Luận văn
Thực tế triển khai nghiệp vụ bảo
hiểm thiết bị điện tử tại Công ty cổ
phần bảo hiểm bưu điện
1
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM TBĐT 2
A> Khái niệm chung về bảo hiểm TBĐT 2
1. Sự cần thiết của bảo hiểm TBĐT 2
a. Khái niệm về TBĐT 2
b. Sự cần thiết của bảo hiểm TBĐT 3
c. Vai trò và tác dụng của bảo hiểm thiết bị điện tử 5
2. Lịch sử phát triển của bảo hiểm TBĐT 6
a. Khái quát về lịch sử bảo hiểm kỹ thuật 6
b. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm TBĐT 7
3.Một số điều kiện thuận lợi của Việt nam trong việc hình thành và phát triển
nghiệp vụ bảo hiểm TBĐT
9
a.Điều kiện về kinh tế 9
b.Điều kiện về dân số 10
c.Điều kiện về pháp lí 11
B.Nội dung chủ yếu của nghiệp vụ bảo hiểm TBĐT 12
I-Đối tượng và phạm vị bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm TBĐT 12
1.Đối tượng bảo hiểm 12
2.Phạm vi bảo hiểm 13
II-Rủi ro bảo hiểm và những điểm loại trừ 14
1.Rủi ro bảo hiểm 14
2. Những điểm loại trừ 15
III-Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm 18
1.4. Áp dụng hình thức khuyến mãi 63
1.5. Quản lý hợp đồng 63
2. Công tác giám định và bồi thường 63
2.1. Khâu giám định 63
2.2. Khâu bồi thường 64
3. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất 65
4. Công tác tổ chức cán bộ và đào tạo 66
5. Công tác tài chính kế toán, tin học và quản trị 68
6. Phí bảo hiểm 68
7. Hoàn chỉnh môi trường pháp lý trong lĩnh vực bảo hiểm 71
KẾT LUẬN 73
PHỤ LỤC 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
3
LỜI NÓI ĐẦU
Sắp bước sang thế kỉ 21, thế kỉ của nền khoa học kĩ thuật đang phát triển với tốc độ
nhanh chóng. Đất nước ta ngày càng hoà nhập hơn vào xu thế tiến bộ đó của thế giới, với
những bước đi công nghiệp hoá, hiện đại hoá để trang bị cho cơ sở vật chất của chúng ta
ngày càng tiên tiến hơn hiện đại hơn .Nhờ có chính sách đổi mới đúng đắn ấy của nhà
nước về công nghệ thông tin và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt nam mà hiện
nay chúng ta đã có một số thiết bị điện tử được sử dụng ngày càng nhiều vào các ngành
như : Phát thanh truyền hình, Bưu chính viễn thông, các viện nghiên cứu, các bệnh viện
lớn, các nhà máy xí nghiệp Chúng ta đang thừa hưởng những công nghệ hiện đại vào
cuộc sống và công việc hàng ngày thì cũng tồn tại song song với chính nó là các rủi ro có
thể xảy ra đối với các công nghệ đó . Chẳng hạn nếu giả sử hệ thống bưu chính viễn thông
sử dụng các thiết bị điện tử mà gặp sự cố như sét đánh hoặc điều khiển sai kĩ thuật thì thiệt
hại rất là to lớn vì các thiết bị này có đặc điểm là phải nhập ngoại với giá trị rất cao so với
thu nhập của chúng ta . Để khắc phục những rủi ro có thể xảy ra thì bảo hiểm thiết bị điện
tử ra đời như một nhu cầu tất yêú giúp các tổ chức, cơ quan, xí nghiệp yên tâm, tin tưởng
để sử dụng các thiết bị điện tử cho công việc của mình .
thương.
Các thiết bị điện tử cho phép tự động hoá trong các quả trình công nghệ và kiểm tra
sản phẩm ở các xí nghiệp dệt ,nhà máy chế tạo mô tơ, hoá chất trong hầm mỏ, nhà máy
đóng tàu. Các thiết bị điện tử trực tiếp làm tăng năng xuất lao động ,nâng cao chất lượng
sản phẩm, cải thiện điều kiện làm việc. Chẳng hạn, trong việc học ngoại ngữ chỉ cần dùng
máy vi tính và hệ thống loa âm thanh ta có thể nghe chính xác như người nước ngoài nói
mà không phải có giáo viên trực tiếp dạy .
Ta có thể áp dụng những thành tựu của điện tử trong những thiết bị sử dụng hàng
ngày như vô tuyến truyền hình, máy ghi âm máy thu thanh. Ngoài ra do sử dụng cáp quang
và hệ thống vệ tinh mà khả năng liên lạc toàn cầu sẽ được thực hiện một cách dễ dàng khả
năng lựa chọn bất cứ chương trình vô tuyến và radio hoậc thậm chí thực hiện chương trình
riêng từ băng ghi hoặc phím, khả năng thu tại nhà những bản in như; tin tức báo chí, những
tư liệu khác nhau từ trung tâm tính toán .
Để tìm hiểu một cách chi tiết về thiết bị điện tử phục vụ cho đề tài này, có thể phân
loại thiết bị điện tử ra làm các loại như sau:
5
- Các thiết bị EDP (Electronic Data processing) và các thiết bị điện tử dùng trong văn
phòng (máy vi tính, máy tính trung tâm), các thiết bị ngoại vi như máy in, máy đếm, máy
photocopy, máy chiếu
-Thiết bị viễn thông: thiết bị điện thoạI (ở các tổng đài điện tử), thiết bị truyền xa (hệ
thống telex,selex .)
- Thiết bị thu thanh truyền hình: các thiết bị rada, trạm vệ tinh mặt đất, các bộ kính
thiên văn , camêra truyền hình, thiết bị ghi hình, thiết bị tạo hình, phòng ghi và sao video.
- Thiết bị chiếu sáng và thiết bị hàng hải: thiết bị đèn chiếu, đèn pha, đèn huỳnh
quang, các hệ thống tín hiệu, các hệ thống vô tuyến điện thoại và thiết bị hàng hải bằng
điện tử .
- Thiết bị y tế: thiết bị tia X quang dùng cho chẩn đoán, thiết bị bức xạ đẳng hướng
dùng để trị liệu, thiết bị phân tích dùng trong y học
- Các bộ truyền dẫn và phát tín hiệu: các hệ thống báo động ,hệ thống đồng hồ đo,
máy dò tìm và các hệ thống liên lạc bên trong.
may gặp phải rủi ro làm ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh. Điều đó, buộc các doanh
nghiệp phải quan tâm đến vấn đề bảo hiểm. Nếu tham gia bảo hiểm, trong trường hợp gặp phải
các rủi ro gây ra thiệt hại tới tài sản, tiền vốn của họ thì bảo hiểm sẽ bồi thường kịp thời các tổn
thất đó, giúp người được bảo hiểm giải quyết ngay khó khăn về mặt tài chính, không cần xin
ngân sách nhà nước trợ cấp. Căn cứ vào điều kiện tài chính của mình, chỉ với một khoản
phí bảo hiểm rất nhỏ trả cho người bảo hiểm, khi gặp tổn thất người được bảo hiểm sẽ
nhận được khoản tiền bồi thường của người bảo hiểm và sẽ chủ động nhanh chóng khôI
phục ,đưa sản xuất kinh doanh trở lại bình thường .
Ngoài ra, khi tiến hành bảo hiểm thiết bị điện tử Người bảo hiểm cùng với các
ngành, các cơ quan hữu quan khác phối hợp tiến hành công tác đè phòng, hạn chế tổn thất
nhằm ngăn chặn có hiệu quả các rủi ro có thể gây ra thiệt hại đối với tài sản, con người.
Đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm thiết bị điện tử, các biện pháp đề phòng, chữa cháy, kiểm
tra, giám định các thiết bị máy móc, đóng vai trò quan trọng. Theo thông lệ, trước khi tiến
hành bảo hiểm, người bảo hiểm phải theo rõi, kiểm tra và đánh giá mức độ rủi ro của đối
tượng được yêu cầu bảo hiểm, trên cơ sở đó sẽ đóng góp kịp thời cho người được bảo hiểm
các biện pháp cần thiết để hạn chế kha năng xảy ra các rủi ro gây nguy hại cho tài sản được
bảo hiểm.
7
c,Vai trò và tác dụng của bảo hiểm thiết bị điện tử
Bảo hiểm thiết bị điện tử (Electronic Equipment Insurance-EEI) có một số ưu điểm
so với các loại hình bảo hiểm khác như :
Một là, EEI đưa ra khái niệm bảo hiểm rộng rãi nhất trong ngành bảo hiểm. Dựa trên
đơn bảo hiểm mọi rủi ro với rất ít các điều kiện loại trừ ,nó bảo đảm việc bồi thường sau
khi tổn thất hay hư hỏng, thậm chí cả trong các trường hợp không đáng quan tâm hay
không quan trọng đối với tài sản khác ví dụ như việc vận hành không có chuyên môn, dao
động điện áp, ám khói ,ẩm ướt và nổ đèn chân không .Tuy nhiên ,các hiểm hoạ ấy đã gây
ra một rủi ro rất nghiêm trọng cho thiết bị điện tử có độ nhạy cảm về tần số và tính khốc
liệt. Cũng như vậy, một nguyên nhân tương đối nhỏ nhưng cũng có thể ảnh hưởng lớn về
tài chính đối với tính liên tục của hoạt động kinh doanh bởi vì các hoạt động này có thể
hoàn toàn phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của “trái tim" thiết bị điện tử .
567 triệu DM, nhưng năm 1981 đã tăng lên tới 1294 triệu DM
BHKT hiện nay đã xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh tế, khoa
học trên toàn thế giới, từ việc bảo hiểm các máy móc trong các xí nghiệp sản xuất ,các
dụng cụ tinh vi trong y tế, trong các phòng thí nghiệp cho tới việc bảo hiểm cho công trình
xây lắp khổng lồ, các công tá lắp ráp máy bay, tàu biển cỡ lớn và cho cả con tàu vũ trụ
công ty Munich Re, một công ty tái bảo hiểm đứng đầu thế giới,là một trong những công ty
đã sáng lập và phổ biến rộng rãi loại hình bảo hiểm này cùng với các công ty khác trên thị
trường bảo hiểm Lon don -trung tâm bảo hiểm thế giới.
b) Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm thiết bị điện tử
Bảo hiểm thiết bị điện tử là một nghiệp vụ bảo hiểm tuy ra đời muộn hơn so với các
loại hình bảo hiểm khác nhưng đã phát triển rất nhanh và chiếm một tỷ lệ lớn trong doanh
thu phí bảo hiểm kĩ thuật. Gọi là ra đời muộn nhưng nhìn lại lịch sử phát triển của loại hình
bảo hiểm này, chúng ta thấy nó cũng đã có trên 70 năm phát triển.
Từ những năm 20 của thế kỉ này đã xuất hiện những hợp đồng bảo hiểm thiết bị điện
tử như là những phần bổ xung cho các hợp đồng thuê mướn và bảo dưỡng thiết bị .Vào
năm 1921 công ty chuyên về bảo hiểm thiết bị điện tử đầu tiên trên thế giới đã được thành
lập .
9
Với nguồn gốc của nó trong những năm 1920 ở Đức, bảo hiểm điện áp thấp, như tên
gọi của nó sau đó được bắt đầu như một loại hình bảo hiểm chuyên biệt cho thiết bị điện
thoại, chủ yếu là để bảo vệ các công ty thuê bao điện thoại chống lại ảnh hưởng về mặt tài
chính có tính chất hậu quả của tổn thất hay hư hỏng thiết bị.
Trong những năm 30, phạm vi vủa những thiết bị được bảo hiểm được mở rộng bao
gồm các hệ thống loa chuyên dùng, hệ thống tín hiệu ánh sáng và hệ thống báo cháy cũng
như các thiết bị viễn thông khác, tiếp đến là xuất hiện của thế hệ máy tính điện tử .
Công nghệ máy tính hiện đại đã phát triển và được hoàn chỉnh bởi KONZADZNSE
tai Đức vào năm 1941. Trong cùng thời gian đó ở Mỹ ,hình thành chuỗi máy tính điều
khiển tự động, bước tiếp theo là sử dụng các ống điện tử cho việc tính toán. Máy tính lớn
nhất ENIAC là một hệ thống khổng lồ với hơn 18000 ống điện tử, 1500 thiết bị ngoại vi
khác và có mức tiêu thụ trên 150KW. Sau đó là một chương trình ghi nhớ được phát hiện
cũng chính là do điều kiện nội tại của bản thân mỗi nước, có đặc điểm và ưu thế riêng .Các
điều kiện đó chính là: điều kiện về kinh tế, điều kiện về dân số và điều kiện về môi trường
pháp lí. Ở Việt nam các điều kiện đó như sau :
a,Điều kiện về kinh tế
Kinh tế là một trong những biểu thức quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình phát triển nghiệp vụ này. Khi một nền kinh tế nghèo nàn thì điều kiện đầu tư cho cơ
sở vật chất sẽ không được trang bị hiện đại do đó sẽ không có bảo hiểm thiết bị điện tử.
Nhưng thực tế là ở Việt nam kinh tế chưa phải là phát triển song những gì mà nền kinh tế
đã đạt được như hiện nay quả là một điều kiện hết sức thuận lợi cho nghiệp vụ bảo hiểm
thiết bị điện tử phát triển.
Sau khi có chính sách đổi mới về kinh tế, mở cửa ra thị trường thế giới thì thị trường
việt nam về công nghệ thông tin đã được khởi sắc từ đầu những năm 90. Bước khẳng định
cho sự phát triển thị trường này là tác động vĩ mô của nhà nước về chính sách công nghệ
thông tin. Ngày 7 tháng 4 năm 1993 chính phủ ban hành Nghị định 49/CP xác định chính
sách, quan điểm và mục tiêu của việc phát triển công nghệ thông tin đến năm 2000 .
Các công ty máy tính tầm cỡ thế giới bắt đầu bước vào thị trường Việt Nam như
Compaq, IBM, ACER
Một yếu tố hết sức thuận lợi nữa là khi nền kinh tế Việt nam có mức độ tăng trưởng
cao và ổn định thì đi đôi với nó là yêu cầu phục vụ về thông tin, phục vụ về sức khoẻ cho
người dân, phục vụ sinh hoạt giải trí hết sức được quan tâm. Đó là các nghành như: truyền
hình,thiết bị phục vụ y tế, các trung tâm điện tử, viện nghiên cứu bắt buộc phải có các
11
thiết bị điện tử có giá trị lớn nhập từ nước ngoài về. Do đó muốn bảo đảm cho chúng trong
điều kiện hết sức phức tạp ở Việt nam, các cơ quan như truyền hình bệnh viện, bưu điện,
phải tham gia nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử.
Bảng 1:Minh hoạ về tốc độ tăng trưởng GDP của Việt nam trong thời gian 1994-1998
Năm 1994 1995 1996 1997 1998
Tốc độ tăng trưởng(%) 8,8 9,5 9,3 9,0 6,1
Môi trường kinh tế nói chung đang tạo điều kiện thuận lợi cho những nước kém phát
triển như Việt nam những cơ hội thuận lợi để mau chóng hội nhập vào mạng lưới thông tin
3 Ấn độ 903 1,00
4 Philipin 68 4,00
5 Thái lan 59 9,00
6 Hàn quốc 45 37,00
7 Đài loan 21 74,00
8 Nhật 125 97,00
9 Hồng kông 6 101,00
10 Singapo 3 125,00
11 New Zealand 3 147,00
12 Úc 18 192,00
13 Mỹ 258 287,00
Nguồn :PC WoRLD 12/1995
Từ bảng trên cho ta thấy mức cầu của công nghệ thông tin một số nước trên thế giới.
Qua bảng này ta thấy số máy vi tính /1000người dân của Việt nam là rất thấp, chứng tỏ
rằng Việt nam còn là một thị trường công nghệ thông tin tiềm năng lớn. Do đó bảo hiểm
trong lĩnh vực này có nhiều cơ hội để phát triển và đạt kết quả khả quan trong tương lai.
c,Điều kiện môi trường pháp lí:
Chúng ta không thể phủ nhận được tầm quan trọng của môi trường luật pháp đối với
nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử . Một môi trường luật bảo hiểm thông thoáng ra đời
sớm sẽ có nhiều ưu thế đối với các công ty bảo hiểm. Ở Việt nam bước đầu đã có được ưu
thế đó :
+ Từ cuối năm 1993 chính phủ Việt nam ban hành nghị định 100/CP định hướng
phát triển thị trường bảo hiểm Việt nam với việc cho phép các thành phần kinh tế tham gia
hoạt động kinh doanh bảo hiểm kể cả thành phần kinh tế tư nhân và nước ngoài. Cho phép
các loại hình bảo hiểm tồn tại và phát triển bao gồm công ty bảo hiểm gốc, công ty chuyên
tái bảo hiểm kể cả mạng lưới trung gian bảo hiểm (môi giới và đại lí )
13
Một môi trường như vậy sẽ tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm nói chung và bảo hiểm
thiết bị điện tử nói riêng tồn tại và phát triển một cách ổn định và vững chắc .
+ Bộ tài chính đã ban hành các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thực hiện nghị
Ngoài ra, nếu các thiết bị điện tử đã được công ty PTI bảo hiểm theo phần I nói trên
người được bảo hiểm có thể mua bảo hiểm thêm cho các phần II và III như đề cập dưới
đây.
Phần II:Phương tiện lưu trữ dữ liệu bên ngoài
Công ty PTI sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm những chi phí để sửa chữa hoặc
thay thế các phương tiện lưu trữ dữ liệu bên ngoài trong trường hợp chúng bị tổn thất do
các rủi ro được bảo hiểm như qui ddịnh ở phần I gây ra và các chi phí để khôi phục lại
những thông tin đã mất .Phần II chỉ có hiệu lực khi người được bảo hiểm tham gia cả phần
I của đơn bảo hiểm này
Phần III-Chi phí gia tăng
Nếu hệ thống xử lí dữ liệu điện tử (EDP) bị tổn thất vật chất thuộc pham vi bảo hiểm,
công ty PTI sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các chi phí cho việc tạm thời thuê
mướn các thiết bị thay thế cũng như các chi phí về nhân công và các chi phí gia tăng khác
theo qui định của Đơn bảo hiểm nhằm đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh hoặc nghề
nghiệp của người được bảo hiểm không bị gián đoạn khi tổn thất xảy ra.
II-RỦI RO BẢO HIỂM VÀ NHỮNG ĐIỂM LOẠI TRỪ
1-Rủi ro bảo hiểm
Có thể nói rủi ro bảo hiểm là một trong những khái niệm cơ bản cùng với "bảo
hiểm", "đối tượng bảo hiểm". Rủi ro bảo hiểm là yếu tố cấu thành phạm vi bảo hiểm, là
tiêu chuẩn để xác định một sự cố có phải là sự cố bảo hiểm hay không. Và do đó, rủi ro
bảo hiểm là khái niệm chi phối mạnh mẽ kết cục xử lí một khiếu nại bảo hiểm, một vấn đề
tài chính -pháp lí tập trung và phức tạp nhất trong lĩnh vực bảo hiểm .
15
Thiết bị bảo hiểm phải chịu rất nhiều yếu tố rủi ro có thể dẫn đến tổn thất. Một số rủi
ro chính là :các rủi rỏ về kĩ thuật như: Cháy, nước, động đất, bão, sét đánh.
Các yếu tố môi trường như :sự thay đổi về nhiệt độ, độ ẩm, khói bụi Tăng điện áp
đột ngột ,chập mạch điện, hỏng hóc cơ học, lỗi do bất cẩn, cẩu thả của những người vận
hành, phá ngầm trộm cắp .
Tất cả các rủi ro thường hay xảy ra đối với thiết bị điện tử kể trên đều được bảo hiểm
theo Đơn bảo hiểm thiết bị điện tử của PTI .Đơn bảo hiểm thiết bị điện tử là dạng đơn bảo
xém,
cháy
âm ỉ
phủ bụi
bồ
hóng
Thiệt hại
do điện
(đoản
mạch,
quá điện
áp )
Trộ
m
cắp
Cướp
bóc, phá
hoại
ngầm,
hành
động cố
ý
Rò rỉ
nước
Lũ
lụt,
ngập
nước
Vận
hành
lý học
2.Những điểm loại trừ
a) Điểm loại trừ chung :
Công ty PTI không bồi thường những thiệt hại là hậu quả trực tiếp của sự hao mòn
hay hư hỏng dần theo thời gian,chiến tranh và bạo lực, trộm cắp (trừ khi có thoả thuận
riêng) hành động ác ý hoặc có chủ ý của người được bảo hiểm, phản ứng hạt nhân và
nhiễm phóng xạ, lập chương trình sai, các chi phí để thực hiện công tác bảo dưỡng nhằm
mục đích hạn chế và ngăn ngừa tổn thất và đảm baỏ cho các thiết bị hoạt động an toàn.
17
b.Các điểm loại trừ riêng :
Các điểm loại trừ riêng được áp dụng cho từng phần:
- Phần tổn thất vật chất đối với thiết bị
- Phương tiện lưu trữ dữ liệu bên ngoài
- Chi phí gia tăng
Cụ thể ta đi vào từng phần :
* Tổn thất vật chất đối với thiết bị điện tử :
Công ty PTI sẽ không chịu trách nhiệm đối với:
-Mức khấu trừ qui định trong bảng tóm tắt điều kiện bảo hiểm (gọi tắt là BTTĐKBH)
mà người được bảo hiểm phải chịu trong mọi sự cố. Tuy nhiên nếu tronng một sự cố có 2
hạng mục trở lên bị tổn thất thì người được bảo hiểm chỉ chịu mức khấu trừ cao nhất trong
các mức khấu trừ áp dụng cho các hạng mục bị tổn thất đó
-Tổn thất trực tiếp hay gián tiếp gây nên bởi núi lửa động đất, sóng thần, gió xoáy và
bão mạnh từ cấp 8 trở lên
-Tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do trộm cướp .
-Tổn thất mà hậu quả của nó là do tác động như hao mòn ,nứt vỡ ,ăn mòn kim loại,
mài mòn đóng cặn hoặc hư hỏng dần theo thời gian bởi các yếu tố bên ngoài tác động .
- Tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các dịch vụ hoặc nguồn cung cấp ví dụ: điện
đã trả và công ty PTI đã nhận một khoản phí bảo hiểm để gia hạn cho đơn bảo hiểm đó .
Tuy nhiên công ty PTI sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường :
- Mức khấu trừ qui định trong bảng tóm tắt điều kiện bảo hiểm mà người được bảo hiểm
phải chịu trong mọi sự cố.
- Các chi phí phát sinh do lập chương trình,đục lỗ ghi nhãn hoặc chèn thông tin sai,
xoấ thông tin do nhầm lẫn hoặc loại bỏ không dùng các phương tiện chứa dữ liệu hoặc
mất thông tin do tác động của từ trường
- Tất cả các loại tổn thất có tính chất hậu quả dưới bất kì hình thức nào
*Chi phí gia tăng
19
Công ty PTI thoả thuận với người được bảo hiểm rằng nếu tổn thất vật chất có thể
được bồi thường theo phần thiệt hại vật chất của đơn bảo hiểm làm cho hoạt động của các
thiết bị EDP thay thế (mà các thiết bị thay thế này chưa được bảo hiểm theo đơn) tuy nhiên
mức bồi thường sẽ không vượt quá số tiền bảo hiểm tính theo ngày như đã thoả thuận và
cũng không vượt quá tổng số tiền bảo hiểm ghi trong bảng tóm tắt điều kiện bảo hiểm với
điều kiện là việc gián đoạn đó xảy ra trong thời hạn bảo hiểm ghi trong bảng tóm tắt điều
kiện bảo hiểm hoặc trong bất cứ giai đoạn nào tiếp theo mà người được bảo hiểm đã trả và
công ty PTI đã nhận một khoản phí để gia hạn cho đơn bảo hiểm.
Nhưng công ty PTI sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường cho bất cứ chi phí tăng
thêm nào đó phát sinh do:
- Có những qui định của hạn chế do các nhà chức trách ban hành liên quan đến việc
thiết kế, chế tạo lại thiết bị EDP được bảo hiểm hoặc hoạt động của các thiết bị đó.
- Người được bảo hiểm không có sẵn các quĩ cần thiết nhằm đáp ứng kịp thời việc
sửa chữa hoặc thay thế các thiết bị hư hại hay phá huỷ
III-SỐ TIỀN BẢO HIỂM VÀ PHÍ BẢO HIỂM
1-Số tiền bảo hiểm
Là giá trị tài sản được công ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm ghi trong giấy chứng
nhận bảo hiểm . Trong mọi trường hợp đó là giới hạn trách nhiệm tối đa của công ty bảo
hiểm đối với tài sản được bảo hiểm bị thiệt hại
Ở nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử số tiền bảo hiểm được áp dụng như sau:
hiểm.
Phí bảo hiểm =Tỉ lệ phí * Số đơn vị giá trị bảo hiểm
Khi tính phí bảo hiểm thiết bị điện tử thì trong phí phải chứa đầy đủ các yếu tố lạm
phát, thay đổi giá cả Cần tránh bảo hiểm dưới giá trị .Khi kết thúc một thời hạn bảo hiểm
(1 năm), nếu NĐBH muốn tái tục hợp đồng thì người bảo hiểm phải xem xét điều chỉnh
phí bảo hiểm cho phù hợp với giá trị của bảo hiểm.
b.Phí bảo hiểm áp dụng cho phần thiệt hại vật chất đối với các thiết bị điện tử :
Dưới đây là các mã số của từng chủng loại máy móc thiết bị điện tử sử dụng trong
các ngành khác nhau :
0100 Các hệ thống và thiết bị xử lí dữ liệu (EDP)
0200 Thiết bị viễn thông
0300 Thiết bị thu phát ,dùng trong phát thanh truyền hìnhvà thiết bị điện ảnh
0400 Thiết bị chiếu sáng và thiết bị hàng hải
0500 Thiết bị dùng cho nghiên cứu
0600 Thiết bị điện tử dùng trong y tế
0700 Bộ phận phát tín hiệu và truyền dẫn
0900 Máy móc thiết bị dùng trong văn phòng
1000 Bộ phận kiểm tra và ghi
Đối với các hệ thống thiết bị xử lý dữ liệu (001), thiết bị viễn thông (002), thiết bị thu
phát dùng trong phát thanh truyền hình (003) có biểu tỉ lệ phí bảo hiểm (trong phần phụ lục).
Tỉ lệ phí đề cập trong biểu phí chỉ là tỉ lệ phí tối thiểu tương ứng với các điều kiện
bảo hiểm cơ bản áp dụng với điều kiện rủi ro bình thường mà không có các yêú tố làm tăng
mức độ hoặc khả năng rủi ro .
Nếu có những yếu tố làm tăng mức độ và khả năng rủi ro thì phải tăng thêm phí
(trong những trường hợp đó phải thông báo những thông tin cụ thể về công ty để công ty
xem xét và quyết định ).Biểu phí này cũng áp dụng với thời hạn bảo hiểm tiêu chuẩn là
22
một năm và với một mức khấu trừ tối thiểu, vì vậy nếu áp dụng thời hạn bảo hiểm ngắn
hơn hoặc mức khấu trừ cao hơn thì có thể giảm phí .
Biểu phí được đề cập trong bảng phụ lục áp ụng đối với các thiết bị điện tử và
Các rủi ro động đất, thiệt hại do sóng thuỷ triều gây ra do tác động của động đất và
núi lửa phun là các rủi ro bị loại trừ trong đơn bảo hiểm chính. Nếu khách hàng yêu cầu
bảo hiểm thêm các rủi ro này thì áp dụng ĐKSĐBS 505 với hạn mức bồi thường không
vượt quá 1000.000USD nhưng với điều kiện là thu thập đầy đủ các thông tin có liên quan
như đề cập trong phiếu điều tra về rủi ro này.
23
Nếu bảo hiểm thêm những rủi ro này thì phải tính thêm phụ phí vì tỉ lệ phí cơ bản ghi
trong biểu phí chưa tính đến những rủi ro này. Phụ phí cho các rủi ro này áp dụng cho phần
thiệt hại vật chất đối với thiết bị điện tử và bảo hiểm phương tiện chứa dữ liệu bên ngoài.
Theo bản đồ của khu vực động đất của Munich Re các khu vực trên trái đất được
chia thành 5 khu vực : Từ 0 đến 4.
Khu vực có rủi ro động đất tăng dần theo thứ tự, chẳng hạn khu vực có rủi ro động
đất mức độ 0 là hầu như không có động đất xảy ra và cấp động đất là V và dưới V tính
theo độ Mercalli đã được sửa đổi .
Khả năng xảy ra động đất ở mỗi vùng là khác nhau, ví dụ ở Việt nam có 3 vùng xảy
ra động đất như : Đà nẵng , Hà nội, Lai châu (theo bản đồ thì các tỉnh miền bắc Việt nam
thuộc khu vực có rủi ro động đất là 1 tức là ít xảy ra động đất).
* Phí bảo hiểm các rủi ro lốc, xoáy, gió giật và bão lớn (mạnh trên cấp 8)
Tỉ lệ phí cơ bản đề cập ở trên cũng chưa tính đến các rủi ro này, nếu bảo hiểm thêm
thì phải tính thêm phụ phí theo bảng sau .
Bảng 5: Tỷ lệ phí rủi ro do thiên tai Đơn vị : %o tính theo năm
Địa điểm các hạng mục được
bảo hiểm
Cấp độ gió bão theo từng vùng
1 2 3
Đặt trong nhà
Đặt ngoài trời
0.1 0.80 1.5
0.40 TCT TCT
Khu vực 1: cấp độ thấp