Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, là công cụ quan
trọng để phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc
dân. Và là vấn đề đại cục của mỗi Quốc gia, đặc biệt trong tiến trình hội nhập
quốc tế. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta đã thực
hiện cải cách thuế bước hai. Điểm nổi bật của cuộc cải cách này là thay thế
luật thuế doanh thu bằng luật thuế giá trị gia tăng được thông qua tại kỳ họp
thứ 11 Quốc hội khoá IX, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Sự ra đời
của luật thuế giá trị gia tăng được xem là một bước ngoặc có tính đột phá
trong công tác quản lý thu thuế và đã thể hiện được sự mạnh dạn, đương lối
đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát
triển đất nước.
Những năm gần đây, số lượng các doanh nghiệp, số lượng đăng ký tăng
gấp nhiều lần đã tạo số thu lớn trong số thu ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, đây
cũng là lĩnh vực thất thu lớn và gian lận thuế diễn ra khá phổ biến. Điển hình
là thuế giá trị gia tăng trong đó: Tình trạng sử dụng hoá đơn giả, khai khống
hoá đơn đầu vào để xin hoàn thuế, ghi giá trên hoá đơn thấp hơn giá thực tế...
đang là vấn đề mang tính thời sự hiện nay. Để khắc phục được những hạn chế
trên thì cần thiết phải tăng cường công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối
với loại hình doanh nghiệp này.
Hà Tĩnh là một tình nhỏ, kể từ khi có luật doanh nghiệp và đặc biệt là
từ khi có luật thuế mới ra đời đã có hơn 300 doanh nghiệp ngoài quốc doanh
được thành lập, góp phần không nhỏ và sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Thời gian qua, Cục thuế Hà Tĩnh đã đạt được khá nhiều kết quả tốt trong công
tác quản lý thu thuế đối với khu vực doanh nghiệp này. Bên cạnh đó, trong
công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh, Cục thuế Hà Tĩnh cũng gặp khá nhiều khó khăn. Điển hình là công tác
1
Chuyên đề tốt nghiệp
quản lý hoá đơn chứng từ và sổ sách kế toán, phát hiện ra một số hiện tượng
đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và chính thức được áp dụng đầu
tiên tại nước Pháp vào ngày 1 tháng 7 năm 1954.
Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng
rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nước. Đến nay, đã
có trên 120 nước áp dụng thuế GTGT, chủ yếu là các nước châu Phi, châu Mỹ
Latinh, các nước trong khối cộng đồng châu Âu và một số nước châu Á.
Thuế GTGT tiếng Anh là Value Added Tax (VAT), tiếng Pháp là Taxe
Sur la Valeur Ajoutée (TVA) là loại thuế được tính trên phần giá trị tăng thêm
của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu
dùng. Do thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ nên đối
tượng nộp thuế phải là các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có
giá trị tăng thêm, nhưng thực chất phần thuế mà họ nộp là do người mua hàng
hóa dịch vụ phải thanh toán. Vì vậy, thuế GTGT là thuế gián thu. Như vậy,
thuế GTGT được hiểu: "Thuế GTGT là loại thuế tính trên giá trị tăng thêm
của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản xuất, lưu
thông đến tiêu dùng".
1.2. Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở nước ta
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng theo tinh thần nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ VI, từ năm 1986, nền kinh tế nước ta đã có sự chuyển đổi cơ
bản từ một nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung với hai thành phần
kinh tế chủ yếu (kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu Nhà nước và kinh tế tập thể
3
Chuyên đề tốt nghiệp
hợp tác xã), trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, sang một nền
kinh tế thị trường có nhiều thành phần kinh tế. Theo đó, hệ thống chính sách
thuế cũng có nhiều thay đổi.
Trước năm 1986, để phù hợp với đường lối phát triển kinh tế lúc đó, Nhà
nước ta đã thực hiện chính sách thuế ưu đãi có phân biệt theo thành phần kinh
tế: khu vực kinh tế quốc doanh được ưu đãi nộp thuế với thuế suất thấp hơn
khu vực kinh tế tập thể, khu vực kinh tế tập thể được ưu đãi hơn khu vực kinh
quy định của Luật thuế doanh thu, đối tượng chịu thuế là toàn bộ số tiền thu
được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, điều đó đã làm cho việc tính thuế, thu
nộp thuế bị trùng lắp, thuế thu chồng lên thuế. Bên cạnh đó, hoạt động sản
xuất - kinh doanh xuất khẩu chưa được xem xét ưu đãi đúng mức. Việc quy
định quá nhiều thuế suất (11 mức thuế suất, thấp nhất là 0,5%, cao nhất là
30%) của Luật thuế doanh thu tạo cho đối tượng nộp thuế dễ lợi dụng để tính
nộp thuế dưới mức nghĩa vụ quy định.
Để khắc phục những mặt hạn chế nói trên của Luật thuế doanh thu, ngày
10-5-1997, kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa IX đã nhất trí thông qua Luật thuế
giá trị gia tăng (GTGT) có hiệu lực thi hành từ 1-1-1999 thay cho Luật thuế
doanh thu.
Thuế GTGT được tính trên giá trị mới tăng thêm của hàng hóa dịch vụ
phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng mà không đánh
vào phần giá trị đã chịu thuế ở khâu trước nên cách tính thuế GTGT rất khoa
học và cần thiết đối với nhu cầu phát triển sản xuất, phù hợp với yêu cầu hội
nhập quốc tế. Thuế GTGT có những ưu điểm nổi bật hơn so với thuế doanh
thu là:
- Tránh được hiện tượng đánh thuế chồng lên thuế, phù hợp với nền
kinh tế sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường.
- Thuế GTGT thuộc loại thuế đánh vào tiêu dùng, được áp dụng rộng rãi
đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa, hoặc được
cung ứng dịch vụ, nên có thể tạo được nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà
nước.
5
Chuyên đề tốt nghiệp
- Thuế tính trên giá bán hàng hoặc giá dịch vụ, nên không phải đi sâu
xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ của các khoản chi phí, làm cho việc
tổ chức quản lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu.
- Thuế được hoàn đối với hàng xuất khẩu nên có tác dụng giảm chi phí,
đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh
1.3.1. Phạm vi áp dụng
* Đối tượng chịu thuế GTGT: Theo quy định tại điều 2 Luật thuế GTGT
và Điều 2 Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 29-12-2000 thì đối tượng chịu
thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng
ở Việt Nam, từ các đối tượng không chịu thuế GTGT.
* Đối tượng nộp thuế GTGT: Theo quy định tại Điều 3 luật thuế GTGT
và Điều 3 Nghị định số 79/2000/NĐ-CP thì đối tượng nộp thuế GTGT là các
tổ chức cá nhân có hợp đồng sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế
GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh
doanh (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và các tổ chức, cá nhân khác có nhập
khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT (gọi chung là người nhập khẩu).
* Đối tượng không chịu thuế GTGT. Các đối tượng không chịu thuế
GTGT được quy định tại Điều 4 Luật thuế GTGT và Điều 4 Nghị định số
79/2000/NĐ.CP ngày 29-12-2000. Theo đó, các đối tượng không chịu thuế
bao gồm 26 nhóm hàng hóa, dịch vụ đặc trưng của những nhóm hàng này là:
+ Những hàng hóa, dịch vụ mang tính chất phục vụ nhu cầu thiết yếu
cho đời sống nhân dân chẳng hạn các dịch vụ khám chữa bệnh, bảo hiểm và
các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, dạy học...
+ Một số mặt hàng Nhà nước chưa thể sản xuất được hay những mặt
hàng có ứng dụng về khoa học công nghệ.
+ Hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích kinh doanh, mà có tính chất
quân sự, vũ khí; và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc như: khí tài dùng cho
7
Chuyên đề tốt nghiệp
quốc phòng, an ninh, duy tu, sửa chữa, xây dựng các công trình văn hóa, nghệ
thuật...
+ Khuyến khích sản xuất trong nước như một số mặt hàng còn đang gặp
khó khăn: Sản xuất muối, nông nghiệp, thủy hải sản... ở dạng sơ chế thông
thường của các tổ chức cá nhân.
1.3.2. Căn cứ tính thuế GTGT
vụ trực tiếp hay gián tiếp phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong đời sống kinh tế
- xã hội.
+ Thuế suất 10%
Những nhóm hàng hóa, dịch vụ chịu thuế suất 10% thường là những
hàng hóa, dịch vụ thông thường trong đời sống xã hội như các loại thực phẩm
chế biến, dịch vụ khách sạn, ăn uống...
+ Thuế suất 20%
Thuế suất 20% áp dụng cho những nhóm hàng hóa, dịch vụ cao cấp hoặc
khả năng nhận được doanh lợi cao như: kinh doanh vàng, bạc, đá, quý, xổ số
kiến thiết và các loại hình xổ số khác, đại lý tàu biển; dịch vụ môi giới...
Hiện nay, đang có dự thảo về việc sửa đổi, bổ sung một số điều trong
luật thuế GTGT, trong đó có đề cập đến vấn đề bỏ mức thuế suất 20% và một
số nhóm hàng trước đây không chịu thuế GTGT và lý do sợ đánh trùng thuế
(nhóm hàng số 3 trong 26 nhóm) nay phải chịu thuế GTGT và sẽ được áp
dụng trong tháng 5-2003 tới đây.
1.3.3. Phương pháp tính thuế GTGT.
Có 2 phương pháp tính thuế GTGT: Phương pháp khấu trừ và phương
pháp tính trực tiếp trên GTGT.
a) Phương pháp khấu trừ thuế:
- Đối tượng áp dụng: Là tất cả các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh
nghiệp thành lập theo luật DNNN, luật doanh nghiệp, luật HTX, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị tổ chức kinh doanh khác trừ
các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT. Yêu
9
Chuyên đề tốt nghiệp
cầu chung phương pháp của các đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu
trừ là phải có đầy đủ các căn cứ, chứng từ hợp pháp để xác định số thuế
GTGT được khấu trừ đầu vào.
+ Xác định số thuế
- Phương pháp tính:
- Xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế phương pháp khấu trừ thuế
được tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào (gọi là thuế đầu vào) như sau:
10
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh
hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ.
+ Thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì chỉ được
khấu trừ số thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.
+ Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ phát sinh trong tháng nào được
kê khai khấu trừ khi xác định số thuế GTGT phải nộp của tháng đó, không
phân biệt đã xuất dùng hay để lại trong kho.
+ Hàng hóa mua vào tổn thất do trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân
phải bồi thường thì không được tính vào số thuế GTGT đầu vào được khấu
trừ khi kê khai thuế GTGT phải nộp.
b) Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
- Đối tượng áp dụng: Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh là người
Việt Nam; tổ chức cá nhân là người nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam
không theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chưa thực hiện đầy đủ các
điều kiện về kế toán, hóa đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương
pháp khấu trừ thuế; các cơ sở kinh doanh mua bán vàng, bạc, ngoại tệ.
- Phương pháp tính thuế
Thuế GTGT Giá trị gia tăng Thuế suất thuế GTGT
phải nộp
=
của hàng hóa, dịch vụ
x
của hàng hóa dịch vụ đó
xét hoàn thuế theo từng năm.
- Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách,
giải thể, phá sản có thuế GTGT nộp thừa, cơ sở có quyền đề nghị cơ quan
thuế hoàn lại số thuế GTGT nộp thừa.
- Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật.
- Hoàn thuế GTGT đã trả đối với các dự án sử dụng vốn ODA.
- Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không
hoàn lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hóa tại Việt Nam thì
được hoàn lại tiền thuế GTGT đã trả ghi trên hóa đơn GTGT khi mua hàng.
* Đối tượng được hoàn thuế GTGT có trách nhiệm:
- Lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế gửi cơ quan thuế.
- Khi lập và gửi hồ sơ phải kê khai đúng, trung thực các số liệu và phải
chịu trách nhiệm về số liệu kê khai trước pháp luật.
13
Chuyên đề tốt nghiệp
- Bổ sung hoặc giải trình nếu hồ sơ không rõ ràng.
1.3.5. Quy định về hóa đơn, chứng từ mua bán hàng hóa, dịch vụ
- Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ
thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT phải sử dụng hóa đơn thuế
GTGT (trừ trường hợp dùng hóa đơn, chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là
giá đã có thuế GTGT).
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính thuế trực tiếp trên
GTGT khi bán hàng hóa, dịch vụ phải sử dụng hóa đơn bán hàng.
Khi lập hóa đơn, cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy
định trên hóa đơn. Đối với hóa đơn GTGT phải ghi rõ giá bán chưa có thuế,
phụ thu và phí tính ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã
có thuế; nếu không tách riêng giá bán chưa có thuế và thuế GTGT, chỉ ghi
chung giá thanh toán thì thuế GTGT đầu ra phải tính trên giá thanh toán.
1.3.6. Miễn, giảm thuế GTGT
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và vào quan điểm của Nhà nước trong việc khuyến
khích hay hạn chế phát triển.
Quy mô sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường
vừa và nhỏ, vốn ít, công nghệ lạc hậu, tập trung chủ yếu các ngành thương
mại, dịch vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp... Các đơn vị này thường hoạt
động ở các ngành nghề có tính năng động cao dễ chuyển hướng kinh doanh,
dễ thích nghi hoàn cảnh, với yêu cầu của nền kinh tế.
Ý thức chấp hành pháp luật của các đơn vị ngoài quốc doanh thường
không cao. Điều đó được thể hiện qua việc thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn,
chứng từ mua bán hàng hóa chưa đầy đủ, không theo đúng quy định của Nhà
nước.
Việc giao dịch, mua, bán hàng hóa, dịch vụ chủ yếu bằng tiền mặt, rất ít
trường hợp thanh toán qua Ngân hàng bằng cách sử dụng thẻ, do đó gây
không ít khó khăn cho công tác kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức
năng đặc biệt là cơ quan thuế.
* Vai trò của các DNNQD
15
Chuyên đề tốt nghiệp
Để đạt được mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vững
mạnh vào năm 2020, tất yếu phải có sự tham gia của các thành phần kinh tế.
Nếu thành phần kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo thì thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh, trong đó có doanh nghiệp ngoài quốc doanh là nhân
tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển toàn diện và mạnh mẽ đối với nền
kinh tế, góp phần cùng kinh tế Nhà nước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ CNH –
HĐH và nâng cao nội lực của đất nước, trong hội nhập kinh tế quốc tế.
DNNQD đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm,
góp phần ổn định xã hội. Giải quyết công ăn việc làm là vấn đề bức xúc đối
với hầu hết các nước trên thế giới. Sự tồn tại và phát triển các DNNQD là
một phương tiện có hiệu quả để giải quyết vấn đề thất nghiệp, là nguồn chủ
yếu tạo ra việc làm mặc dù số lượng lao động làm việc trong một DNNQD
hiện đại hóa và nâng cao nội lực của đất nước, trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Các DNNQD phát triển ngày càng nhiều. Nếu như năm 1991 có 414
doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần thì
đến hết năm 2002 con số đó lên tới xấp xỉ 50.000 DNNQD trong đó 72% là
doanh nghiệp tư nhân, tiếp đến là công ty trách nhiệm hữu hạn 27% và cuối
cùng 1% là công ty cổ phần. Các doanh nghiệp này hoạt động trên nhiều lĩnh
vực khác nhau: trải rộng trên địa bàn cả nước tập trung nhiều nhất ở miền
Nam chiếm 73%. Các DNNQD có quy mô vốn và lao động nhỏ . Do vốn ít
nên thường có khả năng thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa. Và tỷ trọng đầu
tư vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ và lớn nhất trong khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh.
Việc phát triển các DNNQD đã góp phần quan trọng vào tăng GDP và
khắc phục tình trạng khan hiếm hàng hóa, lưu thông hàng hóa được thông
suốt trên phạm vi cả nước, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú
của nhân dân và đóng góp ngày càng tăng NSNN.
Tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt của các DNNQD đã sớm bộc lộ ra nhiều
khiếm khuyết. Với cơ chế thông thoáng trong việc thành lập doanh nghiệp
nên không ít những cá nhân, những hộ kinh doanh nhỏ với số vốn của mình
17
Chuyên đề tốt nghiệp
đã đứng ra thành lập công ty trong khi không hiểu về luật doanh nghiệp, trình
độ kinh doanh, quản lý kinh tế chưa cao nên dẫn đến tình trạng doanh nghiệp
thành lập nhưng không phát huy hiệu quả. Bên cạnh đó, các DNNQD rất nhạy
bén, linh hoạt trong kinh doanh và với mục đích là lợi nhuận cho nên nó cũng
bộc lộ hạn chế: kinh doanh trái phép, làm hàng giả, tìm mọi cách trốn lậu thuế
như bán hàng không xuất hóa đơn, in và sử dụng hóa đơn giả, ghi doanh thu
trên liên một và liên hai khác nhau.
Từ đó, cho thấy tốc độ phát triển các doanh nghiệp tăng nhanh, nhưng
chất lượng các doanh nghiệp thì yếu kém, vì vậy, việc xây dựng các chính
sách, biện pháp quản lý để giúp doanh nghiệp phát triển là một yêu cầu vô
Phòng KH-KT-TK (MT) Cục thuế truyền dữ liệu đăng ký thuế về Tổng
Cục thuế để kiểm tra, tránh sự trùng lắp mã số thuế trên phạm vi toàn quốc.
Tổng cục tiến hành kiểm tra dữ liệu đăng ký thuế các Cục thuế trên
phạm vi toàn quốc để tránh sự trùng lắp, đồng thời kiểm tra quan hệ doanh
nghiệp chủ quản với đơn vị trực thuộc thông qua mã số thuế.
Sau khi kiểm tra, Tổng cục thuế gửi trả kết quả kiểm tra cho các cục
thuế.
5. In giấy chứng nhận cấp mã số.
Phòng KH-KT-TK (MT) nhận kết quả kiểm tra từ Tổng cục. Đối với
các trường hợp được chấp thuận thì tiến hành in giấy chứng nhận đăng ký
thuế và bảng kê danh sách mã số ĐTN chuyển cho các phòng quản lý thu.
Các phòng Quản lý thu tổ chức lưu đăng ký thuế vào hồ sơ của từng doanh
nghiệp.
b) Quy trình xử lý tờ khai/chứng từ nộp thuế
1. Lập và kiểm tra tờ khai thuế:
Phòng quản lý thu hướng dẫn và nhắc nhở các doanh nghiệp lập các tờ
khai thuế theo mẫu và gửi cơ quan thuế theo đúng hạn quy định của Luật
thuế: lập và gửi tờ khai thuế GTGT trong 10 ngày đầu tháng.
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Phòng Hành chính nhận tờ khai thuế, đóng dấu ngày nhận vào tờ khai và
chuyển từo khai cho các phòng Quản lý thu. Phòng Quản lý thu nhận tờ khai
và tiến hành kiểm tra phát hiện lỗi.
Phòng Quản lý thu có trách nhiệm liên hệ với ĐTNT để sửa lỗi tờ khai.
Thông qua kiểm tra tờ khai, bằng kinh nghiệm quản lý của mình, nếu cán bộ
quản lý thu còn phát hiện ra các nghi ngờ về việc kê khai thuế thì phải đánh
dấu tờ khai có nghi ngờ cần kiểm tra. Sau khi kiểm tra tờ khai thuế, phòng
Quản lý thu phân loại và gửi tờ khai cho Phòng KH-KT-TK (MT) ngay trong
ngày.
2. Nhập tờ khai
thuế mà vẫn chưa nộp thuế để gửi phòng KH-KT-TK (MT) phát hành thông
báo thuế lần 2 gồm: số tiền thuế chưa nôpọ và số tiền phạt của số thuế nộp
chậm.
Ký và gửi thông báo thuế: Thông báo thuế in xong được chuyển cho lãnh
đạo cục thuế ký, sau đó được chuyển tới doanh nghiệp và được lưu một bản
vào hồ sơ của doanh nghiệp.
5. Xử lý phạt
+ Tính phạt nộp chậm: Phòng KH-KT-TK (MT) tính phạt 0,1%/ngày
trên số tiền thuế nộp chậm đối với các ĐTNT nộp chậm tiền thuế. Việc tính
phạt nộp chậm căn cứ vào số ngày và số thuế nộp chậm. Số ngày nộp chậm
được xác định như sau:
- Trường hợp đến lần thông báo hiện tại, ĐTNT đã nộp thuế của kỳ trước
nhưng chậm so với ngày hạn định (25 tháng trước) thì số ngày tính phạt nộp
chậm được tính từ ngày 26 tháng trước đến ngày ĐTNT nộp thuế vào Kho
bạc ghi trên giấy nộp tiền hoặc ngày Ngân hàng trích chuyển tài khoản ghi
trên giấy nộp tiền.
- Trường hợp đến lần thông báo hiện tại, đối tượng vẫn chưa nộp thuế
ghi trên thông báo kỳ trước, số ngày phạt nộp chậm số thuế kỳ trước được
tính từ ngày 26 tháng trước đến ngày phát hành thông báo hiện đại.
21
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Phạt hành chính: Phòng Quản lý thu hoặc phòng TT-XLTT xem xét
ĐTNT cần phạt hành chính thuế, dự thảo quyết định phạt hành chính trình
lãnh đạo Cục duyệt.
6. Lập lệnh thu:
Phòng Quản lý thu theo dõi tình hình nợ đọng thuế, lựa chọn và lập danh
sách các ĐTNT nợ thuế lớn, kéo dài nhiều tháng để đề xuất lập lệnh thu.
Phòng Quản lý thu phối hợp với Phòng KH-KT-TK (MT) để xác định số thuế
nợ đọng sẽ ghi vào lệnh thu, dự thảo lệnh thu và tờ trình lãnh đạo duyệt. Việc
lập và phát hành lệnh thu phải được thực hiện trong vòng 10 ngày đầu tháng.
Các trường hợp nghi ngờ ĐTNT khai man, trốn lậu thuế thì phòng TT-
XLTT lập kế hoạch kiểm tra trực tiếp tại cơ sở trình lãnh đạo duyệt.
10. Kiểm tra trực tiếp ĐTNT
Phòng TT-XLTT phối hợp với phòng Quản lý thu thực hiện kiểm tra
trực tiếp tại cơ sở theo các quy trình kiểm tra quy định của ngành.
Phòng KH-KT-TK (MT) nhận và nhập danh sách kết quả kiểm tra, điều
chỉnh số thuế phải nộp kỳ hiện tại. Nếu đã phát hành thông báo thuế thì đưa
kết quả kiểm tra vào điều chỉnh số thuế phải nộp cho kỳ thuế tiếp theo.
c) Quy trình xử lý hoàn thuế
1. ĐTNT lập và gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế
ĐTNT lập hồ sơ theo quy định để đề nghị hoàn thuế và gửi đến cơ quan
thuế trực tiếp quản lý thu. Phòng Quản lý thu giải đáp thắc mắc về thủ tục nộp
hồ sơ đề nghị hoàn thuế cho các ĐTNT. Phòng hành chính tiếp nhận hồ sơ,
làm thủ tục và chuyển cho các phòng Quản lý thu.
2. Kiểm tra hồ sơ, xác định số thuế được hoàn.
Phòng Quản lý thu tiến hành kiểm tra các thủ tục hồ sơ đề nghị hoàn
thuế của ĐTNT như:
+ Hồ sơ hoàn thuế đã đầy đủ theo quy định chưa?
23
Chuyên đề tốt nghiệp
+ ĐTNT và trường hợp ghi trong hồ sơ đề nghị hoàn thuế có đúng đối
tượng và trường hợp được hoàn thuế không?
+ Các chỉ tiêu trong hồ sơ có đầy đủ và đúng quy định không?
Sau khi kiểm ra hồ sơ đề nghị hoàn thuế, nếu phát hiện hồ sơ lập không
đầy đủ thì cán bộ phòng Quản lý thu thông báo lại cho ĐTNT biết để bổ sung
kịp thời.
Trường hợp ĐTNT không thuộc diện hoàn thuế theo Luật phải thông báo
cho đối tượng biết và giải thích lý do tại sao không hoàn và trả lại hồ sơ cho
đối ưtợng.
Kiểm tra, xác định số thuế hoàn trả
Trong thời gian 5 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoàn thuế
củacơ quan thuế, kho bạc tiến hành thủ tục hoàn thuế cho các doanh nghiệp.
Phòng KH-KT-TK (MT) nhận và nhập chứng từ hoàn thuế từ Kho bạc chuyển
sang.
25