Kinh tế học vi mô: Thị trường lao động
Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét về thị trường lao động một cách chi tiết
hơn. Do chúng ta đã bàn về
cầu tài nguyên một cách tương đối chi tiết trong
chương trước, hãy bắt đầu xem xét cung lao động.
Tổng quan
Các cá nhân có một lượng thời gian cố định được sử dụng cho các làm việc và
nghỉ ngơi. Nếu một giờ bổ sung được sử dụng cho công việc, khi đó các hình thức
sử dụng thay thế khác sẽ ít đi một giờ. Chi phí cơ hội của một giờ nghỉ ngơi là tiền
lương từ bỏ để sử dụng cho nghỉ ngơi. Vì vậy, một sự tăng lương làm tăng chi phí
cơ hội của thời gian nghỉ ngơi và dẫn tới
hiệu ứng thay thế (substitution effect)
làm giảm thời gian nghỉ ngơi và tăng thời gian làm việc. Tuy nhiên, tiền lương
tăng cũng tăng thu nhập thực tế của công nhân và dẫn tới tăng mong muốn nghỉ
ngơi của mỗi cá nhân (giả sử nghỉ ngơi là một hàng hoá thông thường). Hiệu ứng
thứ hai được gọi là
hiệu ứng thu nhập (income effect), có xu hướng làm tăng
lượng thời gian nghỉ ngơi và làm giảm thời gian cho công việc khi tiền lương tăng.
Các cá nhân sẽ làm việc nhiều hơn khi tỷ lệ tiền lương tăng nếu
hiệu ứng thay thế
lớn hơn hiệu ứng thu nhập. Như biểu đồ dưới đây cho thấy, một đường cung lao
động của một người sẽ là đường có độ dốc đi lên do các tỷ lệ tiền lương trong đó
hiệu ứng thay thế lớn hơn hiệu ứng thu nhập. Mặc dù vậy, khi tiền lương đủ lớn,
nói chung mọi người cho rằng hiệu ứng thu nhập cuối cùng sẽ có tác động lớn hơn
hiệu ứng thay thế và đường cung lao động sẽ bị bẻ gập xuống dưới (như phần trên
cùng của biểu đồ dưới đây).
Đường cung lao động thị trường là tổng các đường cung lao động nằm ngang của
tất cả các cá nhân trên một thị trường lao động. Cho dù thậm chí các cá nhân có
thể có đường cung lao động bị bẻ xuống dưới, người ta cho rằng đường cung lao
động thị trường sẽ có độ dốc đi lên. Một lý do cho kết quả này là các cá nhân sẽ
nhằm thuyết phục anh ta hoặc cô ta chấp nhận mức nguy hiểm thêm.
Biểu đồ dưới đây minh hoạ cho sự đền bù khác biệt tiền lương đi cùng với mức
nguy hiểm của công việc.Trong ví dụ này, khác biệt tiền lương đền bù bằng
Wr -
Ws (sự khác biệt tiền lương giữa công việc nguy hiểm và công việc an toàn
hơn).Đền bù khác biệt tiền lương có thể tồn tại với bất kỳ đặc tính công việc nào được
các công nhân đánh giá có giá trị âm hoặc dương. Với các
điều kiện khác không
đổi (ceteris paribus)
, tiền lương sẽ cao hơn trong những công việc ít thoải mái
hơn và sẽ thấp hơn trong những công việc dễ chịu hơn.
Như lưu ý trước đó, nguồn nhân lực của một cá nhân là một cách tính năng suất
lao động của anh ta hoặc cô ta. Các cá nhân có năng suất lao động cao hơn sẽ nhận
được tiền lương nhiều hơn. Đầu tư vào giáo dục, đào tạo hoặc y tế sẽ được cho là
tăng vốn nhân lực của mỗi cá nhân.
Có hai loại nguồn nhân lực:
nguồn nhân lực nói chung (general human capital)
và
nguồn nhân lực của một công ty cụ thể (firm-specific). Nguồn nhân lực nói
chung tăng năng suất của một cá nhân hơn trong bất cứ công ty nào. Nguồn nhân
lực cụ thể của một công ty tăng
năng suất lao động của một cá nhân chỉ với công
việc hiện tại của anh ta hoặc cô ta. Giáo dục mà mỗi cá nhân nhận được ở bậc tiểu
học, trung học và đại học tăng vốn nhân lực nói chung của mỗi cá nhân. Đào tạo
về quy trình sản xuất cụ thể, chính sách hoặc các thủ tục được sử dụng tại một
công ty cụ thể làm tăng nguồn nhân lực công ty cụ thể của mỗi cá nhân. Do nguồn
nhân lực trong một công ty cụ thể tăng năng suất lao động của một công nhân chỉ
nhiều
so với những công nhân khác. Các ngôi sao điện ảnh, vận động viên, nhạc
sĩ, luật sư… thường có mức lương cao hơn nhiều so với những người lao động
khác trong cùng các nghề này. Lý do chính cho điều này là những "siêu sao" này
mang lại cho công ty một lợi tức lớn hơn nhiều so với các diễn viên, vận động
viên, nhạc sĩ, luật sư khác mang lại… Những "siêu sao" này làm kín chỗ tại rạp
hát, sân vận động… nhiều hơn so với những người khác ít có chất lượng siêu sao
hơn có thể làm được.