nhiên đây cũng chỉ là những luận đIểm lý thuyết mang tính tương đối còn
trong thực tế lạm phát xảy ra thường là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố ở
những khía cạnh khác nhau của nền kinh tế.

III.Cách đo tính tỉ lệ lạm phát

Như đã nói ở trên,tỉ lệ lạm ơhát chính là thước đo mức tăng trưởng và phát
triển kinh tế của một quốc gia.Từ việc đánh giá tỉ lệ lạm phát mà người ta có
thể thấy được tình trạng thất nghiệp và sự biến động của hệ thống tiền tệ để


6

PHẦN II: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH GIÁ
CẢ HAY TIỀN TỆ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT

I.Diễn biến và ảnh hưởng của lạm phát trong nền kinh tế thị trường.
Lạm phát ngày nay đã trở thành một căn bệnh kinh niên,môt hiện tượng
phổ biến đối với nền kinh tế thị trường,tuỳ từng mức lạm phát mà có sự tác
động tới sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia.Tuy nhiên không phảI lúc
nào nó cũng là một mối tai hoạ đối với xã hội,ở mức độ thích hợp,nó kích
thích việc đầu tư,mở rộng sản xuất.Lạm phát tạo niềm lạc quan và khuyến
khích các khoản đầu tư lớn do làm tăng lợi nhuận và như thế lúc này kéo
theo sự tăng trưởng của năng lực sản xuất.Ởđây lạm phát không phảI là cáI
giá của sư tăng trưởng mà là động lực thúc đẩy sự phát triển đó.Tuy nhiên
cũng phảI thừa nhận rằng nhìn chung lạm phát thường gây nhiều tác hạI đối
với nền kinh tế.Chẳng hạn như ở Đức những năm 1919-1923 lạm phát đã
làm giá cả tăng lên hàng triệu lần đảy mức sống của người dân giảm sút
nghiêm trọng chưa từng thấy.Đây là bằng chứng đIển hình nói lên hậu quả
của lạm phát tới xã hội.Lạm phát kéo dàI trở thành nguy hiểm đối với nền
kinh tế,phá họi sự tăng trưởng và phát triển của các quốc gia,viêc khắc phục
hậu quả của nó đòi hỏi tốn nhiều nguồn lực.Chẳng hạn như nước Mỹ,một
cường quốc của thế giới để giảm lạm phát đI 1% ngân sách liên bang đã phảI
tiêu tốn tới hàng trăm tỷ USD.Với một cơ cấu giá gia tăng không đều giữa

nhuận do giá cả tăng cao mở ra.Tuy nhiên thông thường do tình hình biến
đổi thất thường của đồng tiền việc đầu tư vào đó ít được hướng vào các dự
án lâu dàI mà thường nhằm mục tiêu vào các mặt hàng thu lợi nhanh ở các
mặt hàng ddang lên giá rất cao,nơI mà viẹc đầu cơ thường trở nên nguy

8
hiểm.Như vậy lạm phát đã làm sai lệch những lợi ích kinh tế của những dự
án phát triển nhất là đối với dàI hạn,khoản đầu tư lúc này có xu hướng thiên
về tự tàI trợ hơn là hướng về đầu tư cho các dự án phát triển.Lạm phát nuôI
dưỡng sự đầu cơ rồi nó phá hoạI mặt bằng cung cầu hàng hoá dịch vụ,nhu
cầu thì nhiều mà hàng hoá thì khan hiếm.Sự mất cân đối kinh tế ngày càng
trở nên trầm trọng và nó kéo theo những vấn đề nghiênm trọng về tiền tệ.Ở
đây có tính hiệu quả và cơ cấu của hệ thóng lưu thông tiền tệ-tín dụng-ngân
hàng thường bị suy giảm mạnh,nhiều khi trở nên hỗn loạn làm cính sách
kinh tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn,trở ngạI.Có thể nói lạm phát và tiền tệ
thường đI đôI với nhau,lạm phát lúc này như một thứ “thuế”đánh vào thu
nhập và các khoản vốn nhàn rỗi chia cho những kẻ “đục nước béo cò” lợi
dụng viêc tăng giá để đầu cơ làm ngành sản xuất thiếu vốn,gặp trở ngạI
trong hoạt động.Tiền trong lạm phát thường mất giá khiến cho niềm tin ở giá
trị của nó bị mất đI,lúc này các hộ gia đình và các tổ chức kinh doanh có nhu
cầu giữ vàng và ngoạI tệ,họ ra sức chuyển tiền mặt thành các tàI sản vì
chúng thường ổn định hơn ở thị trường nội địa.ĐIều đó xảy ra làm cán cân
thương mạI bị hẫng hụt,vàng và ngoạI tệ có xu hướng ngày càng trở nên
thiếu và giá tăng cao so với thời lỳ tiền lạm phát.Tiền mặt thì bị thả nổi trên
thị trường.Các cuộc săn tìm này làm chotốc độ lưu thông tiền tệ tăng nhanh
kéo theo sự biến đổi của mức cung tiền danh nghĩa.ĐIều này có nghĩa là lạm
phát gây ra những khó khăn phiền toáI cho cơ chế quản lý kinh tế của nhà
nước cũng như hệ thống ngân hàng.Trong nhiều trường hợp thậm cí hệ
thống ngân hàng không có đủ sức mạnh để đIều tiết cung cầu tiền danh
nghĩa,do đó chỉ số giá cả vẫn cứ tăng mà không có biện pháp nào để kiểm

lý luận này các quóc gia có cáI nhìn đúng đắn ,kháI quát về lạm phát giúp
cho việc hoạch định các biện pháp phòng chống đúng hướng hơn.Việc đẩy

10
lùi lạm phát ở mức độ có thể duy trì đòi hỏi các quốc gia , các tổ chức chính
phủ phảI sử dụng các biện pháp hữu hiệu , ngắn hạn hay dàI hạn như:Chính
sách tàI khoá , chính sách tiền tệ chính sách giá cả và chính sách thu nhập
.Tuỳ theo phương pháp nghiên cứu của các nhà kinh tế đưa ra theo nhiều
cách lý giảI khác nhau , chủ yếu là về bốn lý luận cơ bản như: lạm phát theo
thuyết tiền tệ , lạm phát theo nhu cầu , lạm phát do chi phí đẩy , lạm phát dự
kiến.Tuy nhiên đây cũng là những luận đIểm lý thuyết mang tính tương đối
có phần sai lệch so với lạm phát xảy ra trong thực tế , vì vậy khi tìm hiểu đòi
hỏi mỗi quốc gia cần đặt những vấn đề này trong đIều kiện hoàn cảnh của
riêng mình từ đó có những biện pháp sát với thực tế nhằm kiểm soát có hiệu
quả lạm phát.
Việc sử dụng chính sách tàI khóa chính là việc sử dụng thuế khoá và chỉ
tiêu công cộng để đIều tiết mức giá chung của nền kinh tế.Khi nền kinh tế
đang trong giai đoạn phát đạt quá mức tức là nền kinh tế ở quá xa bên phảI
mức sản lượng tiềm năng và lạm phát tăng lên , chính phủ đIều tiết bằng
cách có thể giảm chi tiêu và tăng thuế , nhờ đó mức chi tiêu chung giảm đI ,
sản lượng tăng theo và lạm phát sẽ chững lạI.Theo KEYNES ,chính sách tàI
khoá có thể coi la fphương thuốc hữu hiệu để ổn định nền kinh tees.Tuy
nhiên trong thực tếchính sách tàI khoá không đủ sức mạnh đến như vậy , đặc
biệt trong nền kinh tế hiện đạI , chả thế mà trong các nền kinh tế thị trường
luôn không ổn định , chu kì kinh doanh chưa được khắc phục hoàn toàn.Việc
áp dụng chính sách tàI khoá trong thực tiễn đòi hỏi cần thiết phảI có một cơ
chế đặc biệt ,đó là cơ chế “ổn định tự động”.
Ngày nay trong mô hình kinh tế hiện đạI vấn đề tiền tệ đang là một trong
những vấn đề nổi cộm.Tiền vừa là động lực vừa là mục tiêu của các chủ thể
kinh tế , tiền trở nên không thể thiếu được trong lưu thông , tiền là thứ dầu


12
cả hàng hoá tăng lên 4,8%/tháng gây nê xáo trộn trong đời sống xã hội.Như
vậy mức cung tiền tăng dưới bất kỳ hình thức nào cũng tạo ra sự gia tăng
lạm phát.Tuy nhiên mức cung tiền không phảI là nguyên nhân gây nên lạm
phát.Việc lạm phát xảy ra còn bởi do sự tăng giá của yếu tố đầu vào của sản
xuất tạm gọi làlạm phát do chi phí đẩyhoặc do cơn sốt cầu về hàng hoá , dịch
vụ vuợt quá khả năng cung ứng của xã hội gọi là lạm phát nhu cầu.Các
nguyên nhân trên ở khía cạnh này hay khía cạnh khác tuỳ từng thời đIểm
diễn biến của thị trường mà tác động của lạm phát có nguy cơ gia tăng vượt
quá khỏi tầm kiểm soát của nhà nước.Hiện tượng lạm phát do cầu có mối
quan hệ mật thiết tới sự gia tăng khối lượng tín dụng và tiền mặt lưu
hàn.Những khoản tiền tăng thêm này sẽ kích thích người giữ tiền sử dụng
những số dư thừa vào việc mua tàI sản hiện thực như hàng hoá , bất động
sản làm cho giá trị của chúng bị đẩy lên.Tình trạng này làm tiền mất giá và
thực sự làm cho những người có tiền cảm thấy không yên tâm khi cầm tiền
mặt họ dùng tiền để mua hàng hoá vật phẩm và như thế tổng cầu bị sốt
mạnh.Nạn đầu cơ và tiền mất giá đẩy thị trường trở nên khan hiếm , nhu cầu
vượt quá khả năng đáp có giới hạn của mức cung hàng hoá.Vì vậy cơ chế
đIều chỉnh của thị trường là cần phảI tăng giá để giảm sức ép lên mức cung
hàng hoá .Từ đó lý thuyết này gợi mở ra rằng để chống lạm phát cần phảI tác
động vào các chính sách như thuế , chỉ tiêu của chính phủ , lãI xuất , tiền
lương để đưa tổng cầu về vị trí ban đầu.
Đối với lạm phát chi phí đẩy , hình thức lạm phát này phát sinh từ phía
cung chứ không phảI từ phía cầu .Chi phí sản xuất ở đây đột ngột tăng cao
hơn dẫn đến giá thành sản phẩm cao hơn khi được chuyển tơí tay người tiêu
dùng.Một trong những nhân tố làm tăng chi phí sản xuất là tiền lương.Tiền
lương luôn có xu hướng tăng do nhu cầu của người lao động trong đời sống
hàng ngày.Nếu vì một lý do nào đó trong nền sản xuất như : áp lực đấu tranh


như:thiên tai , bão lụt , cán cân xuất nhập khẩu , tình hình kinh tế-chính trị
các nguyên nhân thường đan xen nhau tác động tới nền kinh tế.Lạm phát
nảy sinh từ nhiều nguồn , ở các mức độ khác nhau như ; lạm phát vừa
phảI(<10%), lạm phát phi mã(<100%) ,siêu lạm phát(>100%) tác dộng tới
nền kinh tế ở các mức độ khác nhau.Vì vậy trước những hậu quả của lạm
phát và dựa vào hệ thống lý thuyết của các nhà kinh tế về nguyên nhân gây
nên lạm phát cần dựa trên mối quan hệ tương hỗ đa dạng của lạm phát với
các vấn đề như: tiền tệ , yếu tố sản xuất , ngân sách từ đó mới có thể đưa ra
một chính sách có hiệu quả nhằm đưa lạm phát về mức không nguy hạI đối
với nền kinh tế.

III.Diễn biến của lạm phát gây ra lạm phát siêu tốc .

Lạm phát là một hiện tượng phức tạp , ngày nay nó trở thành một căn
bệnh không dễ khắc phục đối với nhiều quốc gia.Lạm ơhát xảy ra do nhiều
nguyên nhân phức tạp và hậu quả là sự rối loạn hệ thống tiền tệ , cán cân
thương mạI và hoạt động sản xuất của xã hội ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát
triển kinh tế và đời sống nhân dân.Khi lạm phát phi mã trở nên nghiêm trọng
, hệ thống ngân hàng bị ảnh hưởng trầm trọng , mất giá liên tục , sức mua
giảm liên tục qua các năm , còn giá cả bị đẩy lên từng ngày, kéo theo nó là
nạn đầu cơ hàng hoá , vàng và đôla, hình thành cơn sốt các tàI sản thực
này.Hàng hoá nước ngoàI có ưu thế hơn nên ồ ạt tràn vào thị trường trong
nước dưới nhiều hình thức kể cả nhập lậu gây nên tình trạng thua lỗ , đình
đốn sản xuất trong cả nước , ngân sách nhà nước thâm hụt nặng nề do thu
không đủ chi nhất là thu.Đời sông của người dân đặc biệt là những người
làm công ăn lương trở nên bấp bênh và tụt xuống rất nhiều , trong xã hội nảy

15
sinh tình trạng thất nghiệp trá hình do nhiều nhà máy xí nghiệp thua lỗ hoặc
ngừng sản xuất .Lạm phát bùng nổ dữ dội trở thành siêu lạm phát ,ảnh

Cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư không hợp lý làm cho sản xuất chậm phát
triêntrong khi dân số tăng nhanh , gây mất cân đối trên nhiều mặt , sản xuất
chậm phát triển thu nhập quốc dân trong nước chỉ đảm bảo 80-90%quỹ tiêu
dùng xã hộị Trong tình hình ấy tàI chính-tín dụng có tàI giỏi đến mấy cũng
không thể phân phối và phân phối lạI vượt quá mức số của cảI trong nước
làm ra cộng với số vay nợ , viện trợ hạn chế của nước ngoài.Sự phân phối và
phân phối lạI thông qua tàI chính-tín dụng tuy có những yếu kém nhất định
nhưng không phảI là nguyên nhân trực tiếp gây ra lạm phát mà là hệ quả của
cơ cấu đầu tư , cơ cấu kinh tế không hợp lý với sự duy trì bộ máy hành chính
cồng kềnh và cơ cấu quản lý kinh tế kém năng lực.
Chính sách tàI chính chỉ tính đến việc thu và phát hành tiền để chi mà
không biết đến nuôI dưỡng các nguồn thu , vay của dân để chi.Nhà nước ta
chưa xây dựng được bảng cân đối tàI chính quốc gia song song với việc xây
dựng bảng cân đối vật chất khác.Nhà nước cũng chưa sử dụng được tiền tệ
như một công cụ sắc bén để kiểm soát mức sản xuất và mức tiêu dùng trong
phạm vi toàn xã hội.Các nguồn thu ngân sách đã ít lạI còn thất thoát , phân
tán nên ngân sách nhà nước ngày càng giảm.Ngân sách TW luôn trong tình
trạng “bóc ngắn , cắn dàI” phảI bù đắp bằng vốn phát hành.Đằng sau lượng
tiền giấy phát hành thêm không có khối lượng vất chất bảo đảm.Đó là những
nguyên nhân gây ra lạm phát.
Chính sách đổi tiền tăng giá là một trong những chính sách phá giá đồng
tiền.Từ đầu những năm 1980 đến nay nhà nước ta đã ba lần tổng đIều chỉnh
giá với mức quá lớn , không đồng bộ.Nhà nước TW không đIều hành nổi cơ
chế giá ở tầm vỹ mô , buộc phảI chấp nhận cơ chế giá trượt trong việc thu

17
mua nông sản , thực phẩm và bù giá vào lương.Nhiều ngành , địa phương tự
đIều chỉnh giá để kiềm chế sự chênh lệch giá.Tình hình này đã gây ách tắc ,
rối loạn thị trường và làm tăng tốc độ bội chi ngân sách.
Việc buông lỏng quản lý ngoạI thương , ngoạI hối cũng gây ra những tác


Theo các nhà phân tích, kể từ giữa năm 1997 tỉ lệ lạm phát có xu hướng
tăng lên ở khắp Châu Á.Sau khi đồng tiền giảm mạnh chỉ trừ một số nước
ngoạI lệ như Hồng Kông , Trung Quốc, hầu hết các đồng tiền bị giảm giá
mạnhtừ 15-70% so với giá đồng USD , kể từ ngày 1-7-1997 theo Andrew
Fung , nhà kinh tế tàI chính khu vực của Ngân hàng Standard Chartered
Bank cho biết : “Trong 6 tháng qua , chúng ta thấy giá nhập khẩu tăng cao
do tốc độ tăng trưởng kinhp tế thực sự bị giảm sút”
Thông thường một cuộc khủng hoảng tàI chính mạnh mẽ như vậy sẽ làm
cho giá cả tiêu dùng tăng lên và gây rắc rối cho tiền lương và giá cả song
đIều đó đã không xảy ra trong cuộc khủng hoảng lần này tại Châu Á hay ít
nhất là chưa xảy ra.Tính từ tháng 1-1997đến tháng 1-1998,chỉ số giá tiêu
dùng (CPI) ở Philippin đã tăng 6,4% , ở Hàn Quốc tăng 8,3% ,ở TháI Lan
tăng 8,6% và ở Indonexia đã tăng 18,% ,TạI Malayxia và Singgapo chỉ số
giá tiêu dùng tính từ tháng 12-97 đã tăng 2,7% và 2,1% theo thứ tự.
Hầu hết các nhà phân tích đều cho rằng có nguy cơ bùng nổ lạm phát
mạnh nhất là Indonexia nơI mà họ dự đoán tỉ lệ lạm phatá trong năm 98sẽ là
khoảng 25%, tỷ lệ này ở Tháu Lan trong năm 98 dự đoán là 9-20% ,
Philippin là 11% và Malayxia khoảng 5-6%.Cơ sở để dự báo về lạm phát đó
là các chính sách tiền tệ và tàI chính đang bị thắt chặt tương đối mạnh trong
khắp khu vực là do hậu quả của cuộc khủng hoảng tín dụng đI kèm với sự
giảm giá các đôngf tiền.

19
Một nguyên nhân dẫn đến lạm phát tăng cao là nhiều nước Châu Á đã
nhập khẩu các hàng tiêu dùng , đặc biệt là nhập khẩu thực phẩm từ các nước
láng giềng.Ví dụ như Malayxia nước chủ yếu tự túc về lương thực, thực
phẩm trừ gạo và một số loạI thịt , đã nhập khẩu gạo từ TháI Lan và thịt từ
Australia, trong khi đó các đồng tiền của những nước này bị giảm giá so với
đồng USD.

những xí nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ kéo dàicần nhanh chóng chuyển
hướng kinh doanh , cổ phần hoá hoặc giảI thể để giảm gánh nặng cho nền tàI
chính quốc gia.Nhà nước cần phảI có chính sách huy động vốn thích hợp
làm cho các thành phần kinh tế yên tâm , tin tưởng bỏ vốn vào sản xuất
,được bảo đảm quyền sở hữu , về vốn bỏ ra , được hưởng lợi ích chính đáng
do lao động và vốn của họ mang lại.

b./Phấn đấu giảm mức hụt ngân sách.
*Bộ tàI chính cần thông báo chính xác mức chênh lệch thu chi ngân
sách.Tách các khoản vay của nhà nước ra khỏi ngân sách và chuyển thành
các nguồn vốn đI vay , nếu ngân sách vay thì cũng phảI trả lãI.Ngân sáchcó
bốn nguồn thu : huy động trong nước , vay nước ngoàI , vay dân , vay ngân
hàng.Trước mắt vay nợ nước ngoàI khó khăn do đó cần hướng vào các
nguồn thu trong nước để tăng thu Chủ yếu là tăng thu thuế , thực hiện đánh
thuế VAT , thuế vốn , thuế thu nhập Khai thác , bồi duỡng các nguồn thu
khác , hình thành bộ máy chông thất thu thuế tạo mọi đIều kiện để bộ máy
này hoạt động có hiệu quả.Kiểm kê tàI sản , bất động sản, ấn định giá đất ,
giá nhà để bán và cho thuê, tăng nguồn thu nhập cho ngân sách.

21
*Giảm chi :Rà soát lạI các nguồn chi thực hiện một chính sách chi tiêu
nghiêm ngặt .Có thể cắt giảm một tỉ lệ nhất định các khoản chi tiêu chưa thật
cần thiết của các cơ quan nhà nươcs , kiểm soát chặt chẽ các khoản chi của
các cơ quan này đồng thời có biện pháp dự phòng nhằm đối phó với những
khoản chi tiêu ngân sách đột biến lớn có khả năng dẫn tới lạm phát.Hạn chế
đến mức thấp nhất việc cung cấp tàI chính cho các cơ quan , xí nghiệp nhà
nước.Chấm dứt hoàn toàn việc phát hành tiền để cứu vớt các xí nghiệp quốc
doanh dưới bất kì hình thức nào.Thực hiện chính sách tiết kiệm jgắn liền với
chống tham ô lãng phí ngay từ các cơ quan nhà nước.
*Vay vốn trong dân :Tiềm năng này còn rất lớn , trong dân còn khoảng từ

Tiếp theo là phảI tăng thu chi , cân bằng ngân sách, chấm dứt việc phát
hành tiền đẻ chi ngân sách.Nhà nước cần phảI chi thì phảI vay dân.Nhà nước
chỉ phát hành tiền phù hợp với nhu cầu lưu thông chứ không phát hành tiền
bù cho việc chi ngân sách.
GiảI phóng mọi năng lực sản xuất.Trong giai đoạn hiện nay , bất kể thành
phần nào dù chủ làm ra những sản phẩm có gúa trị ít cũng cần được khuyến
khích và trân trọng , cần đối sử ưu áI đối với các nhân tàI trong nước với
những nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoàI để phát triển kinh tế đất nước.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status