CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA: QTKD
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường với mức độ cạnh tranh ngày
càng cao, các Doanh nghiệp phải tự quyết định cho mình ba vấn đề trọng
tâm: Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào? Họ phải tự chủ
trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc đảm bảo các yếu tố đầu vào, sản
xuất ra sản phẩm theo yêu cầu thị trường đến tổ chức công tác tiêu thụ sản
phẩm trên thị trường. Công tác tiêu thụ sản phẩm có chức năng thực hiện giá
cả của sản phẩm.
Thực tế sản xuất kinh doanh đã chứng minh rằng để có thể tồn tại và
phát triển trên thị trường, các Doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện tốt công
tác tiêu thụ sản phẩm. Chỉ khi sản phẩm được tiêu thụ thì Doanh nghiệp mới
có thể bù dắp được chi phí sản xuất kinh doanh và thu thêm lợi nhuận để có
thể đảm bảo cho quá trình tái sản xuất mở rộng diển ra liên tục với hiệu quả
ngày một cao. Thực hiện tốt công tác kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm giúp Doanh nghiệp không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, tăng khả
năng cạnh tranh, khẳng định vị trí của Doanh nghiệp trên thị trường. Các
Doanh nghiệp đều đặt công tác tiêu thụ sản phẩm lên vị trí hàng đầu vì nó
chi phối mạnh mẽ tới các hoạt động khác của quá trình sản xuất kinh doanh.
Nhà máy cơ khí công trình đang có những chiến lược phát triển nhóm
xe tải nhẹ do nhà máy lắp ráp, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong
nước và ban đầu nhà máy cũng thu được những thành công nhất định. Sở dĩ
có được thành công đó, một phần là do toàn thể cán bộ công nhân viên trong
Nhà máy rất quan tâm và coi trọng công tác kế hoạch sản xuất và tiêu thụ
tiêu thụ sản phẩm. Trong quá trình thực tập tại Nhà máy, là một sinh viên
kinh tế tôi nhận thấy bên cạnh những thành công đáng kể, thì công tác sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy còn gặp không ít khó khăn và còn có
GVHD: Vò Hoµng Nam SVTH: §µo Ngäc T©n
1
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA: QTKD
nhiều hạn chế cần được khắc phục. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn
còn sản xuất lu hơi nước). Lu Điezen 4-6 tấn, lu rung, lu bánh lốp, và các
sản phẩm cơ khí khác, và bắt đầu nghiên cứu sản xuất trạm bê tông nhựa
nóng. Mở ra cho công nghiệp Việt Nam có một sản phẩm mới do Việt Nam
tự nghiên cứu, thiết kế và chế tạo.
Ngày 27/05/1993, Bộ Giao thông vận tải thành lập doanh nghiệp Nhà
nước “Nhà máy Cơ khí Công trình “ có tư cách pháp nhân hạch toán độc lập,
được mở tài khoản tại ngân hàng và sử dụng con dấu riêng theo quy định
của Nhà nước. Nhà máy có tên giao dịch quốc tế: MACHINERY ENGINE
ERING FACTORY Tên viết tắt: MEF Trụ sở chính 199- Minh khai- Hai Bà
Trưng- Hà Nội. Nhiệm vụ cũng như các năm trước nhưng có thêm sản xuất
trạm trộn bê tông xi măng, trạm trộn cấp phối, đẩy mạnh nghiên cứu trạm
trộn bê tông nhựa nóng, nghiên cứu thiết kế chế tạo hệ thống máy nghiền
GVHD: Vò Hoµng Nam SVTH: §µo Ngäc T©n
3
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA: QTKD
sàng đá 33 m
2
/h, xe vận chuyển và tự trộn bê tông xi măng, các loại lu rung
cỡ 4-6 tấn, cỡ nhỏ hai bánh P = 90 không rung được trên 3000 trên một bánh
xe, máy phun sơn kẻ đường và các sản phẩm cơ khí khác. Đặc biệt trạm trộn
bê tông nhựa nóng đã đạt được những thành tựu khoa học kỹ thuật, đã được
nhà nước công nhận là hàng thay thế nhập khẩu, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu.
Năm 1996, Bộ Giao thông vận tải đổi tên Nhà máy Cơ khí Công trình
thành “ Công ty Cơ khí Công trình”. Sản phẩm truyền thống của công ty
được đầu tư nghiên cứu thiết kế nên chất lượng các sản phẩm lu lốp, trạm
trộn bê tông nhựa nóng ổn định tăng thêm tính cạnh tranh và giành được thị
phần lớn trong cả nước. Sản phẩm năm sau so vơí năm trước tăng.
Quyết định 3016/QĐ- BGTVT ngày 13/9/2001 của Bộ Giao thông
vận tải đổi tên Công ty Cơ khí ô tô và xe máy công trình”.
Theo Quyết định số 3348/QĐ- BGTVT ngày 4 tháng 11 năm 2002
lao động tâm huyết với nghề, gắn bó với Nhà máy. Trên hết là bộ máy lãnh
đạo Nhà máy năng động, quyết đoán đã được đào tạo và rèn luyện trong
thực tiễn. Trải qua gần 60 năm lao động và trưởng thành, dù khó khăn đến
mấy vẫn duy trì được sản xuất thiết bị cơ khí phục vụ cho nghành GTVT.
Luôn cải tiến, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào các sản phẩm tự Nhà
máy thiết kế và chế tạo để hàng năm đưa ra thị trường những sản phẩm mới
phục vụ nghành cơ khí GTVT nói riêng và phục vụ nền KTQD nói chung.
Với bề dày kinh nghiệm cũng như sự nỗ lực của ban Giám đốc,
cán bộ công nhân viên của Nhà máy, Nhà máy đã đạt được những thành tích
đáng tự hào trong quá trình xây dựng và phát triển của mình, trở thành một
GVHD: Vò Hoµng Nam SVTH: §µo Ngäc T©n
5
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA: QTKD
trong những đơn vị tiêu biểu của ngành GTVT, nhiều năm liên tục được tặng
thưởng cờ luân lưu và huân chương lao động:
+)Huy chương vàng các Hội chợ quốc tế công nghiệp Viêt
Nam năm 1994-1998-2000
+)Giải thưởng sang tạo khoa học công nghệ Việt nam
2000(VIFOTEC)
+)Và rất nhiều cờ luân lưu của chính phủ, của Bộ…
Uy tín của Nhà máy đối với địa phương, các ngành ngày càng
vững vàng, chất lượng sản phẩm ngày càng được cải tiến, kỹ thuật ngày
càng tiến bộ. Giá thành sản phẩm được hạ nhiều so với các đôn vị khác, sản
phẩm của Nhà máy đã có mặt trên 40 tỉnh thành trong cả nước.
2.đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Điều hành Nhà máy là bộ máy tương đối gọn nhẹ.
Toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà máy Cơ khí Công
trình đều chịu sự lãnh đạo thống nhất của ban Giám đốc. Ban Giám đốc chịu
trách nhiệm chung về mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, đời sống công
nhân viên trong Nhà máy. Trong ban Giám đốc có một giám đốc có chức
dựng
cơ bản
Phòng
kiểm
tra chất
lượng
Phòng
kế toán
tài
chính
Phòng
kế
hoạch
thị
trường
Xí nghiệp 1 Xí nghiệp 2 Xí nghiệp 3
Xí nghiệp
ôtô
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA: QTKD
- Giám đốc: là chủ tài khoản phải là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động
sản xuất của doanh nghiệp, đồng thời là người chịu trách nhiệm trước Nhà
nước về việc bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước giao.
- Phó Giám đốc: là người chịu trách nhiệm chỉ đạo hoạt động kinh doanh
của Nhà máy, làm công tác đoàn thể. Ngoài ra phó Giám đốc là người thay
mặt Giám đốc phụ trách và điều hành toàn bộ Nhà máy khi Giám đốc uỷ
quyền.
• Phó Giám đốc kỹ thuật: Phụ trách về kỹ thuật và công nghệ sản phẩm
và mọi hoạt động sản xuất liên quan đến kĩ thuật của Nhà máy…
• Phó Giám đốc nội chính: Phụ trách công tác đoàn thể đối ngoại thông
tin, quản cáo, tuyên truyền…
phòng kỹ thuật còn có nhiệm vụ nghiên cứu cải tiến, hiệu chỉnh, hoàn thiện
công nghệ chế tạo các sản phẩm của Nhà máy để nâng cao chất lượng, tiết
kiệm vật tư mà chất lượng sản phẩm vẫn không thay đổi nhằm giảm giá
thành sản phẩm.
- Phòng xây dựng cơ bản: ( gồm 4 người ) chịu trtách nhiện xây dựng, quản
lý và bảo trì các công trình kiến trúc của Nhà máy đồng thời tham gia đấu
GVHD: Vò Hoµng Nam SVTH: §µo Ngäc T©n
9
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA: QTKD
thầu một số công trình xây dựng nhằm mở rộng lĩnh vực hoạt động của Nhà
máy và góp phần nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên.
- Phòng kiểm tra chất lượng: ( gồm có 6 người ) Là đầu mối của Nhà máy
thực hiện và hướng dẫn thực hiện mọi công tác liên quan đến lĩnh vực đăng
kiểm, kiểm định, tiêu chuẩn chất lượng của xí nghiệp trong từng công đoạn
công nghệ: từ khi bắt đầu cho đến khi sản phẩm hoàn thành.
- Các xí nghiệp là thành viên của Nhà máy. Hạch toán phụ thuộc vào Nhà
máy, có con dấu riêng, hoạt động tuân theo các quy chế hoạt động sản xuất
kinh doanh của Nhà máy, chịu sự quản lý thống nhất của giám đốc Nhà máy
với mục tiêu chính là phục vụ quyền lợi của toàn Nhà máy. Các xí nghiệp là
các đơn vị trực tiếp thực hiện nhiệm vụ sản xuất sản phẩm, đứng đầu mỗi xí
nghiệp là các Giám đốc là các Giám đốc xí nhiệp, giúp việc cho Giám đốc xí
nghiệp là phó Giám đốc xí nghiệp.
3.Mối liên hệ giữa các bộ phận quản trị của Nhà máy
Vì cơ cấu bộ máy tổ chức của công ty được tổ chức theo mô hình kiểu
trực tuyến chức năng giản đơn vì vậy các bộ phận chức năng trong công ty
chịu sự điều hành và kiểm soát trực tiếp của giám đốc. Tuy nhiên giữa các
phòng ban trong công ty vẫn có mối liên hệ thường xuyên với nhau nhằm
nắm được tình hình biến động trong công ty đảm bảo cho hoạt động sản xuất
kinh doanh được tiến hành một cách thông suốt. Ví dụ như phòng kỹ thuật
sản xuất tuy không có chức năng trong việc quản lý về mặt nhân sự nhưng
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA: QTKD
Trong quá trình phát triển của mình, Nhà máy đã không ngừng đa dạng hoá
sản xuất kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm. Đây là hướng đi đúng để Nhà
máy mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
5. Cơ cấu sản xuất sản phẩm của nhà máy
5.1.Cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp qua một số năm :
Bảng 1:Cơ cấu sản phẩm
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
% Tổng
sản
lượng
sản
xuất
% Giá
trị công
nghiệp
% Tổng
sản
lượng
sản
xuất
% Giá
trị công
nghiệp
% Tổng
sản
lượng
sản
xuất
% Giá
2% 5% 1% 3% 2% 4% 1% 2.5%
Lắp ráp
ô tô tải 90% 56% 91% 57% 85% 51% 88% 55.5%
Nguồn: Phòng kế hoạch
Ta thấy cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp qua cỏc năm là tương đối
ổn định qua cỏc năm khụng cú sự thay đổi nhiều .Trong đú ta thấy sản phẩm
chớnh của nhà mỏy là lắp rỏp và sửa chữa xe ụtụ tải nhẹ chiếm khoảng từ
85% đến 95%, nhưng chỳng ta cũng thấy rằng giỏ trị sản lượng chỉ chiếm
khoảng 50% đến 60%.Cũn lắp đặt cỏc trạm trộn bờ tụng chỉ chiếm từ 5%đến
10% nhưng giỏ trị sản lượng là tương đối cao trờn một sản phẩm.Cũn cỏc
trạm khỏc thỡ chiếm tỉ trọng nhỏ nhưng nú là thành phần khụng thể thiếu
được trong nhà mỏy.Từ cơ cấu sản xuất sản phẩm của Nhà máy và giá trị
sản lượng công nghiệp của từng sản phẩm của nhà máy ta thấy sản phẩm ô
tô tuy là một sản phẩm mới được sản xuất nhiều ở Nhà máy nhưng nó cũng
chiếm tỷ trọng lớn về lượng sản phẩm sản xuất và giá trị công nghiệp của
nhà máy. Nhưng trong giai đoạn hiện nay thì việc phát triển sản phẩm ô tô
tải lại đang gặp nhiều khó khăn. Cho nên chính điều này là mối quan tâm
của ban lãnh đạo của Nhà máy.
5.2.Đặc điểm quy trỡnh cụng nghệ sản xuất sản phẩm của Nhà mỏy cơ khi:
Sơ đồ quy trình công nghệ: Bắt đầu sản xuất đến khi tạo ra sản phẩm:
* Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh: Tổ chức hoạt động sản xuất kinh
doanh của Nhà máy là một hoạt động liên hoàn mà trong đó các bộ phận, các
GVHD: Vò Hoµng Nam SVTH: §µo Ngäc T©n
13
Tạo phôi
Đúc
Rèn rập
Kết cấu
Gia công cắt
Tiện Phay
khích phát triển, giá cả ổn định,tỉ lệ lạm phát thấp,cho phép động viên các bộ
phận kinh tế tư nhân hoạt động trên nhiều lĩnh vực,mở rộng các hoạt động
thương mại và đầu tư,điều chỉnh và quản lí được tỉ giá hối đoái,ổn định giá
trị tiền tệ,giảm đến mức tối thiểu các ảnh hưởng không tốt của cuộc khủng
GVHD: Vò Hoµng Nam SVTH: §µo Ngäc T©n
14
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA: QTKD
hoảng tài chính Châu á,áp dụng được các chính sách tài chính ngân hàng rất
linh hoạt và hiệu quả.
Nền kinh tế cảu một nước là nhân tố có tác động rất lớn cho sự phát
triển của ngành công nghiệp ô tô. Kinh tế phải đạt được đến điểm nào đó thì
nhu cầu tiêu dùng ô tô mới có thể thành hiện thực. Thực trạng tại Viêt nam
là nhu cầu đi lại bằng ô tô và chuyên chở bằng ô tô là rất cao nhưng nhu cầu
đó lại là nhu cầu không có khả năng thanh toán, nhưng đây cũng là một thị
trường tiềm năng cho rất nhiều các doanh nghiệp tại Việt nam. Hoặc khi có
khả năng thanh toán thì điều kiện về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất lại chưa
cho phép họ làm chủ một chiếc xe đi lại hay vận chuyển. Tuy nhiên đi cùng
với cơ hội lớn như vậy là những thách thức không nhỏ về cạnh tranh. Hàng
loạt các công ty sản xuất, lắp giáp ô tô thuộc doanh nghiệp nhà nước, các
doanh nghiệp liên doanh và khi Việt Nam ra nhập các tổ chức quốc tế như
AFTA, WTO. Khi đó các doanh nghiệp liên doanh nước ngoài sẽ tham gia
vào thị trường Việt Nam thì tình hình cạnh tranh càng gay gắt hơn. Do đó,
doanh nghiệp nào có lợi thế cạnh tranh lớn thì có thể thu được những kết qủa
lớn tại thị trường Việt Nam. Theo thống kê, Việt Nam có hơn chục doanh
nghiệp liên doanh ô tô và trên 160 doanh nghiệp tham gia sản xuất, lắp giáp,
sửa chữa và chế tạo phụ tùng ô tô. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có nhà máy
nào đầu tư hoàn chỉnh, máy móc và phụ tùng mà vẫn phải nhập khẩu.
Hiện nay, công suất trung bình của hơn chục doanh nghiệp liên doanh
sản xuất, lắp ráp ô tô du lịch, xe tải nhẹ...đạt trên chục nghìn xe một năm,
nhưng công suất này vẫn còn thấp. Tính chung trong cả nước, sản lượng ô tô
ta thấy, nhóm sản phẩm ôtô tải nhẹ của nhà máy là một trong những sản
GVHD: Vò Hoµng Nam SVTH: §µo Ngäc T©n
16
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA: QTKD
phẩm quan trọng của nhà máy vì nó chiếm một tỷ trọng lớn về số lượng
trong cơ cấu sản phẩm, cũng như trong doanh thu của nhà máy. Trong
những năm gần đây trong những năm gần đây nhóm sản phẩm này có số
lượng trong cơ cấu sản xuất không ổn định trong các năm, mặt khác số
lượng bán ra trên thị trường và doanh thu không cao so với các doanh
nghiệp khác trên thị trường. Trong khi đó thị trường ô tô tải nhẹ Việt nam là
thị trường đang nóng có nhiều cơ hội để phát triển, như đã phân tích trong
phần môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là một trong những
vấn đề mà các nhà lãnh đạo phải quan tâm. Cần xem xét kế hoạch sản xuất
và chính sách tiêu thụ sản phẩm đển giảm lượng tồn kho trong doanh
nghiệp và tăng lượng bán hàng.
7.2.Năng lực cạnh tranh của nhóm sản phẩm ô tô tải nhẹ ở nhà máy cơ khí
công trình.
Một trong những khó khăn lớn nhất mà bất kì một doanh nghiệp nào
khi tiến hành sản xuất kinh doanh cũng phải trải qua là khó khăn do các đối
thủ cạnh tranh mang lại. Không một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản
xuất kinh doanh mà không có các đối thủ cạnh tranh, kể cả tập đoàn lớn
cũng luôn quan tâm đến đối thủ cạnh tranh của mình. Đối thủ cạnh tranh, họ
cũng có những thế mạnh của mình dể có thể kiếm được khách hàng từ tay
doanh nghiệp, chẳng hạn họ có lợi thế về giá sản phẩm rẻ, chất lượng tốt,
công nghệ hiện đại, các dịch vụ sau bán hàng tốt....Đặc biệt, trong nhưng
năm tới khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO và
AFTA, khi đó Việt Nam phải mở của cho các nước trong tổ chức đó tham
gia vào thị trường Việt Nam là điều không thể trách khỏi. Như vậy khó khăn
sẽ lớn hơn rất nhiều lần. Hiện nay các doanh nghiệp lắp ráp và sản xuất ô
tô trong đó có nhà máy cơ khí công trình đang được Nhà nước có chính
1.Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhóm ô tô tải nhẹ của nhà
máy co khí công trình.
1.1 Tình hình sản xuât sản phẩm ô tô tải nhẹ.
Thị trường Việt Nam sẽ tiêu thụ một lượng lớn các sản phẩm ô tô,
mà đặc biệt là các loại xe tải nhẹ vì trong bối cảnh thị trường Việt Nam
công ty tư nhân ngày càng phát triển mạnh nhu cầu vận chuyển hàng hoá
ngày càng tăng mà tình hình giao thông Việt Nam thì xe tải nhỏ là thích
hợp nhất cho việc đi lại và lưu thông hàng hoá …Do đó, các doanh nghiệp ô
tô trong nước cũng như nước ngoài cầc tăng cường đầu tư để có thể sản
xuất ra nhiều măt hàng ô tô khác nhau cạnh tranh với các doanh nghiệp
khác trong việc chiếm lĩnh thị trường. Đăc biệt khi đầu tư vào sản xuất và
lắp ráp ôtô tải nhẹ thì kinh phí là ít nhất so với các loại ôtô khác.Nhà máy
cơ khí công trình nắm bắt được cơ hội như vậy nên trong những năm qua
Nhà máy không ngừng đầu tư vào cải tiến máy móc thiết bị , nâng cấp nhà
xưởng có thể đáp ứng cho nhu cầu, sản xuất những mặt hàng tốt nhất cung
cấp cho thị trường.
GVHD: Vò Hoµng Nam SVTH: §µo Ngäc T©n
19
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA: QTKD
Tình hình sản xuất của Nhà máy qua các năm:
Bảng 2:
(Đơn vị :chiếc)
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
KH TT TT/K
H
KH TT TT/K
H
KH TT TT/K
H
KH TT TT/
trường ô tô. Điều này cũng giải thích phần nào lượng xe tải tăng nhanh
trong những năm này.
Loại xe tải từ 2000Kg đến 5000Kg được nhà máy sản xuất với sản
lượng ổn định và nhỏ. Trong các năm không có sự thay đổi nhiều, nhưng
lượng thực hiện so với kế hoạch của nhom sản phẩm này thấp có năm chỉ
đạt có 50% so với kế hoạch.
Ta thấy tổng chỉ tiêu thực hiện sản xuất trong các năm là tương đối ổn
định và cao, đạt công xuất từ 70% đến 80%. Điều này chứng tỏ hiệu quả sản
xuât của nhà máy là tương đối cao, Nhà máy đã sử dụng gần hết công suất
của máy móc. Nhưng trong 2 nhóm sản phẩm của Nhà máy thì nhóm xe tải
dưới 1500kg đươc sản xuất đều và đạt công suất cao hơn.
1.2. Tình hình tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy:
Như vậy, qua việc phân tích tình hình các mặt hàng sản xuất của Nhà
máy cơ khí công trình ở trên, chúng ta thấy được khả năng sản xuất của Nhà
máy. Nhà máy có đủ khả năng cung cấp ra thị trường các loại ô tô tải nhẹ và
với số lượng là tương đối lớn. Nếu nhà máy có một chính sách tốt và tận
dụng tốt nhất năng lực của nhà máy thì việc chiếm thị phần lớn trên thị
trường Việt Nam là hoàn toàn có thể và duy trì thế mạnh của mình. Tuy
nhiên, đây mới chỉ là khả năng có thể sản xuất được của Nhà máy còn giữa
GVHD: Vò Hoµng Nam SVTH: §µo Ngäc T©n
21
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA: QTKD
việc sản xuất và tiêu thụ là hai vấn đề không phải lúc nào cũng đồng thời
với nhau. Để xem xét khả năng tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy cơ khí
chúng ta xem xét số liệu sau:
Bảng3: Tình hình tiêu thụ sản phẩm
(Đơn vị :Chiếc)
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Xe tải:700Kg
đến 1500kg
Lượng bán 40 100 160 130
Tỷ lệ %lượng
bán
57,14 62,5 80 72
Nguồn : phòng kế hoạch
Biểu đồ phân tích:
0
50
100
150
200
250
N¨m
2003
N¨m
2004
N¨m
2005
N¨m
2006
Lîng s¶n xu©t
Lîng b¸n
Qua những số liệu trên, chúng ta thấy số lượng xe bán ra và số lượng
xe sản xuất cũng chênh lệch nhau khá lớn. Vậy chứng tỏ rằng xe tồn kho của
GVHD: Vò Hoµng Nam SVTH: §µo Ngäc T©n
23
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP KHOA: QTKD
Nhà máy khá lớn, lượng xe tồn kho của nhà máy qua mỗi năm sẽ bị lỗi thời
về công nghệ, kiểu dáng, mẫu mã điều này không những làm tăng giá thành
của sản phẩm mà còn là giảm khả năng cạnh tranh cũng như tiêu thụ của
1.3. Tình hình tiêu thụ theo khu vực thị trường
Với thị trường Việt Nam rộng lớn như vậy, để có thể chiếm lĩnh được
thị trường và thuận tiện cho việc tiêu thụ sản phẩm trên cả nước các doanh
nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô phải cạnh tranh với nhau gay gắt để có được
thị trường tiêu thụ lớn nhất có thể. Nhà máy cơ khí công trình đã và đang cố
gắng từng bước chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ trên cả nước để đáp ứng nhu
cầu đòi hỏi về phương tiện giao thông vận tải của nhân dân. Hiện nay,các
doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh mạnh nhất của NHà máy là cả 3 miền :
Tại miền Bắc :công ty cơ khí ô tô 3-2, công ty liên doanh ô tô Hoà Bình ,
Vinaxuki,công ty cơ khí 1-5,LIFAN….Tại miền Trung :công ty cơ khí ô tô
Đà Nẵng, công ty cơ khí ô tô Thừa Thiên Huế… Tại miền Nam là :công ty
cơ khí ô tô Sài Gòn, công ty ô tô MeKông, Nhà máy ô tô Cửu Long..
Chúng ta thấy trên thị trường có rất nhiều các công ty sản xuất và lắp ráp ô
tô với công suất lớn có uy tín trên thị trường. Bình quân công suất của các
công ty là trên 5000 chiếc xe trên năm và một số doanh nghiệp thì công suất
này có thể lớn hơn rất nhiều. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, hiện nay
Nhà máy cũng là một trong những đơn vị có thể cung cấp cho thị trường
một số lượng lớn về xe tải nhẹ. ở cả ba miềm thì Nhà máy đều có văn phòng
đại diện. Nhưng tại miền Trung và Nam thì văn phòng đại diện cho các sản
phẩm khác của Nhà máy còn về đại lý ô tô thì ít chưa nhiều vẫn chủ yếu là
ở miền Bắc. Chúng xét tình hình tiêu thụ của từng miền:
Tại miền Bắc: chúng ta xem xét bảng số liệu sau đây:
GVHD: Vò Hoµng Nam SVTH: §µo Ngäc T©n
25