Tài liệu Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các khu công nghiệp tập trung Hà Nội doc - Pdf 96

Luận văn
Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của các khu công nghiệp
tập trung Hà Nội
Líp CN 43B
1
MỤC LỤC
L I NÓI U Ờ ĐẦ 3
I. C S LÝ LU NƠ Ở Ậ 5
1. Khu công nghi pệ 5
2. Phân lo i các khu công nghi pạ ệ 6
3. Vai trò c a các khu công nghi p.ủ ệ 7
4. c i m c a các khu công nghi p trên a b n H N iĐặ đ ể ủ ệ đị à à ộ 7
II. TH C TR NG HO T NG C A KHU CÔNG NGHI P H N IỰ Ạ Ạ ĐỘ Ủ Ệ À Ộ . . .10
1. Tình hình ho t ngạ độ 10
a. Tình hình u t v o các khu công nghi p H N i trong 6 tháng đầ ư à ệ à ộ
u n m 2003.đầ ă 10
b. V tình hình u t cho xây d ng c s h t ng cho doanh ề đầ ư ự ơ ở ạ ầ
nghi p.ệ 12
c. V i tác c a các d án u t v o KCNề đố ủ ự đầ ư à 12
d. K t qu ho t ng s n xu t kinh doanhế ả ạ độ ả ấ 12
2. Nh ng t n t i.ữ ồ ạ 13
II.3. M t s nguyên nhân gây c n tr ho t ng c a khu công nghi p Hộ ố ả ở ạ độ ủ ệ à
N iộ 16
II.4. ánh giá tác ng c a các khu công nghi p H N i n s phát Đ độ ủ ệ à ộ đế ự
tri n c a n n kinh t Vi t Nam nói chung v H N i nói riêngể ủ ề ế ệ à à ộ 18
III. GI I PH PẢ Á 19
1. Các gi i pháp nh m nâng cao hi u qu ho t ng s n xu t kinh ả ằ ệ ả ạ độ ả ấ
doanh trên a b n th nh ph H N iđị à à ố à ộ 19
1.1. Các gi i pháp t phía th nh ph H N iả ừ à ố à ộ 19
1.2. Các gi i pháp t phía các khu công nghi p H N iả ừ ệ à ộ 23

tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các khu công nghiệp tập
trung Hà Nội”.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận chung
Chương II: Thực trạng của các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn Hà Nội
Chương III: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các
khu công nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Ngô Thị Hoài Lam đã tận tình giúp đỡ em hoàn
thành đề tài này.
Líp CN 43B
3
Hà Nội, ngày tháng năm 2004
Sinh viên
Vũ Thị Phương Thảo
Líp CN 43B
4
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khu công nghiệp
Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp. Khu công nghiệp chuyên sản xuất
hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác
định không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành
lập. Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất và khu công nghệ cao.
Doanh nghiệp khu công nghiệp là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong
khu công nghiệp, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ.
Doanh nghiệp sản xuất khu công nghiệp là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp
được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp.
Doanh nghiệp dịch vụ khu công nghiệp là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động
trong khu công nghiệp, dịch vụ sản xuất công nghiệp.
Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh (trừ trường hợp có quy định riêng cho từng loại
ban quản lý) là cơ quan quản lý trực tiếp các khu công nghiệp, khu chế xuất trong phạm vi địa

 Theo mức độ mới - cũ, khu công nghiệp chia làm 3 loại:
- Các khu công nghiệp cũ xây dựng trong thời kỳ bao cấp (từ trước khi có chủ trương
xây dựng khu chế xuất năm 1990) như khu công nghiệp Thượng Đình - Hà Nội, khu công
nghiệp Việt Trì, khu công nghiệp Gang thép Thái Nguyên v.v
- Các khu công nghiệp cải tạo, hình thành trên cơ sở có một số xí nghiệp đang hoạt
động.
- Các khu công nghiệp xuất hiện trên địa bàn mới (hiện có khoảng 20).
 Theo tính chất đồng bộ của việc xây dựng, cần tách riêng 2 nhóm khu công nghiệp
đã hoàn thành và chưa hoàn thành đầy đủ cơ sở hạ tầng và các công trình bảo vệ môi trường
như hệ thống thông tin, giao thông nội khu, các công trình cấp điện, cấp nước, thoát nước
mưa, nước thải, các nhà máy xử lý nước thải, chất thải rắn, bụi khói v.v
 Theo tình trạng cho thuê, có thể chia số khu công nghiệp thành ba nhóm có diện
tích cho thuê được lấp kín dưới 50%, trên 50% và 100%.
(Các tiêu thức 3 và 4 chỉ là tạm thời: khi xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ tất cả các công
trình và cho thuê hết diện tích thì 2 tiêu thức đó không cần sử dụng nữa).
 Theo quy mô, hình thành 3 loại khu công nghiệp: lớn, vừa và nhỏ. Các chỉ tiêu
phân bổ quan trọng nhất có thể chọn là diện tích tổng số doanh nghiệp, tổng số vốn đầu tư,
tổng số lao động và tổng giá trị gia tăng. Các khu công nghiệp lớn được thành lập phải có
quyết định của Thủ tướng chính phủ. Các khu công nghiệp vừa và nhỏ thuộc quyền quyết
định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố. Trong giai đoạn đầu hiện nay ta chú trọng xây dựng
các khu công nghiệp vừa và nhỏ để sớm khai thác có hiệu quả.
 Theo trình độ kỹ thuật: có thể phân biệt
- Các khu công nghiệp bình thường, sử dụng kỹ thuật hiện đại chưa nhiều.
Líp CN 43B
6
- Các khu công nghiệp cao, kỹ thuật hiện đại thuộc ngành công nghiệp mũi nhọn như
công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học v.v làm đầu tàu cho sự phát
triển công nghiệp, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội dài hạn.
 Theo chủ đầu tư, có thể chia thành 3 nhóm:
- Các khu công nghiệp chỉ gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước.

7
 Khu công nghiệp Sài Đồng B
- Hình thức vốn đầu tư: 100% vốn Việt Nam do Công ty Hanel quản lý.
- Giá thuê đất có hạ tầng: từ 50-60USD/m
2
/năm.
- Phí quản lý hạ tầng: từ 0,55-0,8 USD/m
2
/năm.
- Phương thức thanh toán: từ 2-4 lần/50 năm.
- Tổng diện tích: 97 ha.
- Đất khu công nghiệp: 79 ha
- Đã xây dựng hạ tầng khu công nghiệp: 48,57 ha.
- Đã cho thuê: 48,58 ha (100%)
 Khu công nghiệp Nội Bài
- Hình thức đầu tư: Liên danh giữa Công ty xây dựng công nghiệp và Tập đoàn
Renong (Malaixia)
- Giá cho thuê đất có hạ tầng: từ 45-55 USD/m
2
/năm.
- Phí quản lý hạ tầng: từ 0,8-1 USD/m
2
/năm
- Phương thức thanh toán: 2 lần/42 năm
- Tổng diện tích: 197 ha.
- Đất khu công nghiệp: 100 ha.
- Đất đã xây dựng hạ tầng khu công nghiệp: 30,5 ha.
- Đã cho thuê: 10,3 ha (38%).
 Khu công nghiệp Thăng Long
- Hình thức đầu tư: Liên doanh giữa Công ty cơ khí Đông Anh và Tập đoàn Sumitomo

- Chưa triển khai giải phóng mặt bằng do đối tác nước ngoài gặp khó khăn về vốn.
Bảng 1: Các Khu công nghiệp tập trung trên địa bàn Hà Nội
(tính đến hết năm 2000)
T
T
KCN
Năm
thành
lập
Địa
phương
Hình thức
đầu tư
Diện
tích
(ha)
Lĩnh vực, ngành
nghề đầu tư
Dự
án
Vốn
đầu tư
(tr.US
D)
1 KCN Sài
Đồng B
1996 Gia Lâm Việt Nam 97/79 SP điện tử và các
ngành không gây ô
nhiẽm môi trường
23 289

7
SP điện, điện tử,
viễn thông và tiêu
dùng
2 9,40
Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội
Líp CN 43B
9
II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA KHU CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
1. Tình hình hoạt động
a. Tình hình đầu tư vào các khu công nghiệp Hà Nội trong 6 tháng đầu năm 2003.
(VietNamNet) - Để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, thời
gian qua Ban quản lý khu công nghiệp và khu chế xuất Hà Nội đã xây dựng chương trình xúc
tiến đầu tư cho năm 2003 và các năm tiếp theo (2003-2005).
Khu công nghiệp tập trung: 6 tháng đầu năm nay Ban quản lý khu công nghiệp - khu
chế xuát đã cấp 02 giấy phép đầu tư mới cho 2 Công ty với tổng vốn đăng ký là 28.117.000
USD, đó là:
+ Công ty TNHH KYOEL Manufaturing Việt Nam vào Khu công nghiệp Nội Bài với
tổng vốn đăng ký là 4.850.000 USD, diện tích thuê đất 100.000m
2
.
+ Công ty TNHH Matsushita Home Appliances Việt Nam vào khu công nghiệp Thăng
Long với tổng vốn đầu tư đăng ký là 23.267.000 USD, diện tích thuê đất là 50.000m
2
.
Cũng có 07 giấy phép điều chỉnh của các Công ty TNHH Volex Việt Nam, Toa Việt
Nam, Ohara Plastics Việt Nam, dây thép Kawa Mua, Bút chì Mitsubishi (KCN Thăng Long),
Armtrong Việt Nam, United Motor (KCN Nội Bài) với tổng vốn đầu tư tăng thêm 4.527.000
USD.
Như vậy, 6 tháng đầu năm 2003 tổng vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN tập trung

Trong đó, lao động trong nước là 11.593 người (tăng 89% so với cùng kỳ năm 2002); lao
động nước ngoài có 240 người tăng (25% so với cùng kỳ năm 2002).
Đến nay Ban quản lý đã ra quyết định thừa nhận nội quy lao động cho 16 doanh
nghiệp, đang hướng dẫn và chuẩn bị ra quyết định cho 6 Công ty về nội quy lao động; 5
doanh nghiệp đã có quyết định thừa nhận thỏa ước lao động tập thể. Trong các KCN đã có 15
công đoàn cơ sở với tổng số 7.142 đoàn viên.
Từ nay đến cuối năm bên cạnh việc tăng cường công tác xúc tiến đầu tư để thu hút các
nhà đầu tư vào các KCN của Hà Nôi, ban quản lý các KCN - KCX thành phố sẽ tập trung giải
quyết dứt điểm các vấn đề tồn tại của các KCN tập trung, cải cách thủ tục hành chính, tạo môi
trường đầu tư thông thoáng hơn.
Đồng thời có những giải pháp để phát triển các khu (cụm) công nghiệp vừa và nhỏ,
bảo đảm nhu cầu về mặt bằng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước.
Ban quản lý các KCN - KCX Hà Nội cũng đang nghiên cứu, áp dụng đề tài ISO 9000-
2000 vào hoạt động Ban quản lý; Hoàn chỉnh các quy chế, quy định về quản lý theo cơ chế
“một cửa, tại chỗ”, công khai và đơn giản hóa các thủ tục hành chính về tiếp nhận và giải
quýet các yêu cầu của các nhà đầu tư, đảm bảo nhanh chóng, đúng quy định.
Thêm 9 dự án công nghiệp đi vào hoạt động tại Hà Nội
Từ đầu năm đến nay, các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp Hà Nội đã đưa 9 dự
án đi vào hoạt động, bước đầu đã phát huy hiệu quả kinh tế.
Có 6 dự án với tổng mức đầu tư là 18 doanh nghiệp chuyển tiếp từ trước năm 2003
sang. Trong tổng số 13 dự án và hạng mục đầu tư với tổng số vốn đầu tư 215,49 tỷ đồng,
Líp CN 43B
11
được các doanh nghiệp lập trong 6 tháng đầu năm nay, đã có 3 dự án đi vào hoạt động
(Vietnam Economy).
b. Về tình hình đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng cho doanh nghiệp.
Hiện nay, việc xây dựng cơ sở hạ tầng của cả 5 khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội
đều do Công ty phát triển cơ sở hạ tàng KCN thực hiện. Việc huy động vốn của các Công ty
này tùy thuộc vào từng KCN. Có thể là liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài như các
KCN Nội Bài, Daewoo - Hanel, Thăng Long, cũng có thể là 100% vốn của nước ngoài như

tranh của CN Hà Nội. Theo thống kê mới nhất từ ban quản lý KCN & CX Hà Nội đến nay đã
xét duyệt 30 giấy phép nhập khẩu, 40 giấy chứng nhận xuất khẩu, đưa tổng giá trị xuất khẩu
ủca doanh nghiệp đạt 155.021.590 USD, giá trị nhập khẩu 202.126.752 USD. Các mặt hàng
xuất khẩu như đèn hình màu, sáng điện tử, ti vi màu, tủ lạnh, biến áp, dây dẫn cho ô tô, ba lô,
túi sách. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, vật tư xây dựng cơ bản, nguyên vật
liệu phục vụ sản xuất v.v
2. Những tồn tại.
 Về thu hút vốn đầu tư
Cơ chế chính sách để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước còn nhiều bất cập, thiếu
đồng bộ và linh hoạt. Chính sách về giá thuê đất và các ưu đãi đầu tư khác trong khu công
nghiệp đang là bài toàn khó để vận dụng triển khai cụ thể theo luật khuyến khích đầu tư trong
nước và đầu tư nước ngoài đã được Quốc hội sửa đổi. Hơn nữa, chúng ta thiếu vốn trong việc
xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp. Với cơ chế hiện hành, vốn trong nước cho xây dựng
hạ tầng khu công nghiệp chủ yếu từ ngân sách Nhà nước. Mỗi dự án khu công nghiệp lại phải
thành lập một doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp đảm nhận quản lý
vốn ngân sách cấp.
Trong khi đó các doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế khác muốn
góp vốn đầu tư vào hạ tầng khu công nghiệp và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp thì cơ
chế lại chưa cho phép. Hiện tượng “khoán trắng” hoặc thiếu giám sát chặt chẽ của các cơ
quan quản lý doanh nghiệp đối với giải quyết chi phí đền bù và xây dựng hạ tầng của các
công ty xây dựng hạ tầng khu công nghiệp đã chi phí giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng
lên cao dẫn đến mức giá cho thuê đất gồm cả chi phí hạ tầng còn quá cao 5USD/m. Trong khi
các khu công nghiệp ở các nơi khác chỉ bằng 30% so với ở Hà Nội.
Một trong những tồn tại nữa là Ban quản lý khu công nghiệp ở Hà Nội và Sở công
nghiệp Hà Nội chưa có các biện pháp giới thiệu, tiếp thị, thu hút vốn đầu tư, chưa có những
chính sách đãi ngộ hợp lý đối với các doanh nghiệp do đó đã hạn chế khả năng thu hút vốn
đầu tư vào khu công nghiệp, nhát là các doanh nghiệp trong nước. VD như các nhà đầu tư
trong và ngoài nước khi đầu tư vào khu công nghiệp đều phải đáp ứng các điều kiện như
nhau, nhưng các doanh nghiệp nước ngoài lại được ưu tiên hơn thuế lợi tức so với các doanh
nghiệp trong nước.

 Vấn đề nhà ở
Đây là một trong những vấn đề bức thiết trong các khu công nghiệp của nước ta hiện
nay và các khu công nghiệp Hà Nội cũng đang mắc phải những hạn chế như vậy. Đó là việc
xây dựng các khu dân cư cạnh các khu công nghiệp để tiện cho công nhân đến làm việc nơi
các nhà máy tại các khu công nghiệp. Không những thế trong các khu dân cư đó có rất nhiều
nhà trọ được tư nhân xây cho công nhân thuê. Nhưng giá thuê lại rất cao, vì thế gây khó khăn
cho công nhân làm việc tại các khu công nghiệp. Ngoài ra hiện nay trong các khu dân cư việc
xây dựng các khu chợ, trường học, nhà thương, sân thể thao, các khu cây xanh chưa được
hoàn thành. Dân cư tại các khu vực nông sản chưa được hưởng một không khí trong lành.
 Lực lượng lao động trong các khu công nghiệp
Cho đến nay các khu công nghiệp Hà Nội đã thu hút được 9.332 lao động nhưng hầu
hết là lao động trẻ (độ tuổi dưới 35 chiếm trên 90%) và chưa qua đào tạo. Trình độ học vấn và
tay nghề có thể khái quát như sau: (tính đến hết năm 2003)
Trình độ Số lượng (người) Tỷ trọng (%)
- ĐH và trên ĐH 401 4,3
Líp CN 43B
14
- Kỹ thuật viên 410 4,4
- Công nhân kỹ thuật 2911 31,2
- Lao động giản đơn 5610 60,1
Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố
Nhìn chung, sự phát triển của lực lượng lao động tại các khu công nghiệp trong thời
gian qua còn mang tính tự phát. Lực lượng công nhân hầu như chưa chuẩn bị đầy đủ để tham
gia vào một môi trường sản xuất công nghiệp hiện đại cả về trình độ tay nghề tác phong công
nghiệp và ngay cả việc thích nghi với văn hóa đa dạng của các nhà đầu tư đến từ nhiều quốc
gia. Điều này do nhiều nguyên nhân như:
Sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp đi kém theo đó là nhu cầu lao
động tăng đột biến. Trong khi đó lao động nông nghiệp tại các địa phương xung quanh địa
bàn khu công nghiệp đã dần vào các khu công nghiệp. Hành trang của các công nhân khi xin
vào làm việc tại các khu công nghiệp chủ yếu là sức lao động trẻ. Mục tiêu trước mắt của họ

là các cơ sở hạ tầng xã hội như các trung tâm thương mại, trường học, bệnh viện. Thành phố
cần phải cho phép các khu công nghiệp có quyền tự chủ trong việc tuyển dụng và sa thải lao
động hoặc định hướng cho các khu công nghiệp đặt hàng đào tạo lao động ở các trường dạy
nghề. Thành phố cần phải tăng cường các biện pháp đầu tư và khuyến khích đầu tư, chỉ kết
hợp giữa nguồn vốn trong nước và ngoài nước để xây dựng hạ tầng cho các khu công nghiệp.
Vẫn còn có quan niệm sai lầm là nhất thiết phải có nguồn vốn của nước ngoài thì dự án mới
hiệu quả và khả thi cao.
Từ phía Ban quản lý khu công nghiệp: các cán bộ quản lý trình độ chuyên môn nghiệp
vụ còn kém, chưa được đào tạo một cách có hệ thống. Ban quản lý chưa chủ động và tích cực
vận động thu hút đầu tư, đưa những dự án hấp dẫn đầu tư, chưa có những biện pháp để hỗ trợ
các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm các nguồn đầu tư hoặc tiêu thụ hàng hóa.
Tóm lại, việc phát triển các khu công nghiệp của Hà Nội trong thời gian qua đã tạo ra
mạng lưới vệ tinh thúc đẩy kinh tế của Hà Nội và các vùng lân cận phát triển. Tuy nhiên việc
phát triển đó chưa tương xứng với khả năng hiện thực, chưa thể hiện hết tiềm năng của các
khu công nghiệp. Công tác quy hoạch phát triển khu công nghiệp chưa đáp ứng được tổ chức
phân bổ lực lượng sản xuất, chưa sát với điều kiện thực tế và chưa theo kịp với nhu cầu phát
triển. Tổ chức quản lý chưa thống nhất, chức năng hỗ trợ còn yếu. Cơ chế quản lý tuy đã được
cải thiện nhưng vẫn còn chồng chéo, thủ tục phức tạp. Các giải pháp đền bù giải phóng mặt
bằng chậm trễ, làm cho thời gian xây dựng kéo dài. Các công trình kết cấu hạ tầng gây thiệt
hại cho chủ đầu tư phát triển hạ tầng và bỏ lỡ cơ hội thu hút đầu tư.
Công tác tiếp thị vận động đầu tư chưa được chú trọng nên việc phát huy tác dụng của
khu công nghiệp còn hạn chế. Việc cung cấp lao động có tay nghề còn thấp xa so với nhu cầu.
Bên cạnh tình trạng thể chế thiếu đồng bộ điều đáng chú ý hơn là việc thực hiện pháp luật
chưa nghiêm, giữa ý tưởng của pháp luật và việc thực thi pháp luật còn khoảng cách lớn.
Vậy nguyên nhân sâu xa của việc phát triển chậm trễ này là do đâu?
II.3. Một số nguyên nhân gây cản trở hoạt động của khu công nghiệp Hà Nội
* Nguyên nhân các khu công nghiệp chưa hấp dẫn doanh nghiệp trong nước
Líp CN 43B
16
Theo kết quả khảo sát mới đây của Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất Hà

động của nó
* Chính sách đối xử đối với doanh nghiệp khu công nghiệp chưa công bằng, đã hạn
chế khả năng thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp trong nước. VD như các nhà đầu tư trong
Líp CN 43B
17
và ngoài nước khi đầu tư vào khu công nghiệp đều phải đáp ứng những điều kiện như nhau,
nhưng các doanh nghiệp nước ngoài nên được ưu tiên hơn về thuế lợi tức so với các doanh
nghiệp trong nước.
* Do giá thuê đất tại các khu công nghiệp này còn cao hơn các địa phương khác nên
chưa nhận được sự hưởng ứng của các nhà đầu tư, đặc biêt là các nhà đầu tư trong nước.
Ngoài ra, nhiều địa phương còn miễn giảm tiền thue đất, hoặc cho phép thanh toán tiền chậm
hoặc miễn phí quản lý v.v Còn đối với các khu công nghiệp tại Hà Nôi, tiền thuê đất chỉ
được thanh toán kèm 1 hoặc 2 lần.
II.4. Đánh giá tác động của các khu công nghiệp Hà Nội đến sự phát triển của nền kinh
tế Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng
* Những kết quả đạt được trong xây dựng và hoạt động của các khu công nghiệp ở Hà
Nội
- Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nói chung và công nghiệp của thủ đô nói
riêng, cho dù mới chỉ có 14 dự án đi vào hoạt động nhưng đã đạt doanh thu khoảng 140 triệu
USD, chiếm trên 30% giá trị sản xuất của khu vực có vốn FDI trên địa bàn Hà Nội. Ngoài ra
các khu công nghiệp còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các vùng
nông thôn, ngoại thành của thủ đô. Sự ra đời của các khu công nghiệp ở Hà Nội đã đáp ứng
được nhu cầu an cư lạc nghiệp cho các doanh nghiệp cùng các chính sách đầu tư hấp dẫn, thủ
tục nhanh chóng nên đã thu hút được nhiều dự án, đóng góp tích cực cho kinh tế của thủ đô.
- Góp phần phát triển mặt hàng, mở rộng thị trường, thúc đẩy phát triển ngoại thương.
Hàng hóa được sản xuất trong các khu công nghiệp tại Hà Nội đạt chất lượng cao không chỉ
đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong nước, mà còn thâm nhập vào một số thị trường
khó tính như Nhật Bản, EU và Hoa Kỳ. Với 14 trong tổng số 3361 doanh nghiệp của cả Hà
Nội nhưng kim ngạch xuất nhập khẩu của nó không ngừng tăng và luôn chiếm tỷ trọng cao.
Năm 1998, kim ngạch xuất khẩu là 93,9 triệu USD (chiếm 30,6%) thì năm 1999 đạt 107,5

triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động của các khu công nghiệp. Việc đầu tư phát triển
các khu dân cư, khu đô thị và các dịch vụ đi kèm như hỗ trợ trong việc giảm giá cung ứng
điện, nước, giao thông viễn thông, đặc biệt là các cơ sở hạ tầng xã hội như các trung tâm
thương mại, trường học, bệnh viện là nhiệm vụ của thành phố.
 Các giải pháp hỗ trợ các khu công nghiệp về đất
Sở công nghiệp Hà Nội CN các cơ chế chính sách hỗ trợ các khu cụm công nghiệp.
- Tiền thuê đất: (cho đầu tư FDI)
+ Giá thuê đất áp dụng đối với đất đô thị (loại 1)
Tối thiểu: 1 USD/m
2
/năm
Tối đa: 12 USD/m
2
/năm
+ Giá thuê đất áp dụng đối với đất không thuộc đất đô thị
Tối thiểu: 06, USD/m
2
/năm
Tối đa: 7,2 USD/m
2
/năm
+ Đối với các khu vực sau: Gia Lâm, Đức Giang, Văn Điển, Cầu Diễn
Tối thiểu: 0,35 USD/m
2
/năm
Líp CN 43B
19
Tối đa: 4,2 USD/m
2
/năm

phải trả. Việc giảm được áp dụng từ ngày kết thúc việc miễn tiền thuê đất.
 Giải pháp về cung ứng lao động:
- Thành phố cần phải đầu tư phát triển số lượng các trường dạy nghề, song song đó là
việc đổi mới nội dung, phương pháp, ngành nghề đào tạo trong đó cần quan tâm khảo sát đến
nhu cầu lao động cần cung ứng của các khu công nghiệp. Tại thành phố hiện nay lao động Đại
học và trên đại học khoảng 4,3%, kỹ thuật vien chiếm 4,4%, công nhân kỹ thuật chiếm
31,2%, lao động giản đơn chiếm 60,1%, việc đào tạo lực lượng có chuyên môn kỹ thuật thời
gian qua chưa đáp ứng được nhu cầu lao động ngày càng cao.
Tổng Cục dạy nghề cần phối hợp với các địa phương và ban quản lý các khu công
nghiệp xây dựng các danh mục ngành nghề đào tạo hiện nay trong tương lai nhỏ sản xuất
phần mềm, cơ điện tử.
Líp CN 43B
20
Cần cải tiến nội dung và phương pháp đào tạo theo hướng đi sâu nâng cao khả năng
thực hành đối với đối tượng công nhân kỹ thuật, kinh tế hiện hành nghề. Nội dung đào tạo kỹ
thuật viên phải khác với đào tạo kỹ sư, chỉ nên đào tạo nâng cao trình độ kỹ thuật viên để đáp
ứng với công việc được giao thay vì đào tạo thành kỹ sư nhưng không đủ khả năng, để tránh
tình trạng “nửa thầy, nửa thợ”. Đẩy mạnh đào tạo lực lượng kỹ sư công nghệ nhằm thích nghi
với tình hình sản xuất của các khu công nghiệp. Bên cạnh việc đào tạo nghề, cần đào tạo về
trình độ ngoại ngữ cho lao động nhằm đảm bảo khả năng giao tiếp tối thiểu cho công nhân.
Các trường dạy nghề cần nắm thong tin về chất lượng tay nghề công nhân sau khi đào tạo ra
trường để có kế hoạch điều chỉnh, bổ sung nội dung đào tạo cho phù hợp.
- Đa dạng hóa hình thức huy động vốn để xây dựng và hoạt động khu công nghiệp,
phải kết hợp giữa nguồn vốn để xây dựng và hợp đồng khu công nghiệp, phải kết hợp giữa
nguồn vốn trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu công nghiệp, không
nên có quan niệm sai lầm là nhất thiết phải có nguồn vốn của nước ngoài thì dự án mới hiệu
quả và khả thi cao hơn. VD như khu công nghiệp Sài Đồng B hòan toàn sử dụng vốn trong
nước, do Công ty Hanel đầu tư nhưng lại đạt hiệu quả rất cao. Trong khi đó khu công nghiệp
Hà Nội được đầu tư theo hình thức 100% vốn của Đài Loan được cấp giấy phép từ năm 1995
nhưng đến năm 1999 chỉ có 4 dự án xin thuê đất hoạt động.

- Chính sách đối xử đối với doanh nghiệp khu công nghiệp chưa công bằng, đã hạn chế
khả năng thu hút đầu tư vào khu công nghiệp, nhất là các doanh nghiệp trong nước. Ví dụ như
các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi đầu tư vào khu công nghiệp đều phải đáp ứng những
điều kiện như nhau, nhưng các doanh nghiệp nước ngoài lại được ưu tiên hơn về thuế lợi tức
so với các doanh nghiệp trong nước.
(4) Đa dạng hoá hình thức huy động vốn để xây dựng và hoạt động khu công nghiệp:
Phải kết hợp giữa nguồn vốn trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu công
nghiệp. Không nên có quan niệm sai lầm là nhất thiết phải có nguồn vốn của nước ngoài thì
dự án mới hiệu quả và khả thi cao hơn. Ví dụ như trường hợp của khu công nghiệp Sài Đồng
B hoàn toàn sử dụng vốn trong nước, do công ty Hanel đầu tư nhưng lại đạt hiệu quả cao.
Trong khi đó, khu công nghiệp Hà Nội - Đại Từ được đầu tư theo hình thức 100% vốn của
Đài Loan được cấp giấy phép từ năm 1995 nhưng đến nay chỉ có 4 dự án xin thuê đất hoạt
động, hay khu công nghiệp NOMURA ở Hải Phòng có vị trí rất thuận lợi, cơ sở hạ tầng hiện
đại nhưng hiệu quả khai thác cũng không cao. Nếu khu công nghiệp nào hoạt động không có
hiệu quả thì cho phép chuyển đổi cơ cấu sở hữu.
(5) Tăng cường sự phân cấp quản lý Nhà nước cho Ban quản lý (BQL) các khu công
nghiệp. Sự phân cấp ở đây nên tiến hành đồng bộ và toàn diện hơn, cụ thể có thể giao toàn bộ
chức năng quản lý Nhà nước về FDI cho Ban quản lý và khu công nghiệp, đồng thời đây là
đầu mối giải quyết mọi vấn đề liên quan đến đầu tư trong và ngoài nước vào khu công nghiệp.
Mô hình đã được một số địa phương áp dụng thành công như Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh
Hoá.
(6) Đối xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước khu đầu tư vào khu
công nghiệp, cho phép hưởng những quyền lợi và nghĩa vụ như nhau. Đặc biệt, thành phố nên
khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp trong nội thành di dời vào trong các khu công
nghiệp để hoạt động như là cấp tín dụng, hoặc miễn giảm thuế…
(7) Các biện pháp hỗ trợ khác: Để khắc phục một phần khó khăn ban đầu cho các dự
án khi đầu tư vào khu công nghiệp tại Hà Nội, thành phố có thể học hỏi kinh nghiệm ở một số
địa phương khác như chính sách hỗ trợ tài chính bằng việc miễn, giảm phần thuê mà thành
phố được hưởng cho các doanh nghiệp, hoặc cho phép thanh toán chi phí sử dụng đất làm
Líp CN 43B

định hướng phát triển khu vực này, tránh hiện tượng đầu tư tràn lan, kém hiệu quả. Đồng thời
cần quán triệt quan điểm là ưu tiên phát triển về chất hơn là phát triển về lượng của các khu
công nghiệp để các khu công nghiệp ở thủ đô nói chung có vị trí tương xứng với tầm vóc của
thủ đô trong quá trình thực hiện CNH - HĐH đất nước…
Líp CN 43B
23
KẾT LUẬN
Nhìn một cách tổng quát, các khu công nghiệp của nước ta ngày càng khẳng định vai
trò quan trọng của mình trong sự phát triển kinh tế của Hà Nội nói riêng và của cả nước nói
chung. Nó không những thúc đẩy kinh tế của Hà Nội và cả nước phát triển mà còn tăng khả
năng sản xuất hàng hoá phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Để đạt được những thành công đó là do trong quá trình hình thành, xây dựng và phát
triển, Nhà nước, UBND TPHN và Ban Quản lý khu công nghiệp đã xác định đúng được vai
trò quan trọng của các khu công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế để từ đó tập trung
giải quyết khó khăn nhằm tập trung vào quá trình phát triển. Vì vậy, các khu công nghiệp của
nước ta trong những năm qua đã không ngừng khắc phục những khó khăn về xây dựng cơ sở
hạ tầng, bộ máy quản lý, tăng cường các biện pháp hấp dẫn đầu tư nước ngoài, đào tạo đội
ngũ lao động v.v để từ đó từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của khu công
nghiệp. Trong đề tài này em chỉ xin nêu ra một số biện pháp nhằm khắc phục những khó khăn
có thể áp dụng có hiệu quả của các khu công nghiệp.
Qua nghiên cứu đề tài trên đã ngày càng có hiểu biết hơn về các khu công nghiệp của
Việt Nam nói chung và các khu công của Hà Nội nói riêng. Em xin chân thành cảm ơn cô
giáo Ngô Thị Hoài Lam đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
Líp CN 43B
24
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tên sách:
1. Những văn bản pháp luật về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao.
2. Khu chế xuất, khu công nghiệp với cơ hội đầu tư của nước ta.
Tên báo, tạp chí:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status