Thực tế triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử tại
công ty cổ phần bảo hiểm bu điện (gọi tắt là PTI)
I- Vài nét sơ lợc về quá trình hình thành và phát triển công ty PTI
Công ty PTI chính thức triển khai hoạt động từ ngày 01 .09. 1998 theo quyết
định số 3633 /GP-UD của UBND thành phố Hà nội .Công ty PTI có một số chức
năng chính nh sau :
- Kinh doanh trực tiếp các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ trong phạm vi của
cả nớc và quốc tế .
- Kinh doanh nhận và nhợng tái bảo hiểm liên quan đến các nghiệp vụ bảo
hiểm phi nhân thọ.
- Tham mu t vấn cho các tổ chức kinh tế xã hội trong việc đánh giá và quản
lí rủi ro .
- Thực hiên các dịch vụ liên quan nh: Giám định, điều tra tính toán, phân bổ
tổn thất, đại lí giám định, xét giải quyết bồi thờng và đòi ngời thứ 3
- Hoạt động đầu t tài chính theo qui định của pháp luật
- Giúp các tổ chức khách hàng bảo hiểm đào tạo cán bộ chuyên ngành bảo
hiểm.
Hoạt động của công ty dới sự điều khiển của hội đồng quản trị sau đó đến
giám đốc và các phó giám đốc .
Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty PTI
ở sơ đồ trên nổi bật lên là phòng bảo hiểm tài sản kĩ thuật có chức năng là
chỉ đạo và thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản. Một trong những nghiệp vụ -
u thế của phòng là nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử, nghiệp vụ này đã đợc triển
Phó giám đốc
Phó giám đốc
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Phòng
bảo hiểm
tài sản kĩ
quyền này gây nhiều bất lợi cho khách hàng, tuy nhiên từ cuối năm 1995 đã có sự
ra đời của nhiều công ty bảo hiểm nên tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ và kết quả là
có nhiều loại hình bảo hiểm mới ra đời và phát triển nh bảo hiểm mọi rủi ro về tài
sản, tổn thất lợi nhuận, các đơn bảo hiểm toàn diện và trách nhiệm tổng quát.
Những mẫu đơn bảo hiểm chuẩn đang đợc áp dụng trên thị trờng bảo hiểm thế
giới cũng đợc giới thiệu trên thị trờng bảo hiểm Việt nam. Sự thay đổi nhanh
chóng và đáng kể trên tạo nhiều ảnh hởng tốt, khách hàng tham gia đợc chăm sóc
chu đáo và quyền lợi đợc thực sự bảo đảm.
Nắm bắt đợc tình hình trên, công ty PTI mới ra đời và triển khai ngay một
nghiệp vụ rất mới đó là nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử. Để có thể xâm nhập và
chiếm lĩnh thị trờng về nghiệp vụ mới này công ty PTI đã có chiến lợc khách hàng là
mở rộng địa bàn hoạt động ra hầu hết bu điện các tỉnh trên cả nớc đồng thời đa ra
chính sách khách hàng hợp lí đặc biệt là chính sách khách hàng lớn thể hiện trên
các mặt u đãi phí bảo hiểm, tiền thởng không có tổn thất hoặc ít tổn thất, về chi
phí đề phòng hạn chế tổn thất, về việc bồi thờng.... Thực hiện chiến lợc trên và
phân công cụ thể cho từng cán bộ quản lí khách hàng, rà soát lại khách hàng trọng
điểm, có tiềm năng để tập trung công sức, thờng xuyên theo dõi để phản ánh với
ban giám đốc nắm đợc tình hình khách hàng và những thông tin mới của đối tác
đa ra để thâm nhập thị trờng.
Sau đây là kết quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm TBĐT của công ty PTI từ 01
tháng 9 năm 1998 đến 30 tháng 4 năm 1999
Bảng 8: Tình hình khai thác bảo hiểm TBĐT tại công ty PTI
Chỉ tiêu Đơn vị 4 tháng cuối năm
1998
4 tháng đầu năm
1999
1.Số đơn bảo hiểm TBĐT Đơn 9 11
2.Số tiền bảo hiểm
-Lợng tăng tuyệt đối
-Tốc độ phát triển liên hoàn
trờng về sản phẩm này của công ty. Doanh thu từ nghiệp vụ này chiếm tỉ trọng
60% trong tổng doanh thu của cả công ty trong 4 tháng năm 1998.
Đến ngày 30/04/1999 doanh thu phí từ nghiệp vụ này là 3.322,000 (triệu
đồng) lớn hơn so với doanh thu 4 tháng năm 1998 là 703,000(triệu đồng). Điều
này chứng tỏ rằng trong năm 1999 công ty đã có đợc nhiều kinh nghiệm hơn tong
khâu tổ chức cũng nh khai thác, tình độ của cán bộ ,nhân viên. Doanh thu ở
nghiệp vụ này chiếm tỉ trọng 65% trong tổng doanh thu 4 tháng năm 1999. Tỉ
trọng này tăng phản ánh doanh thu từ nghiệp vụ này đang có xu hớng chiếm phần
lớn trong tổng doanh thu của công ty. Thêm vào đó nghiệp vụ bảo hiểm TBĐT
chiếm tỉ trọng cao thể hiện đây là một nghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu của công ty
PTI. Nếu ta so sánh doanh thu 4 tháng năm1998 và doanh thu 4 tháng năm 1999 ở
nghiệp vụ này ta thấy: về số tuyệt đối năm 1999 tăng 703(triệu đồng )so với 4
tháng năm 1998. Về số tơng đối tăng 26,84% tức bằng 1,26 lần của 4 tháng năm
1998 nh vậy ta dễ dàng thấy rằng cả số tuyệt đối và số tơng đối 4 tháng năm 1999
đều tăng hơn so với 4 tháng năm 1998.Kết quả này đang dần chứng minh cho ta
sự cần thiết và tính u việt của nghiệp vụ nà trên thị trờng bảo hiểm Việt nam.
* Xét về số đơn bảo hiểm đã cấp :
Trong 4 tháng năm 1998 công ty PTI cấp đợc 9 đơn, đây là những hợp đồng
đầu tiên về bảo hiểm TBĐT mà công ty đã kí kết đợc với khách hàng, những đơn
này chủ yếu là do các bu điện trong ngành thuộc cổ phần của công ty ngoài ra còn
có thêm đơn của Đài phát thanh và truyền hình Việt nam đợc lấy từ đơn của BAO
VIET để lại.
Cho đến 30/04/1999 sau 4 tháng của năm 1999 số lợng đơn cấp tăng lên là
11 đơn, rõ ràng là có sự cố gắng nỗ lực của các cán bộ nhân viên phòng Bảo hiểm
Tài sản - kĩ thuật rất nhiều. Nh vậy cùng một lợng thời gian nh nhau, năm sau số
đơn bảo hiểm đã tăng hơn năm trớc hay cũng có nghĩa là số lợng khách hàng đã
có sự chú ý tới nghiệp vụ này của công ty.
*Về số tiền bảo hiểm :
- 4 tháng năm 1998: Giá trị của đơn bảo hiểm này khá lớn, với số tiền là
478.181,818 (triệu đồng).
nhận thì chuyển cho kế toán tài vụ trả tiền bồi thờng ,nếu không phải tìm hiểu lại
và giải quyết cho thoả đáng.
Có thể nói, công ty PTI rất đề cao công tác giám định và bồi thờng để chất l-
ợng sản phẩm luôn đợc nâng cao.
Sau đây là các bớc công tác chủ yếu và nội dung cụ thể trong công tác
giám định và bồi thờng tổn thất của công ty PTI:
Bớc 1: Tiếp nhận và xử lý thông tin về tổn thất
Trong bớc này khi nhận đợc thông báo tổn thất ngời đợc bảo hiểm bằng các
văn bản (hoặc qua điện thoại, hoặc qua các nguồn tin khác). Cán bộ công ty cần
nắm ngay những thông tin cần thiết nh:
- Tên và địa chỉ của ngời thông báo tổn thất
- Địa điểm, thời gian xảy ra tổn thất
- Thông tin ban đầu về hậu quả thiệt hại
- Đánh giá ban đầu về nguyên nhân tổn thất
- Các biện pháp hạn chế tổn thất đã áp dụng
Tuy nhiên để đảm bảo chính xác thì công ty phải kiểm tra thông tin vừa nhận
đợc qua các nguồn tin khác nh: công an, chính quyền sở tại, cấp chủ quản của đơn
vị xảy ra tổn thất. Sau đó các cán bộ công ty báo cáo ngay cho cấp lãnh đạo trực
tiếp để đề xuất phơng án xử lý hoặc chủ động xử lý thông tin về tổn thất với các
vụ đợc phân cấp. Đối với các vụ tổn thất ớc tính thiệt hại đến 50.000USD các đơn
vị phải báo cáo ngay với công ty bằng văn bản.
Bớc 2: Công tác giám định
Nếu vụ tổn thất xảy ra trên địa bàn thuộc đơn vị quản lý thì:
Một là, đơn vị cử cán bộ giám định đến hiện trờng nơi xảy ra tổn thất để thu
thập đủ thông tin về vụ tổn thất, bao gồm các công việc cụ thể sau:
- Ghi chép và thu thập đầy đủ thông tin, số liệu có liên quan đến hiện trờng
vụ tổn thất.
- Thu thập vật chứng và lời khai nhân chứng.
- Đề xuất, phối hợp với ngời đợc bảo hiểm và các cơ quan chức năng để
áp dụng các biện pháp cần thiết để hạn chế tổn thất.
vụ tổn thất xảy ra trên địa bàn đơn vị mình phụ trách. Căn cứ từng vụ việc cụ thể,
nếu vợt phân cấp thuộc các đơn vị thì công ty có thể cử cán bộ nghiệp vụ trực tiếp
giúp các đơn vị lập hồ sơ.
2. Hồ sơ đối với các tổn thất theo đơn bảo hiểm thiết bị điện tử bao gồm:
- Giấy yêu cầu bảo hiểm của ngời đợc bảo hiểm.
- Danh mục tài sản đợc bảo hiểm.
- Hoá đơn thanh toán phí bảo hiểm.
- Hợp đồng bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm.
- Giấy thông báo tổn thất của ngời đợc bảo hiểm.