LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Thực trạng bán phá giá hàng hoá
ở Việt Nam & kiến nghị giải quyết
tình trạng bán phá giá ở Việt Nam Giáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện : Chương 1 :
Tổng quan về bán phá giá hàng hoá 1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Giá trị thông thường
1.1.1.1. Khái niệm
Giá trị thông thường là giá bán có lãi của sản phẩm tương tự được bán với số lượng
thích đáng trên thị trường nội địa tới người tiêu dùng độc lập.
1.1.1.2. Điều kiện để xác định giá trị thông thường của hàng hoá
Sản phẩm tương tự
1.1.2. Giá xuất khẩu:
1.1.2.1. Khái niệm:
Giá xuất khẩu là giá đã trả thực sự hoặc có khả năng trả giá xuất khẩu tới cộng
đồng, tới một khách hàng độc lập. Trong các trường hợp:
Nếu không có giá đã trả hoặc có khả năng trả tức là không có giá xuất khẩu thì phải
sử dụng giá kiến tạo.
Nếu không có giá xuất khẩu tới cộng đồng thì không phải chịu sự điều tra.
Nếu không có khách hàng độc lập thì phải sử dụng giá kiến tạo.
Ví dụ: người xuất khẩu bán hàng cho người nhập khẩu mà người nhập khẩu đó có
quan hệ họ hàng với người xuất khẩu, mức giá bán 1 là 90USD (là giá xuất khẩu
không tin cậy).
Các chi phí: 20% , lãi thông thường: 10%.
2
Người nhập khẩu bán hàng cho người mua không có quan hệ họ hàng ở mức giá
bán hai là 100USD.
Như vậy giá bán 1 là giá không tin cậy.
giá bán 2 là giá tin cậy thứ nhất
giá xuất khẩu kiến tạo sẽ là: 100 – ((20%+10%)*100)= 70 USD.
70USD là giá xuất khẩu kiến tạo.
1.1.2.2. Các biện pháp xác định giá xuất khẩu:
Nếu sản phẩm nhập khẩu có gía đã được chi trả trong thực tế hoặc có khả năng
chi trả ( như giá trong hoá đơn) thì đó là mức gía xuất khẩu.
Nếu sản phẩm nhập khẩu không có giá trị chi trả trong thực tế hoặc không có
khả năng chi trả ( như gía trong hoá đơn) hoặc không thể xác định được giá của
nó thì lấy giá của sản phẩm nhập khẩu đó khi bán lại lần đầu tiên cho người mua
độc lập làm “giá xuất khẩu”.
Hàng hóa tương tự:
Hàng hóa tương tự là hàng hoá đồng dạng về tất cả các khía cạnh hoặc hoặc các
Theo điều VI của Hiệp định chung về buôn bán và thuế quan (GATT) năm 1947
xác định:
Bán phá giá là hành động mang sản phẩm của một nước sang bán thành hàng hoá ở
một nước khác, với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm
đó khi bán ở trong nước.
Một sản phẩm được coi là bán phá giá khi nó được đưa vào hoạt động thương mại
tại nước nhập khẩu với giá xuất khẩu thấp hơn giá có thể so sánh được trong tiến
trình buôn bán thông thường đối với sản phẩm tương tự khi đưa tới người tiêu dùng
ở trong nước xuất khẩu.
Như vậy, trung tâm của khái niệm bán phá giá là có sự tách biệt về giá, khi giá xuất
khẩu thấp hơn gía trị thông thường của hàng hóa đó ở trong nước xuất khẩu.
4
Bán phá giá hàng hoá không đồng nghĩa với hàng hoá bán rẻ. Một nước có thể xuất
khẩu hàng hoá đó sang nước khác, bán với giá rẻ hơn hàng hoá cùng loại đang bán
trên thị trường nước nhập khẩu, nếu giá bán không thấp hơn gía bán của hàng hoá
đó trên thị trường nước xuất khẩu thì hành động đó không phải là bán phá giá.
Ví dụ về việc bán phá giá hàng hoá như sau:
Một người sản xuất TV lâu năm bán mặt hàng tivi PANASONIC với giá
300USD/chiếc, nếu người đó xuất khẩu TV cùng loại PANASONIC tới nước khác
và bán với giá 230USD /chiếc thì người đó đã thực hiện hành động bán phá giá.
Từ điển Tiếng Việt- do Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam- Bộ giáo
dục và đào tạo phát hành năm 1999 quy định: “ Bán phá giá là bán với giá thấp
hơn giá chung của thị trường để nhằm cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường”.
Theo điều 4 của “Pháp lệnh giá” của nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam định nghĩa:
“Bán phá giá là hành vi bán hàng hoá, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông
thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường , hạn chế cạnh tranh
Hạ giá bán hàng hoá trong trường hợp phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động sản
xuất, kinh doanh, thay đổi địa điểm, chuyển hướng sản xuất, kinh doanh.
Điều kiện bán phá giá hàng hoá là phải lũng đoạn được mặt hàng đó ở thị trường
trong nước để tránh nguồn hàng nhập khẩu trở lại.
Có thể nói bán phá giá hàng hoá là một trong những biểu hiện trực tiếp lớn nhất
của sự can thiệp của Nhà nước trong lĩnh vực Ngoại thương, đồng thời là thủ đoạn
quan trọng để mở rộng khả năng tiêu thụ hàng hoá trên thị trường ngoài nước. Đặc
điểm của bán phá giá hiện nay là phần lớn do Nhà nước tiến hành và tổn thất do
Ngân sách Nhà nước gánh chịu. 6
1.3. Mục tiêu của bán phá giá
Mục tiêu của bán phá giá hàng hoá là nhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh
thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá và cuối cùng là đạt được lợi
nhuận tối đa. Nhưng trong đó hai mục tiêu chủ yếu là mục tiêu lợi nhuận và mục
tiêu chính trị.
1.3.1. Mục tiêu chính trị
Bán phá giá là một trong những biểu hiện trực tiếp nhất của sự can thiệp của Nhà
nước Đế quốc trong lĩnh vực ngoại thương. Ngoài mục tiêu chính là mục tiêu lợi
nhuận, mục tiêu chính trị và thao túng các nứơc khác cũng được coi là khá quan
trọng trong hành động bán phá giá. Một số nước thực hiện bán phá gía để thao túng
thị trường.
Đối với các hãng lớn ngoài việc thao túng thị trường còn có thể với mục đích khác
như dành uy tín, hoặc để tăng sức ép với bạn hàng nhập khẩu về mặt nào đó.
Ví dụ: Mỹ đã sẵn sàng bỏ Ngân sách để mua phần lớn số gạo trên thị trường thế
giới rồi bán phá giá, điều này làm cho nhiều nước phải lao đao và phải chịu nhiều
vòng phong toả của Mỹ. Chẳng hạn giá xuất khẩu gạo của Mỹ khoảng
400USD/tấn, thậm chí 800USD/tấn, họ cũng sẵn sàng bán ra thị trường thế giới với
Một số ví dụ về việc bán phá giá mặt hàng tivi của Nhật tại thị trường Mỹ:
Từ những năm 1960, các công ty điện tử hàng đầu của Nhật Bản là HITACHI,
SANYO, SHARP và TOSHIBA đã cạnh tranh gay gắt với nhau. Nhưng ngày
10/09/1964, họ đã thoả thuận thống nhất nâng giá bán, quy định sản lượng của mỗi
công ty.
Kết quả của việc thoả thuận nâng giá này là người Nhật phải trả giá 700USD cho 1
chiếc tivi màu trong khi ở Mỹ giá là 400USD/chiếc tivi cùng loại. Các công ty của
Mỹ đã không chịu nổi sự cạnh tranh và đến năm 1989, sáu hãng lớn và nhiều hãng
nhỏ của Mỹ bị phá sản, công nghiệp sản xuất bị suy yếu, ngược lại các hãng điện tử
của Nhật đã thu được lợi nhuận lớn qua việc bán phá giá này.
8
1.4. Nguyên nhân của việc bán phá giá
Hành động bán phá giá xảy ra do nhiều nguyên nhân, có thể kể đến những nguyên
nhân chính sau đây:
Do có các khoản tài trợ của Chính phủ hoặc cơ quan công cộng nước ngoài.
Chính sách tài trợ nhằm đạt được hai mục đích chính sau đây:
+ Duy trì và tăng cường mức sản xuất xuất khẩu
+ Duy trì mức sử dụng nhất định với các yếu tố sản xuất như lao động và tiền vốn
trong nền kinh tế. Các khoản tài trợ có thể được cấp cho người sản xuất cũng như
cho người tiêu dùng, nhưng về mặt tác động kinh tế thì chúng đều như nhau và đều
đưa đến những hệ quả kinh tế tương tự.
Các hình thức tài trợ chủ yếu là: trợ cấp, ưu đãi về thuế, tín dụng ưu đãi, sự tham
gia của Chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như các hỗ trợ xuất khẩu.
Các khoản tài trợ giúp các ngành thực hiện công nghệ mới, trang bị máy và thiết bị
hiện đại, nghĩa là giúp cho các ngành mới gia nhập thị trường và đẩy mạnh phát
triển những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, tăng cường xuất khẩu. Do
đó mà chi phí sản xuất giảm xuống dẫn đến việc hạ giá bán.
Do nhập siêu lớn, vẫn phải có ngoại tệ để bù đắp cho thiếu hụt này. Khi đó có
1.5.1.1. Mặt tích cực
Bán phá giá giúp cho các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm, tăng thu được ngoại tệ, giúp tiêu thụ được lượng hàng tồn kho,
đặc biệt là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, quần áo lỗi mốt Tiêu biểu như ở
Pháp, ngay từ khi mới vào mùa đã có lượng hàng tồn đọng như: thực phẩm sắp hết
thời hạn sử dụng, quần áo , giầy dép hết mốt lên tới 50% số dự trữ bán ra. Hàng
tồn kho này được mang bán với mức giá thấp hơn 30% giá thị trường. Đến cuối
mùa, hàng tồn đọng chỉ còn vài phần trăm lại đựơc bán lại cho những người chuyên
nghiệp với giá bằng 1/10 giá cũ, họ sẽ đẩy số hàng hoá này ra nước ngoài bán phá
giá.
10
Ngoài ra biện pháp bán phá giá còn là công cụ quan trọng trong chính sách Ngoại
thương của đất nước nhằm giúp cho việc thực hiện những mục tiêu cụ thể trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước đó.
1.5.1.2. Mặt tiêu cực
Người tiêu dùng trong nước phải chịu thiệt do phải chịu giá cao hơn so với trước
đây do có sự thoả thuận về giá giữa các doanh nghiệp.
Việc các doanh nghiệp bán phá giá, lượng hàng hoá đó lại được bán cho chính các
doanh nghiệp trong nước mình, do đó lại quay lại lũng đoạn thị trường trong nước.
Do việc bán phá giá nhằm mục đích thu được siêu lợi nhuận nên một vài nước đã
sử dụng lao động trẻ em, phụ nữ, lao động tù nhân với giá rẻ mạt. Hậu quả là người
lao động bị ngược đãi nặng nề. Trung Quốc là một trong những nước tiêu biểu sử
dụng lao động tù nhân.Theo số liệu mới đây của văn phòng Quốc tế về lao động trẻ
em (BIT) thì trên toàn thế giới có trên 250 triệu trẻ em từ 5-14 tuổi đang tham gia
hoạt động kinh tế.
Chương 2
: Thực trạng bán phá giá hàng hoá ở Việt Nam
12
2.1. Thực trạng bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam
Việc nước ta tham gia vào ASEAN, APEC và xin gia nhập WTO sẽ dẫn đến việc
xoá bỏ hàng rào thuế quan, hiện tượng bán phá giá hàng hoá nước ngoài chắc chắn
ngày càng tăng trên thị trường nứơc ta. Các hãng nước ngoài tìm đủ mọi phương
sách để chiếm đoạt thị phần, dồn ép các ngành sản xuất Việt Nam vào một góc thị
phần nhỏ hẹp.
Theo kết quả điều tra xã hội học của hội người tiêu dùng Việt Nam tại Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: các nhóm hàng ôtô, xe máy, rượu bia, thuốc lá
của Mỹ, Nhật, Pháp và các nước châu Âu khác chiếm ưu thế. Với nhóm mặt hàng
gia dụng trước năm 1992 hàng Việt Nam chiếm 62%, hàng Mỹ chiếm 15%m các
nước châu Âu chiếm 14%, và 11% là các nước còn lại thì từ năm 1992 trở lại đây
hàng Trung Quốc đã từng bước chiếm chiếm lĩnh trận địa này. Các mặt hàng như
đồ chơi trẻ em, hàng dân dụng, xe máy, xe đạp, các giống cây trồng, thuốc trừ sâu
của Trung Quốc cũng xâm nhập mạnh vào thị trừơng nước ta trong thời gian gần
đây.
sản phẩm bán trong nước như công ty may Chiến Thắng, công ty may Hưng Yên
Một số công ty may có uy tín như công ty may 10, Thăng Long thì dung lượng
thị trường rất hẹp, chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu trong nước. Hiện nay, trên
thực tế vải nội địa chỉ giữ được 20% thị phần, còn nhường 80% thị phần cho hàng
vải ngoại nắm giữ, trong đó hàng Trung Quốc chiếm lĩnh khoảng 60% thị phần.
Mặc dù tổng công ty dệt may Việt Nam đã được thành lập, nhưng ngay cả các xí
nghiệp may trong tổng công ty cũng không sử dụng vải của các xí nghiệp trong
nước, vải cho may mặc xuất khẩu đang phải nhập khẩu 80 - 90%.
Trên thị trường Việt Nam hiện nay có đủ các loại vải của các nước có danh tiếng về
sản xuất vải trên thế giới. Hàng từ bình dân đến kha khá thì có sản phẩm của Trung
Quốc, Thái Lan, Đài loan, Nhật, Singapor, Indonexia hàng cao cấp thì có vải của
14
Anh, Mỹ, Y, Bằng nhiều con đường, các đối thủ cạnh tranh chiếm lĩnh thị phần
thông qua việc bán hạ gía các mặt hàng của mình, đặc biệt là mặt hàng vải Trung
Quốc. Giá hàng vải Trung Quốc chỉ bằng 1/3- 1/2 hàng sản xuất trong nước. Một
mét vải siu TrungQuốc giá 12.000- 15.000đ tuỳ theo khổ và màu, trong khi đó vải
siu Long An là 21.000đ.
Loại vải Mousseline Trung Quốc (TQ) hoa màu đủ loại gía chỉ từ 16.000- 18.000đ.
Các loại vải phin, thô, lanh, giá chưa đến 10.000đ/m. Quần áo TQ giá rất rẻ, lại
thích hợp với tầm vóc người Việt Nam. Một bộ complet tương đối đẹp, nếu mua ở
cửa hiệu sang trọng ở Bắc Kinh giá có thể đến 2triệu đồng, nhưng nếu mua bộ
tương tự ở Việt Nam thì chỉ có vài trăm nghìn.
Hàng vải nhập ngoại đổ bộ vào thị trường Việt Nam qua nhiều con đường: tiều
ngạch, chính ngạch,… Điển hình là nhập qua con biên giới phía bắc với Trung
Quốc( đưa vào thị trường Việt Nam 50% tống số lượng vải nhập lậu)
Ngoài ra tình trạng buôn lậu vải bằng đường biển qua các tàu viễn dương, đặc biệt
là qua đường bưu điện cũng đáng báo động.
Hiện nay, các cửa khẩu ở miền Trung và Tây Nam như Lao Bảo,Nội Bài, cũng là
những ngõ vào lớn của vải ngoại.
Tại Hà Nội, năm1996, liên hiệp các xí nghiệp xe đạp, xe máy (LIXEHA) có 13
công ty, xí nghiệp thành viên, chỉ sản xuất được 51.000 xe đạp và 1.500 tấn phụ
tùng, chưa bằng ẵ so với năm có sản lượng cao nhất. Xí nghiệp xe đạp Xuân Hoà
nổi tiếng về sản xuất xe đạp, nay lại nổi tiếng về mặt hàng bàn ghế và trang thiết bị
nội thất. Công ty sản xuất và dịch vụ cơ điện- một thành viên của LIXEHA thì nay
sản xuất trang thiết bị ytế. Trong thành phố chỉ còn lác đác vài cửa hàng Quốc
doanh bày bán xe đạp nội địa nhãn hiệu VIFIA, LIXEHA, Xuân Hoà hay Thống
Nhất nhưng rất ít người mua.
16
Trong khi nhu cầu xe đạp trong cả nước rất lớn khoảng 500.000- 600.000 xe/năm,
khả năng sản xuất trong nước có thể đáp ứng được, nhưng chúng ta đã nhường
3/4thị phần cho xe đạp nhập từ các nước Nhật, Pháp, Singapor và chủ yếu nhất là
hàng của Trung Quốc. Hàng Trung Quốc đa phần là nhập lậu, trốn thuế, mẫu mã
đẹp và thay đổi liên tục, giá bán rẻ: xe đạp mini TQ giá từ 400-600.000 đ/chiếc, xe
đạp địa hình TQ năm 1996: 1,3 triệu đồng/chiếc, sang năm 1997 chỉ có
800.000d/chiếc, chất lượng vẫn thế mà kiểu dáng đẹp hơn, các đại lý bán xe đạp
TQ có thể chịu vốn, do đó bỏ xa hàng Việt Nam.
2.1.2.2. Xe máy
Việt Nam là một nước đang phát triển với thu nhập bình quân đầu người khoảng
400.000đ(năm 2001). Các thành phố lớn của Việt Nam đang trong quá trình phát
triển trong đó các khu vực chính của các thành phố đều đang được xây dựng, hầu
hết các đường phố ở các thành phố như Hà Nội, Hồ Chí Minh đều rất hẹp. Đó là lý
do tại sao xe máy, xe đạp là những phương tiện phổ biến nhất ở Việt Nam kể từ
những năm 70.
Năm 1999 lượng xe máy tiêu thụ trên thị trường Việt Nam khoảng nửa triệu chiếc,
người ta cho rằng còn lâu nữa mới có thể đạt được một triệu chiếc/năm. Bất ngờ
cuộc “đổ bộ” ào ạt của xe Trung quốc, đến năm 2000 con số này đã lên đến 1,8
chiếc. Năm 2001 lượng linh kiện xe máy nhập khẩu lên đến hơn hai triệu bộ.
giống hệt của hãng Honda Việt Nam nhưng có giá bán rẻ hơn nhiều. Tại cửa hàng
xe máy của công ty Đức Phương trên đường Lê Văn Việt (quận 9- TP Hồ Chí
Minh), xe Wave Alpha Trung Quốc được bán với giá 7,5 triệu đồng/xe, chủ bán xe
bao giấy tờ và có giấy hải quan chỉ sau 1 ngày.
Như vậy với việc bán phá giá xe máy của hãng xe nhập từ Trung quốc đã ảnh
hưởng ít nhiều tới thị trường xe máy nội địa. Cuộc đổ bộ của xe Trung quốc với giá
rẻ đã làm cho nhiều hãng xe của Việt Nam phải điêu đứng một thời gian để tìm
cách trụ vững.
18
2.1.3. Hàng phân bón
Một tình trạng rất mới trong 5 tháng của năm 2002 trên thị trường Việt Nam là
các doanh nghiệp sản xuất phân NPK , nhất là các công ty có vốn đầu tư nước
ngoài đang đứng trước nguy cơ thua lỗ mà nguyên nhân chủ yếu là do phân NPK
chủng loại 16:16:8(NPK16:16:8), nhập khẩu từ Hàn Quốc đang được bán với gía
rất thấp trên thị trường Việt Nam.
Trong nước hiện nay có hai “đại gia” về sản xuất phân NPK 16:16:8 là Công ty liên
doanh phân bón Việt- Nhật (JVF) , công suất thiết kế 350.000 tấn phân NPK trong
một năm và công ty kiên doanh phân bón Baconco, cũng có công suất tương tự.
Nhu cầu phân NPK trong nước hiện nay khoảng 1.5 triệu tấn/năm, trong đó có
khoảng 300000- 400000 tấn là phân NPK 16:16:8.
Hơn ba năm trước, khi JVF và Baconco chưa thành lậ,phân NPK 16:16:8 chủ yếu
nhập từ Philippin, khoảng 300000- 350000 tấn/năm. Gần đây do trong nước đã sản
xuất được loại phân này nên lượng nhập khẩu giảm mạnh, chỉ còn 50000- 100000
tấn/năm.
Sau khi phân NPK 16:16:8 Philippine không còn nhập vào Việt Nam thì phân NPK
của Hàn Quốc nhảy vào thế chỗ với lượng nhập khẩu vào năm 2001 là 20000 tấn.
Đến năm 2002,lượng nhập này tăng đột biến và nhà nhập khẩu bán cho đại lý rẻ
hơn phân cùng loại được sản xuất trong nước đến 500000 đồng/tấn. Hiện nay giá
Một hãng khổng lồ sản xuất ở vài chục nước khác nhau như Coca-cola và Pepsi chỉ
cần mang ít hàng tồn kho tạm thời đưa vào Việt Nam cho không người tiêu dùng
cũng không ảnh hưởng gì đến doanh thu của họ. Muốn đánh gục đối phương họ đã
không làm như vậy vì của cho không sẽ mang tiếng là đồ bỏ đi. Họ đã bán dưới giá
thành sản xuất của các công ty trong nước và mở rộng các đợt khuyến mại liên tục
trị giá hàng tỷ đồng, họ không hề chịu lỗ bởi vì số hàng này chỉ là số hàng thừa
theo kế hoạc sản xuất trên toàn thế giới mà họ đã thu đủ lợi nhuận.
20
Đối với các hãng liên doanh việc giảm gía bán sản phẩm đến mức thấp hơn giá
thành dẫn đến doanh nghiệp bị lỗ, liên doanh không được chia lời, thực chất chỉ
phía Việt Nam chịu thiệt còn phía nước ngoài vẫn có lãi thông qua việc cung cấp
nguyên liêụ, công nghệ thiết bị với giá cao.
Không thể đứng vững nổi trong cuộc cạnh tranh khôngbình đẳng và không cân sức
này, công ty Tribeco, “con chim đầu đàn” của ngành sản xuất nước ngọt Việt Nam
đang lâm vào tình trạng “hấp hối’. Năng suất năm 1996 giảm 30% đến giữa năm
1997 thì sản lượng đã giảm đến 60% so với những năm trước.
2.2. Thực trạng bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt Nam
Trong quan hệ thương mại Quốc tế, cho đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam khi
xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài đã bị các doanh nghiệp nước ngoài khởi kiện 8
vụ bởi họ cho là các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá hàng hoá trên thị trường.
- Trường hợp đầu tiên bị kiện bán phá giá là mặt hàng gạo, năm 1994, nước đâm
đơn kiện là Colombia. Kết luận cuối cùng là gạo Việt Nam nhập khẩu vào
Colombia không bị đánh thuế chống bán phá giá mặc dù bán ở mức thấp 9.07%
song không gây tổn hại cho các nhà sản xuất lúa gạo ở nước sở tại.
Năm 1998 với mặt hàng mì chính xuất khẩu vào EU, Việt Nam đã bị EU quy vào
nứơc có mặt hàng bị bán phá giá. Kết cục thì mì chính bị đánh thuế chống bán phá
giá là 16.8%.
Cũng cùng năm này hàng giầy dép của Việt nam xuất khẩu vào EU cũng bị kiện
với giá xuất khẩu của nước thứ ba. Ví dụ như Colombia khi điều tra đã lấy giá gạo
của Việt nam so sánh với giá gạo xuất khẩu của Thái Lan. Điều này là không công
bằng với VN.
Thực tế cho thấy, những mặt hàng xuất khẩu của VN bị kiện bán phá giá hầu như là
những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu không cao (trừ cá basa), hoặc không phải
là mặt hàng xuất khẩu chiến lược nên các doanh nghiệp VN chưa thực sự quan tâm
đến vấn đề này.
222.3. Tác hại của việc bán phá giá hàng hoá đối với nền kinh tế nước ta
2.3.1. . Những thiệt hại về mặt kinh tế
Từ thực trạng đã phân tích ở trên ta thấy bán phá gía hàng nhập khẩu nước ngoài đã
gây ra những hậu quả lớn đối với ngành sản xuất nội địa. Hầu hết những ngành
công nghiệp đã từng có thế mạnh như: xe đạp, quạt điện, cơ khí, điện tử dân dụng,
vải, may mặc, rượu, bia, nay đều bị suy yếu nghiêm trọng do không cạnh tranh nổi
với các hàng ngoại bán phá giá.
Cụ thể những thiệt hại do bán phá giá gây ra đối với một số ngành công nghiệp nội
địa như:
Ngành dệt hiện nay phải nhường 80% thị phần cho hàng nước ngoài, chỉ còn giữ lại
được 20%, các xí nghiệp sản xuất đang ở trong tình trạng rất khó khăn.
Sản xuất xe đạp thị phần bị mất đi 75%, sản lượng chỉ đạt 25% so với năng lực sản
xuất.
Ngành cơ khí, sản xuất máy nông nghiệp và phụ tùng thị phần giảm từ 60% xuống
còn 20%, sản xuất động cơ nổ thị phần giảm từ 50% xuống còn 10%
Sản xuất quạt điện thị phần giảm từ 80xuống 20%. Sản lượng chỉ còn đạt 20% so
với năng lực sản xuất. Giá bị giảm đi 150.000đ/chiếc.
Ngành sản xuất rượu bị mất 90% thị phần cho hàng ngoại. Hai nhà máy sản xuất
rượu bia lớn nhất là rượu Bình Tây phải đóng cửa, còn rượu Hà Nội chỉ còn đạt
Chương 3:
Một số kiến nghị giải quyết tình trạng bán phá giá ở
Việt Nam 24