Ngăn ngừa và xử lí nợ quá hạn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn - Pdf 96

Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Lời Mở Đầu
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một sản phẩm được hình thành và phát triển
cùng với sự phát triển của xã hội loài người, nhưng không giống với nhiều sản
phẩm khác, xét về bản chất các hành vi mà nó ứng xử, người ta coi NHTM như
là một sản phẩm xã hội một ngành công nghiệp dịch vụ với tính cộng đồng và
tính nhân văn rất cao, chằng chịt vô số các mối liên hệ với đông đảo công
chúng, không chỉ trải rộng phạm vi toàn quốc gia mà còn lan tỏa trong phạm vi
quốc tế. Cũng không giống như các tổ chức khác, NHTM một định chế tài
chính trung gian luôn phải kinh doanh bằng tiền của người khác. Do vậy, vấn
đề quan trọng đặt ra là hiệu quả hoạt động của các NHTM. Hoạt động tín dụng
ở mọi thời kì luôn chiếm vị trí quan trọng bậc nhất trong việc đóng góp vào
phần lợi nhuận của ngân hàng. Nhưng lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn,
hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn phải đối mặt với hàng loạt các khó khăn,
trong đó phải kể đến rủi ro nợ quá hạn.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng ngừa rủi ro trong hoạt động
tín dụng ngân hàng mà chủ yếu là hạn chế rủi ro nợ quá hạn, do vậy mà em đã
lựa chọn đề tài:
“Ngăn ngừa và xử lí nợ quá hạn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển
Nông Thôn Hà Nội”

1
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Nợ quá hạn thường xảy ra trong hoạt động cho vay bảo lãnh song trong pham vi
đề tài, em xin chỉ đi sâu nghiên cứu nợ quá hạn trong hoạt động cho vay.
Bố cục chuyên đề gồm:

2
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ

- Cho vay: là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, NHTM không chỉ đi huy động
vốn mà còn phải sử dụng vốn huy động được để cho vay và đầu tư các tài sản
có tính sinh lời
Các NHTM được cấp tín dụng cho các tổ chức cá nhân dưới hình thức cho vay
chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá bảo lãnh, cho thuê tài chính và

các hình thức khác theo quy định của nhà nước. Hoạt động tín dụng của các
NHTM cũng được đa dạng hóa từ hình thức đầu tư đến các loại vốn cho vay
với thời hạn và điều kiện khác nhau nhằm thu lợi nhuận tối đa trên cơ sở đảm
bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng với mục đích cuối cùng là an toàn và
sinh lời.
- Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: để đảm bảo chi phí lưu thông và tăng độ an
toàn, thuận tiện cho các doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh, ngân hàng
thực hiện dịch vụ thu chi hộ và thực hiện các dịch vụ thanh toán khác do Ngân
hàng nhà nước (NHNN) quy định. Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện các dịch
vụ ngân quỹ là dịch vụ thu phát tiền mặt cho khách hàng, đồng thời tổ chức và
tham gia các hệ thống thanh toán nội bộ và hệ thống thanh toán liên ngân hàng
trong nước và quốc tế.
Hoạt động này ngoài việc đem lại thu nhập cho ngân hàng còn có tác dụng thu
hút khách hàng gửi tiền vào tài khoản ngân hàng, từ đó thu hút khách hàng cho
các hoạt động tài chính.
- Các hoạt động khác: để tạo lợi thế kinh doanh cũng như tận dụng mọi khả
năng vốn có của mình, NHTM ngoài các hoạt động cơ bản trên còn thực hiện
các hoạt động khác như góp vốn cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh
doanh ngoại hối và vàng, nghịêp vụ uỷ thác và đại lý, tư vấn cùng các dịch vụ
khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật.

II- Tín dụng ngân hàng
1- Khái niệm: Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin
tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai. Có thể

3- Các nguyên tắc của tín dụng ngân hàng:
Hoạt động tín dụng giữ vai trò rất quan trọng trong các hoạt động của ngân
hàng thương mại. Chất lượng của hoạt động tín dụng có ý nghĩa sống còn đối
với NHTM. Do vậy hoạt động tín dụng cần tuân theo nguyên tắc nhất định
nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích:
Vốn vay ngân hàng cấp cho các doanh nghiệp là nhằm đáp ứng các nhu cầu
kinh doanh. Nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp phải gắn với mục đích hoạt
động sản xuất kinh doanh. Chính mục đích vay có ảnh hưởng đến chất lượng
của các khoản vay. Để được vay vốn bên đi vay phải giải trình với ngân hàng
về mục đích vay vốn, kế hoạch vay vốn, số vốn vay, kế hoạch sản xuất kinh
doanh.
- Hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng thời hạn đã thoả thuận:
Thực hiện vai trò trung gian của mình, ngân hàng vừa là người đi vay vừa là
người cho vay. Với tư cách là người đi vay, ở quan hệ này ngân hàng thực hiện
các hành vi giao dịch cho chính bản thân mình. Bởi vậy ngân hàng có trách
nhiệm trả tiền cho người gửi cả gốc và lãi. Với tư cách là người cho vay, ngân
hàng có quyền quyết định cho người khác vay và yêu cầu người đi vay trả cả
gốc lẫn lãi đúng thời hạn.

III- Nợ quá hạn
1- Khái niệm:
Hoạt động tín dụng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của NHTM và
đem lại phẩn lớn thu nhập cho các NHTM. Do vậy một trong những phương
hướng hoạt động cơ bản của ngành ngân hàng trong giai đoạn hiện nay là nâng
cao chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ nợ quá hạn xuống thấp.Trong quan hệ tín
dụng việc phát sinh nợ quá hạn là điều không thể tránh khỏi. Nhưng nợ quá hạn
phát sinh vượt quá tỷ lệ cho phép sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán
của NHTM. Vậy thế nào là nợ quá hạn?
“Khi hết hạn trả nợ hoặc hết hạn cho vay, nếu khách hàng không có khả

- Nợ quá hạn bằng VNĐ
- Nợ quá hạn bằng ngoại tệ
*Căn cứ theo thời hạn của khoản vay:
- Nợ quá hạn của các khoản vay ngắn hạn
- Nợ quá hạn của các khoản vay trung và dài hạn
*Căn cứ theo nguyên nhân phát sinh:
- Nợ quá hạn do nguyên nhân chủ quan
- Nợ quá hạn do nguyên nhân khách quan
3- Nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn(NQH):

a) Nguyên nhân khách quan:
- Nguyên nhân bao trùm là sự biến động về kinh tế: Việt Nam mới chuyển từ
nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, tuy có học hỏi được nhiều kinh
nghiệm của các nước đi trước song không thể tránh được hết những sai lầm của
các bước đi ban đầu. Hoạt động trong cơ chế thị trường, đặc biệt là trong giai
đoạn chuyển đổi này chứa đựng nhiều rủi ro tất yếu không tránh khỏi có những
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản dẫn đến tình trạng NQH đối với ngân
hàng.
- Quy định phát triển của nền kinh tế mang tính chu kỳ: Lúc thịnh vượng kinh tế
phát triển mạnh, doanh nghiệp sẵn sàng có khả năng chi trả. Lúc suy thoái thậm
chí không trả được nợ quá hạn, gây ra tình trạng nợ quá hạn
- Sự điều khiển của bàn tay vô hình: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì
quy luật cạnh tranh diễn ra hết sức quyết liệt cộng với những thay đổi thường
xuyên về nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng làm cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp diễn ra hết sức khó khăn, có thể dẫn đến sự đình đốn,
phá sản của doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh
nghiệp.
- Môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, cơ chế chính sách thường xuyên thay đổi,
hệ thống pháp luật không đồng bộ: Đây là vấn đề tất yếu của một đất nước đang
trong quá trình kiến thiết và phát triển. Tuy nhiên điều này đôi khi cũng làm

*Từ phía ngân hàng:

- Trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn hạn chế: khi thẩm định dự án cho
vay vốn, cán bộ tín dụng yếu về nghiệp vụ, khả năng phân tích các báo cáo tài
chính kém kết hợp với việc thiếu thông tin về khách hàng nên chưa đánh giá
được đầy đủ về tính khả quan của dự án
- Việc chấp hành các nguyên tắc, thể lệ tín dụng quy trình xét duyệt chưa
nghiêm túc. Các cán bộ tín dụng không xem xét kĩ hồ sơ và điều tra kĩ về khách
hàng cũng như việc đánh giá sai lệch về giá trị tài sản thế chấp đã làm cho nguy
cơ nợ quá hạn của ngân hàng tăng cao.
- Kiểm tra, giám sát vốn vay chưa chặt chẽ: Theo quy định tại khoản 1QĐ1627
thì tổ chức tín dụng có trách nhiệm giám sát quá trình vay vốn và trả nợ của
khách hàng. Trách nhiệm này thường gắn với cán bộ tín dụng trực tiếp thẩm
định việc cho vay.
- Định kỳ trả nợ chưa thích hợp với vòng luân chuyển vốn: kỳ hạn trả nợ được
hiểu là một khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thoả thuận giữa tổ
chức tín dụng và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó khách hàng
phải trả một phần hoặc toàn bộ tiền vay cho tổ chức tín dụng. Do vậy, kỳ hạn
trả nợ phải được phải xác định dựa trên chu kỳ sản xuất, kế hoạch bán hàng và
doanh thu.
- Tư tưởng chạy theo thành tích, tăng dư nợ một cách không căn cứ vượt lên
trên nhu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu vốn cần thiết hợp lý của doanh
nghiệp và cả khả năng quản lý hiện có của các doanh nghiệp.
4- ảnh hưởng của nợ quá hạn
Nợ quá hạn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của một ngân hàng và. Tuy nhiên
ảnh hưởng của nợ quá hạn không chỉ dừng lại trong phạm vi ngân hàng. Sở dĩ
người ta phải quan tâm nhiều đến vấn đề nợ quá hạn của ngân hàng bởi nó có

ảnh hưởng sâu rộng tới các doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Sau đây ta sẽ ngiên
cứu ảnh hưởng của nợ quá hạn:

Tổng dư nợ cao sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng.
Nếu khách hàng nắm bắt được dấu hiệu này sẽ ồ ạt đến rút tiền và ngân hàng
gặp khó khăn trong huy động vốn càng làm trầm trọng thêm tình trạng này.
- Giảm uy tín của ngân hàng: do hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng tiền của
người khác nên khi tỷ lệ NQH của ngân hàng cao tức là chất lượng tín dụng của
ngân hàng càng thấp có ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng, sẽ
làm cho khách hàng không còn tin tưởng vào hiệu quả hoạt động kinh doanh
của ngân hàng dẫn đến việc làm giảm đáng kể các quan hệ giao dịch của ngân
hàng
- Nguy cơ phá sản: đây là ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của NQH đối với hoạt
động ngân hàng. Nếu NQH ở mức cao không sớm được hạn chế sẽ dẫn tới hàng
loạt các ảnh hưởng xấu như đã kể trên và cuối cùng là sự phá sản của ngân
hàng.
*ảnh hưởng đối với khách hàng:
- Giảm tốc độ chu chuyển vốn : trong nền kinh tế hiện đại, hầu hết các hoạt
động thanh toán giao dịch của khách hàng đều được thực hiện thông qua ngân
hàng và hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng chủ yếu dựa vào vốn vay
ngân hàng. Do vậy, tình trạng Nợ quá hạn dây dưa khó đòi của khách hàng sẽ
làm ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ của khách hàng với ngân hàng, làm giảm
tốc độ chu chuyển vốn của khách hàng.

- Tăng chi phí hoạt động: Lãi suất ngân hàng được quy định cao hơn mức lãi
suất trần. Như vậy nếu một doanh nghiệp phát sinh NQH sẽ làm tăng Chi phí
hoạt động lên và càng làm tăng gánh nặng trả nợ ngân hàng.
- Giảm uy tín: Việc phát sinh NQH sẽ làm khách hàng bị mất uy tín đối với
ngân hàng. Vậy mà trong hoạt động của mình, khách hàng có rất nhiều mối
quan hệ với ngân hàng. NQH phát sinh là vật cản lớn gây ra khó khăn cho
khách hàng trong quan hệ với ngân hàng. Sẽ không có một ngân hàng nào
muốn duy trì quan hệ lâu dài với doanh nghiệp có tỷ lệ nợ quá hạn cao bởi đây
chính là tín hiệu nói lên hoạt động kém hiệu quả doanh nghiệp.

Tìm hiểu nắm bắt khách hàng là một trong những yếu tố tạo nên thành công của
ngân hàng. Vì vậy trước khi thiết lập quan hệ tín dụng, ngân hàng phải nghiên
cứu rõ về khách hàng của mình. Trên cơ sở đó ngân hàng đánh giá khả năng chi
trả của khách hàng.
- Thiết lập hệ thống thông tin khách hàng:
Đây là một công cụ đắc lực giúp cho cả ngân hàng và khách hàng cùng phát
triển. Họat động tín dụng của ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động
khách hàng. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển không thể thiếu ngân
hàng. Ngân hàng là nhà quản lý ngân quỹ giúp các doanh nghiệp, cung cấp các
khoản tín dụng cho doanh nghiệp hoạt động vào những thời điểm khó khăn và
thực hiện dịch vụ thanh tóan giữa các doanh nghiệp. Đồng thời, sự phát triển
của các doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của ngân hàng.

Với dịch vụ này, ngân hàng có thể tạo ra một thị trường mới, tăng thêm lợi
nhuận đồng thời giảm được rủi ro.
- Phân tán rủi ro:
Để tránh được rủi ro, ngân hàng cần đa dạng hoá đối với tượng cho vay, tránh
chỉ dồn vốn vào một số ngành nghề nhất định trong nền kinh tế, thực hiện đồng
tài trợ với các khoản vay lớn mà ngân hàng không thể kiểm soát nổi. Ngoài ra
ngân hàng có thể tham gia bảo hiểm để tránh rủi ro.
- Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ tín dụng:
Đội ngũ cán bộ tín dụng là đội ngũ có quan hệ trực tiếp với khách hàng, trực
tiếp làm công tác thẩm định khách hàng. Do vậy trình độ của cán bộ tín dụng có
ảnh hưởng khá quan trọng đến chất lượng của các khoản vay.
*Đối với khoản nợ có dầu hiệu xấu:
- Tăng cường tư vấn cho khách hàng:
Trong trường hợp khách hàng gặp khó khăn trong kinh doanh, ngân hàng có thể
tư vấn cho doanh nghiệp hướng giải quyết, từng bước củng cố thu nhập tạo
nguồn thu trả ngân hàng. Ngoài ra ngân hàng có thể giúp khách hàng phân tích
tài chính và dự đoán xu hướng phát triển, thậm chí mời chuyên gia để cho lời

Việc quyết định lựa chọn giải pháp xử lí NQH nào thường bị chi phối bởi quan
điểm về “đạo đức tín dụng” và chiến lược kinh doanh, chiến lược khách hàng
của người điều hành ngân hàng thương mại, trong đó phải kể đến các yếu tố
chính sau:
- Tình hình thu ngân và tổn thất có thể xảy ra đối với các khoản vay.
- Sự thật thà và thái độ của người vay đối với các khoản nợ

- Sức mạnh tài chính và khả năng chi trả của người vay
- Thái độ của các chủ nợ khác của khách hàng
7.2- Các biện pháp xử lý chủ yếu:
a.Biện pháp khai thác:
Khi người vay ngân hàng gặp khó khăn về tài chính, ngân hàng có thể và
thường tham gia tổ chức khai thác, dĩ nhiên phải đặt trong trường hợp người
vay thật thà và thái độ của họ đối với khoản nợ và chi trả là thoả đáng. Ngân
hàng có thể thực hiện các biện pháp sau:
- Ngân hàng có những lời khuyên để giúp người vay tạo nguồn thu trả nợ cho
ngân hàng. Bằng kinh nghiệm và sự am hiểu của mình trên nhiều lĩnh vực, ngân
hàng sẽ có những lời khuyên để giúp người vay khôi phục tình hình kinh doanh
- Gia hạn nợ: Một khi khàch hàng đã gặp phải khó khăn trong việc trả nợ gốc
thì phần lãi càng khó có khả năng thanh toán cho ngân hàng. Vì vậy chế tài
chuyển nợ quá hạn với lãi suất cao càng làm khó khăn thêm cho khách hàng.
Trong trường hợp này, ngân hàng phải tiến hành điều tra, xác minh xem nguyên
nhân chính do đâu và thái độ của người vay như thế nào? Nếu do các nguyên
nhân: thua lỗ do giá cả thị trường biến động mạnh ngoài dự kiến, sản lượng và
doanh thu đạt thấp, thiên tai địch hoạ….thì món vay cần phải xem xét ra hạn.
- Điều chỉnh kỳ hạn nợ: Đối với các khoản vay mà ngân hàng định kì trả nợ
không đúng chu kỳ kinh doanh, cho vay ngắn hạn các đối tượng trung và dài
hạn thì ngân hàng nên xem xét điều chỉnh kỳ hạn nợ cho phù hợp để tạo điều
kiện cho khách hàng có thể trả nợ đúng hạn.
- Cấp phát thêm vốn để “nuôi nợ”: trong những giai đoạn khó khăn, một số


- Sử dụng biện pháp lý để thu hồi nợ vay: Ngân hàng có thể nhờ công an địa
phương thúc ép trả nợ hoặc khởi kịên ra toà. Đây là biện pháp mà các ngân
hàng đều không muốn áp dụng vì nó rất phức tạp, thủ tục lại rườm rà và mất
nhiều thời gian.
-Thành lập uỷ ban chủ nợ: Nếu ngân hàng là một trong số các chủ nợ của khách
hàng và chủ nợ nào cũng muốn lấy lại tiền và tất cả các chủ nợ đều có thứ tự ưu
tiên trả nợ như nhau thì một uỷ ban trả nợ có thể được thành lập. Sau đó uỷ ban
này bán số tài sản của doanh nghiệp và chia số tiền thu được cho các chủ nợ
khác nhau. Trong trường hợp các chủ nợ không thoả thuận được với nhau thì lại
cần đến sự phán xử của người khác.
chương II:
Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng nông nông nghiệp
và phát phát triển nông thôn thành phố Hà Nội
I)Giới thiệu về NHNo &PTNTTP Hà Nội:
1.Sự hình thành và phát triển:
Tháng 3/1998,hệ thống ngân hàng Việt Nam có sự chuyển đổi từ hệ thống ngân
hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp, Ngân hàng nông nghiệp thành
phố Hà Nội (NHNoHN) được thành lập trên cơ sở tách chuyển từ NHNN tại
thành phố Hà Nội và 12 huyện ngoại thành, ra đời sau nghị định 53/HĐBT ban
hành ngày 26/3/1988 và hai pháp lệnh 1990/NHNN có hiệu lực. Đây là một
ngân hàng thương mại quốc doanh, là ngân hàng thành viên và hạch toán phụ
thuộc của NHNoVN hoạt động trên địa bàn Hà Nội.

Tháng 9/1991,quốc hội khoá IX đã phân định lại địa giới hành chính các tỉnh-
thành phố,huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội được tách chuyển về các tỉnh
khác nên qui mô và phạm vi hoạt động của NHNoHN bị thu hẹp. Đứng trước
tình hình đó kết hợp với định hướng mở rộng mạng lưới kinh doanh,NHNNo đã
chuyển hướng kinh doanh tập trung khai thác địa bàn nội thành Hà Nội bằng
cách thành lập thêm 8 ngân hàng quận nội thành nhằm khai thác hết nguồn vốn

Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lí

Phòng
Hành
chính
Phòng
Kế
toán
Phòng
Vi
tính
Phòng
Kế
hoạch
Phòng
Kinh
doanh
Phòng
Tổ
chức
cán bộ
Phòng
Kiểm
tra,
kiểm
soát
Phòng
Thanh
tra
quốc

hoạch đến các chi nhánh NHN
0
&PTNT trên địa bàn này, xây dựng các báo
cáo trình giám đốc.
- Cân đối nguồn vốn, sử dụng nguồn vốn và điều hoà vốn kinh doanh đối
với chi nhánh NHN
0
&PTNT trên địa bàn.

- Làm đầu mối thực hiện thông tin phòng ngừa rủi ro và xử lý thông tin tín
dụng.
Phòng kinh doanh: Phòng kinh doanh thông qua các nghiệp vụ chuyên
môn là cho vay và đầu tư, tiến hành.
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng, phân loại khách hàng và đề
xuất các chính sách ưu đãi tín dụng đối với khách hàng.
- Thẩm định và cho vay theo cấp uỷ quyền nhằm mở rộng hoạt động, đảm
bảo an toàn và hiệu quả.
- Tiếp nhận và thực hiện các chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trong và
ngoài nước, trực tiếp làm dịch vụ uỷ thác nguồn vốn thuộc Chính Phủ, bộ,
ngành và các cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước.
- Tổng hợp, báo cáo định kỳ và thường xuyên theo dõi, tư vấn cho Giám đốc
về những lĩnh vực do phòng phụ trách.
Phòng thanh toán quốc tế:
- Thực hiện công tác thanh toán ngoài nước của chi nhánh, nghiên cứu xây
dựng và áp dụng các kỹ thuật thanh toán hiện đại.
- Phòng chuyên thực hiện những nghiệp vụ: thanh toán xuất nhập khẩu, mở
L/C, chuyển tiền nước ngoài cho các cá nhân và các Doanh nghiệp, thanh
toán nhờ thu, thanh toán biên mậu với các nước có chung biên giới, thanh
toán quốc tế thông qua mạng SWIFT và cho vay tài trợ xuất nhập khẩu…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status