BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC .....
KHOA ....
ĐỀ ÁN
Bước phát triển trong
quan hệ EU-ASIAN 1
bước phát triển trong quan hệ eu -asean
1. LỜI MỞ ĐẦU.
Thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ từ thế kỉ XX sang thế kỉ XXI.
Bước vào thế kỉ mới, thiên nhiên kỷ mới cả thế giới đang phải đối mặt với
nhiều thời cơ cũng như thách thức, nổi lên trong đó là quá trình " Toàn cầu
hoá".
Toàn cầu hoá - một hiện tượng mang tính xã hội , một lực lượng mang
tính lịch sử trỗi dậy từ khoả
ng một thập niên qua và đang có ảnh hưởng lớn,
tác động đến hầu như mọi mặt của đời sống xã hội , từ kinh tế cho đến chính
này cũng là nơi có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao nhất và đều nhất trên
thế giới.
Liên minh châu Âu (EU) hiện nay bao gồm 15 quốc gia ở châu Âu là
Anh , Pháp. Đức, Italia, Đan Mạch, Bỉ, Hà Lan, Lucxemburg, Hy Lạp, Tây
Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ai len, Thuỵ Điển, Áo, Phần Lan. Đây là khối kinh tế
hùng m
ạnh và là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng của
thế giới. EU có tổng diện tích khoảng 3,3 triệu km
2
với tổng số dan vào
khoảng 400 triệu người và tổng số GDP xấp xỉ 9.000 tỷ. Đây cũng là khu vực
thương mại lớn nhất thế giới. Nếu tính cả thương mại trong khối, nưm 2000
EU chiếm 44, 9% kim ngạch xuất nhập khẩu toàn thế giới. Nếu chỉ tính kim
ngạch xuất nhập khẩu với bên ngoài, EU chiếm khoảng 20 % kim ngạch
thương mại thế giới. Liêm minh châu Âu cũ
ng là nguồn FDI lớn nhất thế giới
với tỷ lệ dòng FDI ra năm 1998 chiếm 59,55 toàn cầu . Trụ sở của EU đặt tại
Brussels (thủ đô Vương quốc Bỉ)
* Liên minh châu Âu được tạo dựng trên cơ sở ba yếu tố chính là:
- Liên minh kinh tế và tiền tệ (Economic anhd Moneytary Union-
EMU)
- Sự mở rộng hợp tác chính trị thành hoạch định và thực hiện chính sách
đối ngoại và an ninh chung
- Sự hợp tác chặt chẽ hơ
n về lĩnh vực tư pháp và nội vụ.
Liên minh châu Âu có quá trình hình và phát triển lâu dài từ hợp tác
kinh tế trong các lĩnh vực than và thép, năm 1951, ECSC- cộng đồng than
thép châu Âu ra đời. Đến năm 1957, 6 nước thành viên của ECSC bao gồm
Đức, Pháp, Ý, Bỉ , Hà Lan và Luxemburg đã ký hiệp định Roma thành lập
n văn hoá xóm làng với sự đan xen giữa văn
hoá núi, đồng bằng và biển.
Do vị trí địa lý thuận lợi và giàu có về tài nguyên thiên nhiên nên khu
vực Đông Nam Á đã trở thành nơi hội tụ của nhiều nền văn hoá, đối tượng
4
chinh phục và nô dịch thuộc địa của ngoại bang. Trước hết, đó là sự xâm nhập
của nền văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ, Arập và sau này từ thế kỷ XVII là châu
Âu. Thế nhưng chính nhờ có sự tương đồng và gần gũi về văn hoá , truyền
thống ngoại xâm và tinh thần hợp tác bạn bè, các dân tộc Đông Nam Á
không những bảo vệ được cốt lõi nền văn hoá sở hữu b
ản địa của mình mà
còn có thể tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của các nền văn hoá khác. Trên cơ sở
đó các dân tộc Đông Nam Á lần lượt dành được độc lập từ ách nô dịch và
thuộc địa của ngoại bang, đặt nền tảng cho sự hợp tác và liên kết khu vực.
Một cột mốc rõ rệt được đánh dấu trong lịch sử Đông Nam Á là sự kiện
thành lập Hiệp hội các quố
c gia Đông Nam Á: ngày8-8-1967 tại Bangkok
(thủ đô Thái Lan), tuyên bố Bangkok được ký kết, tạo dựng nền tảng cho sự
ra đời của ASEAN. ASEAN bao gồm 10 nước trong vùng Đông Nam Á là
Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippin, Singapore, Thái Lan, Việt Nam, Lào,
Campuchia và Myanmar. ASEAN hiện nay có dân số hơn 500 triệu người,
GDP khoảng gần 600 tỷ USD/năm. Đây cũng là nơi có nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú, có sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và là nơi thu
hút nhiều nguồn vốn FDI.
Mục tiêu chính của ASEAN được ghi rõ trong tuyên bố Bangkok là
thông qua những nỗ l
ực chung trên tinh thần hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi
nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hoá ở mỗi
nước, củng cố hào bình, ổn định ở mỗi quốc gia thành viên, khu vực và trên
lần II vị trí của EU ở Đông Nam Á bị suy giảm, quan hệ kinh tế cũng vì thế
trở nên mờ nhạt nhường bước cho sự lấn sâu của Mỹ và Nhật Bản. Hiện nay
sự tăng trưởng kinh tế ở Đông Nam Á đã là điểm thu hút đối với EU. Nă
m
2000, một nửa tổng số tăng trưởng kinh tế thế giới thuộc về châu Á ( gồm
Đông và Đông Nam Á) cho nên EU phải quan tâm đặc biệt đến châu Á trong
đó có khu vực Đông Nam Á.
Ngày nay, khi chiến tranh lạnh kết thúc, EU thấy cần phải điều chỉnh lại
chính sách của mình đối với châu Á theo hướng hợp tác chặt chẽ, bình đẳng
và hài hoà lợi ích của các bên trong khu vực này. Ngày 14-7-1994, EU đã
thông qua một văn kiện quan trọng vớ
i tiêu đề “Tiến tới một chiến lược mới
đối với châu Á”. Văn kiện này dã đề ra những định hướng và chính sách mới
của EU đối với châu Á đặc biệt là Đông Nam Á không chỉ cho những năm
6
còn lại của thế kỷ XX mà còn cho cả những năm đầu của thế kỷ XXI. Đồng
thời trên các phương tiện thông tin đại chúng, Liên minh châu Âu cũng giới
thiệu đến người dân nước họ hình ảnh của một Đông Nam Á năng động và
phát triển để người dân châu Âu tăng cường hơn nữa việc tìm hiểu, nghiên
cứu và xúc tiến đầu tư tại Đông Nam Á.
Nhân tố thúc đẩy mạ
nh nhất trong quan hệ giữa EU và ASEAN là giao
lưu buôn bán và trao đổi hàng hoá. Các nước ASEAN hiện nay đều mở cửa
thị trường, lợi dụng chính sách thương mại tự do của EU và biện pháp khuyến
khích nhập khẩu hàng hoá, nhất là hệ thống ưu đãi thuế quan chung để đưa
hàng vào thị trường EU, tăng tỉ trọng xuất khẩu của mình. Để tranh thủ sự
giúp đỡ về mọi mặt, năm 1980 ASEAN đã nâng cấ
p quan hệ ASEAN- EU
thành quan hệ đối thoại đầy đủ, sự kiện này được đánh dấu bằng thoả thuận
thấy một thị trường lớn với sức mua đang tăng lên và nguồn tài nguyên phong
phú.
Qua đây ta có thể nhận thấy quan hệ EU- ASEAN là quan hệ hợp tác
toàn diện, mỗi bên đều có mục đích riêng khi tham gia hợp tác nhưng tựu
chung lại các hoạt động đó đều nhằm mục đích phát triển kinh tế, xã h
ội, đảm
bảo sự ổn định, hoà bình và an ninh trong mỗi khu vực và trên toàn thế giới.
3.2 . Sự hình thành và phát triển quan hệ EU- ASEAN
Để cùng tồn tại và phát triển, mỗi quốc gia cần phải tích cực đẩy mạnh
các mối quan hệ. Mở rộng quan hệ hợp tác không chỉ giúp cho các nước, các
tổ chức và các khu vực hiểu biết lẫn nhau mà còn thúc đẩy kinh tế phát triển,
lấp chỗ trống trong sự thiếu hụt về
nguồn lực.
Bất chấp khoảng cách về vị trí địa lý, sự khác biệt về văn hoá xã hội,
con người cũng như trình độ phát triển kinh tế, Liên minh châu Âu ngày càng
đẩy nhanh quá trình hợp tác với các quốc gia ở Đông Nam Á. Bằng chứng cụ
thể là Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) là đối tác đầu tiên thiết lập quan hệ
với ASEAN vào năm 1972 thông qua Uỷ ban phối hợp đặc biệt của ASEAN
(Special Coordinating Committee of ASEAN - SCCAN).
Trong lịch sử h
ơn 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, hai tổ chức này
đã đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực. Quá trình phát triển mối quan
hệ EU-ASEAN được đánh dấu bằng nhiều sự kiện quan trọng nhưng có thể
tóm tắt trong 3 giai đoạn chính:
* Giai đoạn đầu (1967-1972)
8
Thời kỳ này quan hệ EU-ASEAN chưa được thiết lập chính thức. Quan
hệ hai bên diễn ra chủ yếu dưới hình thức quan hệ song phương giữa các
nước thành viên. Đây là thời kỳ EU chú trọng đến việc liên kết, ổn định nội
hiện nay)