Lời nói đầu
Tiền lơng hiện nay đang là một vấn đề nóng trong đời sống kinh tế - xã
hội ở nớc ta. Trong vài năm trở lại đây, khi chỉ số giá liên tục tăng thì vấn đề tiền
lơng lại càng đợc xã hội quan tâm và xem xét dới nhiều góc độ. Sở dĩ nh vậy là
bởi tiền lơng không chỉ liên quan đến lợi ích của đại bộ phận dân c mà còn có ảnh
hởng tới các biến số của nền kinh tế, nh: tiêu dùng, tiết kiệm, đầu t ...và do đó
ảnh hởng trực tiếp tới mức tăng trởng chung của nền kinh tế.
Đối với các chủ doanh nghiệp, tiền lơng là một phần chi phí cấu thành nên
chi phí sản xuất kinh doanh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy
việc xây dựng chính sách tiền lơng, tháng lơng, bảng lơng và các hình thức trả l-
ơng hợp lý là hết sức cần thiết. Có thể nói tiền lơng không còn là vấn đề mới mẻ
nhng lại đang là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay. Việc trả lơng cho ngời
lao động một cách công bằng, trả đúng, trả đủ không chỉ đảm bảo cho họ có thể
bù đắp hao phí sức lao động bỏ ra mà nó còn khuyến khích hoặc kìm hãm sự say
mê, hứng thú lao động. Bên cạnh chính sách tiền lơng, tuỳ từng điều kiện cụ thể,
công ty có thể lựa chọn chính sách tiền lơng thích hợp, vì tiền thởng đóng vai trò
là công cụ hỗ trợ và tăng cờng sức mạnh đòn bẩy tiền lơng.
Trong thời gian kiến tập tại Công ty TNHH Điện Stanley, nhận thức đợc tầm
quan trọng của chính sách tiền lơng, thởng nên em đã chọn đề tài:
Khảo sát một số vấn đề về thực trạng công tác tổ chức tiền l ơng tại Công ty
TNHH Điện Stanley
1
chơng I: Cơ sở lý luận chung về tiền lơng
I. Những khái niệm về tiền lơng.
Khái niệm tiền lơng, tiền công đã đợc đề cập rất nhiều trong những nghiên
cứu của các nhà kinh tế học trớc đây, nhng có sự khác biệt trong quan niệm tiền l-
ơng giữa các thời kỳ, các chế độ xã hội. Khi nói đến chế độ TBCN cùng sự bóc
lột của giai cấp t sản, Max đã vạch trần bản chất bóc lột của CNTB thông qua
khái niệm tiền lơng: Tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động mà
chỉ là một hình thái cải trang của giá trị hay giá cả sức lao động. Trong nền kinh
tế t bản chủ nghĩa, tiền công, tiền lơng chỉ là phơng tiện nhằm che đậy sự bóc lột
loại dịch vụ cần thiết mà ngời lao động hởng lơng có thể mua đợc bằng tiền lơng
danh nghĩa của họ.
Tiền lơng thực tế không chỉ phụ thuộc vào số tiền lơng danh nghĩa mà còn
phụ thuộc vào giá cả của các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết
mà ngời lao động muốn mua. Mối quan hệ giữa tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng
thực tế đợc thể hiện qua công thức sau:
I
LTT
= I
LDN
/ I
P
Trong đó:
I
LTT
: Chỉ số tiền lơng thực tế
I
LDN
: Chỉ số tiền lơng danh nghĩa
I
P
: Chỉ số giá cả
1.3. Tiền lơng tối thiểu.
Theo điều 56 Bộ Luật Lao Động: Mức lơng tối thiểu là mức tiền lơng trả
cho ngời lao động làm những công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động
bình thờng, bù đắp sức lao động đơn giản và một phần tái sản xuất mở rộng. Đó
là những công việc thông thờng mà một ngời lao động có sức khoẻ bình thờng,
không qua đào tạo chuyên môn cũng có thể làm đ ợc.
Tiền lơng tối thiểu đợc Nhà nớc qui định theo từng thời kỳ dựa trên trình
độ phát triển về kinh tế - xã hội của đất nớc và yêu cầu tái sản xuất sức lao động
động đợc trả công. Cũng nh các quan hệ mua bán khác, sức lao động là một thứ
hàng hoá đặc biệt đợc đem ra bán trên thị trờng sức lao động. Nhng trớc tiên nó
4
phải là sức lao động có ích, đem lại lợi ích cho cả ngời bán (ngời lao động) và ng-
ời mua (ngời sử dụng lao động). Giá trị của sức lao động đợc phản ánh thông qua
chất lợng và hiệu quả của công việc thực hiện. Công việc nào có giá trị càng lớn
thì mức lơng càng cao.
2.2.2. Tái sản xuất sức lao động
Trong quá trình lao động, ngời lao động phải bỏ ra một năng lợng nhất
định để hoàn thiện công việc của mình. Năng lợng đó bao gồm thể lực và trí lực.
Cái mà ngời lao động mong muốn là ổn định và phát triển cuộc sống của họ và
gia đình họ. Vì vậy, tiền lơng không những có chức năng đảm bảo những t liệu
sinh hoạt để bù đắp lại năng lợng đã mất trong quá trình lao động mà còn tạo điều
kiện giúp cho họ tích luỹ hơn nữa trí lực và thể lực nhằm tái sản xuất sức lao
động.
2.2.3. Tạo động lực cho ngời lao động
Tiền lơng đợc coi là một đòn bẩy kích thích tinh thần hăng say, sức sáng
tạo của ngời lao động. Để thực hiện chức năng này tiền lơng không những đảm
bảo tái sản xuất sức lao động mà còn đảm bảo đợc tính công bằng và hợp lý, có
nghĩa ngời lao động luôn đợc thấy tiền lơng mình nhận đợc phản ánh đúng sức
lao động mà mình đã bỏ ra. Ngoài ra, tuỳ vào năng lực của từng ngời mà có biện
pháp nâng lơng cho ngời lao động, nh vậy mới tạo động lực làm việc cho ngời lao
động. Khi nào tiền lơng là nguồn thu nhập chính trong tổng thu nhập của ngời lao
động thì khi đó nó mới trở thành động lực của ngời lao động.
2.2.4. Kích thích và thúc đẩy phân công lao động xã hội.
Khi tiền lơng trở thành yếu tố kích thích ngời lao động làm việc, thì hiệu
quả lao động sẽ tăng lên. Việc tăng năng suất lao động luôn dẫn đến việc phân bố
lại lao động cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất. Xét rộng ra trong một nền
kinh tế, thì việc tăng năng suất lao động xã hội sẽ tạo điều kiện cho việc phân bổ
lại lao động trong các ngành, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế. Trong trờng
lợi nhuận cao nhất. Đây không chỉ là bài toán dài hạn của doanh nghiệp mà còn
là một yếu tố vĩ mô nếu xét trong một nền kinh tế.
- Tiền lơng phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Mức lơng của ngời lao
động ở mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành nghề, mỗi vùng miền là khác nhau song
6
đều phải căn cứ vào các quy định chung của pháp luật về mức lơng tối thiểu, hệ
số lơng, phụ cấp lơng, để có thể chi trả cho ng ời lao động. Các quy định này
cũng phụ thuộc vào các điều kinh tế, văn hoá xã hội đặc thù ở mỗi quốc gia.
3.2. Những nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lơng
3.2.1. Trả lơng ngang nhau cho lao động nh nhau
Xuất phát từ nguyên tắc phân phối theo lao động, nguyên tắc này dùng thớc
đo lao động để đánh giá, so sánh và thực hiện việc trả lơng cho ngời lao động.
Những ngời lao động khác nhau về tuổi tác, giới tính, trình độ, nh ng có mức
hao phí sức lao động nh nhau thì đợc trả lơng nh nhau. Điều này còn bao hàm ý
nghĩa: với những công việc khác nhau thì cần thiết phải có sự đánh giá đúng mức
và công bằng để có những tính toán chính xác và hợp lý trong việc trả lơng.
Đây là một nguyên tắc rất quan trọng vì nó đảm bảo đợc sự công bằng,
bình đẳng trong trả lơng. Điều này sẽ có sức khuyến khích rất lớn đối với ngời lao
động.
3.2.2. Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lơng bình quân
Tăng năng suất lao động và tăng tiền lơng có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Tăng năng suất lao động là tiền đề để tăng tiền lơng và ngợc lại, tăng tiền l-
ơng để kích thích tăng năng suất lao động.
Xét trong một nền kinh tế, thì mối quan hệ giữa tăng năng suất lao động và
tăng tiền lơng có liên quan đến tốc độ phát triển của khu vực sản xuất t liệu sản
xuất (KVI) và khu vực sản xuất t liệu tiêu dùng (KVII). Quy luật của tái sản xuất
mở rộng đòi hỏi KVI phải tăng nhanh hơn KVII, do vậy tổng sản phẩm xã hội
của cả hai khu vực phải có tốc độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng của riêng khu vực
II. Xét bình quân trên một đơn vị đầu ngời thì tổng sản phẩm xã hội tính theo đầu
ngời (cơ sở của năng suất lao động bình quân) phải lớn hơn sản phẩm bình quân
sách tiền lơng thích hợp với những loại phụ cấp u đãi thoả đáng.
Nguyên tắc này cũng nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong trả lơng
giữa những ngời lao động làm việc trong những ngành, nghề, lĩnh vực khác nhau,
chịu ảnh hởng của điều kiện lao động khác nhau. Yêu cầu đợc trả lơng cao hơn
đối với những nghề có tính chất đặc biệt, những nơi có điều kiện làm việc nặng
8
nhọc, độc hại, những ngành có vị trí mũi nhọn trong nền kinh tế là thoả đáng,
song cần phải cân đối với mức lơng ở các ngành nghề trong điều kiện lao động
bình thờng để tránh sự chênh lệch quá mức, góp phần làm tăng khoảng cách giàu
nghèo trong xã hội.
IV. Các hình thức trả lơng trong doanh nghiệp
4.1. Hình thức trả lơng cho lao động gián tiếp
Đối với khối lao động gián tiếp và lao động quản lý, hình thức trả lơng
cũng khá linh hoạt, phù hợp với số chất lợng và hiệu quả công việc đợc giao.
Hiện nay nhiều doanh nghiệp đã sử dụng hình thức khoán quỹ lơng đến từng bộ
phận, nhằm nâng cao hiệu lực quản lý và kích thích khả năng lao động của các
cán bộ và nhân viên dới quyền. Khi áp dụng chế độ trả lơng khoán, cần chú ý tới
hệ thống kiểm tra, nghiệm thu chặt chẽ, đảm bảo chất lợng và hiệu quả công việc.
4.2. Hình thức trả lơng cho lao động trực tiếp sản xuất:
4.2.1 Hình thức trả lơng theo thời gian.
Theo hình thức này, số tiền trả cho ngời lao động căn cứ vào thời gian làm
việc và tiền lơng trong một đơn vị thời gian. Hình thức này đợc áp dụng đối với
những công việc lặp đi lặp lại đều đặn trong tháng, những công việc khó có thể
định mức đợc, hoặc những công việc mang tính chất sáng tạo. Có hai hình thức
trả lơng theo thời gian.
Thứ nhất, là hình thức trả lơng theo thời gian đơn giản. Đây là hình thức trả
lơng mà tiền lơng nhận đợc của mỗi ngời lao động phụ thuộc vào mức lơng cấp
bậc, chức vụ hay cấp hàm và thời gian làm việc thực tế của họ.Theo hình thức
này, tiền lơng đợc tính nh sau:
L
Trong đó:L
CN
: tiền lơng của ngời lao động
L : tiền lơng trả theo thời gian giản đơn
T
G
: thời gian làm việc thực tế của ngời lao động
T : tiền thởng
Chế độ trả lơng theo thời gian có thởng không những phụ thuộc vào thời
gian làm việc và trình độ thành thạo mà còn liên quan đến thành tích công tác của
ngời lao động thông qua chỉ tiêu thởng. Do vậy nó khuyến khích ngời lao động
quan tâm đến trách nhiệm và kết quả công tác của mình.
4.2.2. Hình thức trả lơng theo sản phẩm
Trả lơng theo sản phẩm là hình thức trả lơng cho ngời lao động trực tiếp
căn cứ vào số lợng và chất lợng của sản phẩm dịch vụ nào đó mà họ đã hoàn
thành. Đây là hình thức trả lơng đợc áp dụng phổ biến trong doanh nghiệp. Việc
trả lơng gắn với kết quả lao động thực tế của ngời lao động sẽ kích thích tinh thần
làm việc của họ, đồng thời khuyến khích họ nâng cao trình độ tay nghề, phát huy
sức sáng tạo trong công việc và cải tiến năng suất lao động. Về cơ bản hiện nay
có hai hình thức trả lơng theo sản phẩm: trả lơng theo sản phẩm trực tiếp cá nhân
và trả lơng theo sản phẩm tập thể
10
* Trả lơng theo sản phẩm trực tiếp cá nhân
Hình thức trả lơng theo sản phẩm trực tiếp cá nhân đợc áp dụng rộng rãi
trong nhiều doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp sản xuất, với đơn giá tiền
lơng đợc tính nh sau:
ĐG= (L
- Đơn giá:
+ Nếu tổ chức giao mức sản lợng tập thể:
ĐG =
Q
)i(Lcb
n
1
+ Nếu tổ chức giao mức thời gian
11
ĐG=
n
1
Lcb(i)xT
Trong đó:
n : số công nhân trong tổ
Lcb : Lơng cấp bậc của công nhân i
Q : Mức sản lợng của cả tổ
T
0
: Mức thời gian của cả tổ
Tiền lơng thực tế mà cả tổ nhận đợc
L
1
= ĐG x Q
0
Trong đó:
L
1
5.2. Các phơng pháp xây dựng quỹ tiền lơng trong doanh nghiệp
5.2.1. Phơng pháp xây dựng quỹ tiền lơng dựa vào tiền lơng bình quân và
số lao động bình quân ký kế hoạch.
Phơng pháp này dựa vào tiền lơng bình quân cấp bậc hay chức vụ thực tế
kỳ báo cáo và tiến hành phân tích ảnh hởng tới tiền lơng kỳ kế hoạch sau đó dựa
vào số lao động bình quân kỳ kế hoạch để tính ra quỹ tiền lơng kỳ kế hoạch.
Q
TLKH
= TL
1
x T
1
Trong đó:
Q
TLKH
: Quỹ tiền lơng kế hoạch
T
1
: Số lao động bình quân ký kế hoạch
TL
1
: Tiền lơng bình quân kỳ kế hoạch. Đợc tính nh sau:
TL
1
= TL
0
x I
TL1
Trong đó:
TL
GT
: Suất lơng giờ của sản phẩm i
Khi tính theo phơng pháp này cần chú ý lợng chi phí lao động lấy theo kế
hoạch (kế hoạch về biện pháp và kế hoạch lập lại theo mức).
Suất lơng giờ bình quân đợc tính căn cứ vào hệ số lơng bình quân theo
công việc và suất lơng giờ bậc một.
5.2.3. Phơng pháp xây dựng quỹ tiền lơng theo mức chi phí tiền lơng cho
một đơn vị sản phẩm
Phơng pháp này dựa vào mức chi phí tiền lơng thực tế cho một sản phẩm
trong kỳ báo cáo, chỉ số tiền lơng và chỉ số năng suất lao dộng trong năm kế hoạch
để xây dựng mức chi phí tiền lơng kỳ kế hoạch. Ta có công thức:
Q
TL1
= M
TL1
x SL
1
Trong đó:
Q
TL1
: Quỹ tiền lơng kỳ kế hoạch
SL
1
; Tổng sản lợng kỳ kế hoạch
M
TL1
: Mức chi phí tiền lơng cho một đơn vị sản phẩm kỳ kế hoạch, đợc
tính nh sau: M
TL1
= M