LỜINÓIĐẦU
Trong nền kinh tế hiện đại, thuế không chỉ là công cụ thu của Ngân
sách Nhà nước mà còn là một công cụ của Nhà nước để quản lýđiều tiết vĩ mô
nền kinh tế. Khi nền kinh tế mỗi nước chuyển sang một giai đoạn mới với
những chủ trương, chính sách định hướng sự phát triển kinh tế thay đổi thì
chính sách thuế của quốc gia cũng được cải cách cho phù hợp.
Đối với Việt Nam, khi chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc áp dụng
luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) thay thuế thu nhập là một bước ngoặt lớn
trong việc cải cách cơ chế quản lý kinh tế- tài chính, đặc biệt là chính sách
thuế của Nhà nước.
Sau hơn 4 năm thực hiện, ta thất trong các sắc thuế gián thu thì thuế
GTGT được xem là phương pháp thu tién bộ hiện nay, được đánh giá cao vì
luật thuế GTGT đãđạt được cơ bản các mục tiêu lớn của chính sách thuế hiện
nay, phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá- hiện đại hoá, khuyến khích
chuyên môn hoá, khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong quá trình sản xuất
kinh doanh.
Tuy nhiên việc áp dụng thuế GTGT ở nước ta vẫn còn được xem là một
vấn đề khá mới mẻ, việc thực hiện còn nhiều vướng mắc. Nên theo em, việc
nghiên cứu đề tài này là cần thiết, nó giúp em hiểu thêm phần nào về thuế
GTGT ở nước ta.
Trong phạm vi bài viết này em xin đề cập đến vấn đề: “Thuế GTGT
khuyến khích đối với việc sản xuất kinh doanh.”
1
I/ Lý luận chung
1. Thuế GTGT là gì?
Thuế GTGT còn được gọi là VAT (Volue Added Tax) là một thứ thuế
gián thu tính trên phần giá trị tăng thêm phát sinh trong mỗi khâu, mỗi công
đoạn của quá trình sản xuất, lưu thông, luân chuyển hàng hoá, dịch vụ.
2. Vai trò của thuế GTGT trong hệ thống thuế nước ta
Thuế GTGT là một thứ thuế vừa dễ thu vừa có năng suất thu cao nhất
chịu thuế là hàng hoá nhập khẩu thì giá tính thuế là giá dùng để tính thuế nhập
khẩu (giá mua hàng hoá tại cửa khẩu) cộng với thuế nhập khẩu. Sở dĩ phải
cộng yếu tố thuế nhập khẩu là vì thuế nhập khẩu của bất kì 1 loại hàng hoá
nào đóđều có tác dụng như một cái “nệm” cân đối sự chênh lệch giữa giá cả
của hàng nội địa cùng loại tuỳ theo quan điểm bảo hộ nặng hay nhẹ của nước
nhập khẩu. Nói cách khác, thuế nhập khẩu là một trong những nhân tố tạo mặt
bằng khởi điểm về giá khi một hàng hoá nào đóđược nhập khẩu vào thị
trường nội địa. Do vậy, tính thuế GTGT trên cả yếu tố thuế nhập khẩu không
có nghĩa là tính trùng (thuế chồng lên thuế) mà làđiều kiện cần vàđủđểđảm
bảo sự công bằng giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước. Từđó sẽ
triệt tiêu được hiệu ứng chuộng hàng ngoại nhập do cóưu thế về mặt giá cả
tiêu dùng (giáđã có thuế GTGT).
4. Thuế suất thuế GTGT
Về mặt thuế suất, thuế GTGT là loại thuế cóít mức thuế suất so với các
loại thuế tiêu dùng khác. Lịch sửáp dụng thuê GTGT trên thế giới cho thấy có
thể có 4 mức thuế suất được sử dụng:
- Nhóm thuế suất điều tiết (mức thuế suất cao trên dưới 30%) áp dụng
đối với những mặt hàng được coi là xa xỉ phẩm. Về sau nhóm thuế suất này bị
bãi bỏ trên hầu hết các nước trên thế giới.
- Nhóm thuế suất thông thường (biến động từ 10% đến 20% tuỳ từng
nước). Áp dụng đối với hàng hoá dịch vụ thông thường. Đại đa số các nước
đều áp dụng mức thuế suất phổ biến trong khoảng 10% đến 20%.
- Nhóm thuế suất ưu đãi (khoảng 5% đến 7%), thường áp dụng đối với
các mặt hàng lương thực thực phẩm và các nhu yếu phẩm cần thiết khác.
3
- Thuế suất đặc biệt 0% áp dụng với hàng hoá hoặc dịch vụ xuất khẩu.
Mục đích của việc áp dụng thuế suất đặc biệt 0% làđể cho các doanh nghiệp
xuất khẩu được hưởng quyền khấu trừ toàn bộ số thuế GTGT đã phải nộp ở
những khâu sản xuất, lưu thông trước đó tạo điều kiện cạnh tranh về giá của
của hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới.
năm đầu tiên thực hiện Luật Thuế GTGT, khoảng 1720 tỉđồng thuế GTGT
đãđược hoàn trả cho các đơn vị nhập khẩu, góp phần quan trọng thúc đẩy kim
ngạch xuất khẩu tăng 23,8%, gấp 4 lần chỉ tiêu do Quốc hội đề ra. Luật Thuế
GTGT khuyến khích đầu tư vào tài sản cốđịnh vàđổi mới công nghệ nhằm gia
tăng chủng loại, chất lượng sản phẩm và giảm giá thành sản xuất. Thiết bị,
máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ
và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được, cần nhập khẩu
để tạo tài sản cốđịnh, thì không thuộc diện chịu thuế GTGT.
Luật Thuế GTGT giúp tăng cường chế dộ hoạch toán tại các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh. Việc khấu trừ thuếđược hạch toán trên hoáđơn
bán hàng và mua hàng, vì thế các doanh nghiệp ngày càng chú trọng hơn công
tác kế toán nhằm hạch toán chính xác một số tỉ lệ cần thiết cho khấu trừ thuế
(xác định số thuế cần thiết doanh nghiệp phải nộp). Đồng thời, các doanh
nghiệp phải lưu giữ, bảo quản tốt sổ sách hoáđơn chứng từ.
Luật Thuế GTGT thực sự gắn với các hoạt động kinh tế tại các doanh
nghiệp và phù hợp với bối cảnh cạnh tranh của nền kinh tế thị trường. Cơ chế
vận hành của thuế GTGT là lấy thuếđầu ra trừđi số thuếđầu vào trong cùng
kỳ. Nếu số chênh lệch (> 0) thìđó là số tiến thuế doanh nghiệp phải nộp. Nếu
số chênh lệch (< 0) thìđó là số thuế doanh nghiệp đã nộp thừa và ngân sách
nhà nước. Thuếđầu ra tỉ lệ với thuế doanh thu, thuếđầu vào tỷ lệ với giá trị tài
sản, vật tư, dịch vụ mua trong kì, nên số thuế phải nộp hay đã nộp thừa (với
điều kiện việc kê khai phải hoàn toàn chính xác) phản ánh trung thực tình
trạng sản xuất, kinh doanh của đơn vị.
2. Khấu trừ thuế - Linh hồn của thuế GTGT
Về phương pháp tính thuế, thuế GTGT có thểáp dụng hai phương pháp
cơ bản:
a. Phương pháp khấu trừ: Hàng tháng, tại mỗi cơ sở kinh doanh, người
ta lấy tổng số thuế GTGT đầu ra thu được khi bán hàng trừđi tổng số
5
thuếGTGT đầu vào phải trả khi mua hàng. Nếu kết quả là một số dương thìđó
dễ nảy sinh hiện tượng lợi dụng gian lận thuế thông qua việc khấu trừ thuếđầu
6