0
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
&
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ
KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
BIÊN SOẠN: TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
điểm thi chính thức môn học.
- Sự hiểu biết của nghiên cứu sinh về môn học phải được kiểm tra thông qua hình
thức thi viết gồm 2 -3 câu hỏi.
2/ Cấu trúc môn học và phân bổ thời gian
- Nghe giảng trên lớp : 10 tiết
- Thảo luận và giải đáp thắc mắc trên lớp: 5 tiết
- Làm bài tập (viết tiểu luận) 10 tiết
- Kiểm tra : 5 tiết
Tổng cộng: 30 tiết
2
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
Trên cơ sở đó nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực của các cán bộ quản lý,
nghiên cứu khoa học, thiết kế và đào tạo trong lĩnh vực thiết kế đô thị, quản lý kiến
trúc và cảnh quan đô thị.
Để đảm bảo tiếp thu những khái niệm trên học viên cần có những kiến thức cơ bản
về đô thị, quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng đô thị, phương pháp, nội dung
lập đồ án qui hoạch xây dựng đô thị, quản lý việc triển khai thực hiện qui hoạch
xây dựng đô thị được duyệt.
3
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
CHƯƠNG I
MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ KIẾN TRÚC CẢNH QUAN ĐÔ THỊ
1. Khái niệm về đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị
1.1. Định nghĩa đô thị
- C.Mác và Angghen trong tác phẩm "Tư tưởng Đức" đã cho rằng, điều kiện quan
trọng nhất hình thành đô thị là "Sự phân công lao động trong một quốc gia dẫn đến
việc tách lao động công nghiệp, thương mại khỏi sản xuất nông nghiệp, từ đó tạo ra
hai kiểu phân bố dân cư là đô thị và nông thôn, chúng đối lập nhau về lợi ích"
- V.I. Lê Nin thì định nghĩa" Đô thị là trung tâm kinh tế, chính trị và tinh thần của đời
sống nhân dân và là động lực của sự tiến bộ"
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
như trung tâm công cộng, sản xuất, khu nhà ở, giao thông v.v tạo nên môi trường
sống của con người.
2. Thiết kế đô thị ( TKĐT)
2.1. Khái niệm
Cho đến nay, nhận thức về TKĐT trên thế giới nói chung vẫn chưa thống nhất, có 3
cách hiểu về TKĐT là:
- Thứ nhất: thiết kế đô thị là nghệ thuật tổ chức không gian đô thị, "nghệ thuật tạo lập
và bảo tồn môi trường vật thể đô thị"; " nghệ thuật thiết kế mọi thứ vật thể thuộc về
đô thị, trừ các công trình kiến trúc, xây dựng" (Jonathan Barnett, M. Perfect & G.
Power, Anh).
- Nhóm quan điểm thứ hai: nhìn nhận TKĐT là qui trình, phương pháp thiết kế độc
lập tách biệt vừa là cầu nối giữa với QHXD và thiết kế kiến trúc, có đối tượng là
tổng thể đô thị hoặc khu đô thị; là thiết kế chi tiết xây dựng các tổng thể kiến trúc
đô thị.
- Cách hiểu thứ ba coi thiết kế đô thị là mục tiêu vừa là nội dung có tính xuyên suốt,
thuộc về phạm trù quy hoạch xây dựng đô thị, gắn với quá trình xây dựng và phát
triển đô thị. TKĐT là trình tự, phương pháp vừa là sản phẩm của nghệ thuật tổ chức
không gian đô thị.
Xuất phát từ quan điểm đô thị là tổng thể thống nhất được hình thành từ các yếu tố
tự nhiên và nhân tạo, mang nội hàm công năng, kinh tế, kỹ thuật và văn hoá tinh
thần, có thể hiểu thiết kế đô thị là : "nội dung có tính xuyên suốt của QHXD đô thị,
với mục tiêu chủ yếu là tạo lập không gian đô thị vừa bảo đảm công năng có chất
lượng thẩm mỹ, nghệ thuật hợp lý, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
của đô thị, đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ, văn hoá tinh thần của dân cư đô thị".
Thiết kế đô thị là nghệ thuật tổ chức cơ cấu, tạo lập mối quan hệ giữa các yếu tố (
nhân tạo, tự nhiên )không gian đô thị, là tổ chức mặt bằng, cơ cấu chức năng, hình
cầu thẩm mỹ, văn hoá tinh thần của dân cư đô thị.
2.4. Mối quan hệ giữa TKĐT với TK kiến trúc
Đối tượng thiết kế khác nhau: Đối tượng của thiết kế đô thị là toàn bộ không gian
đô thị ("mọi vật có thể nhìn thấy được từ cửa sổ"). Khu vực không gian có thể chia
thành khu nội thành, khu, tiểu khu, khối, dảiv.v
Đối tượng của thiết kế kiến trúc là bản thân công trình kiến trúc và môi trường xung
quanh (surrounding).
- Tầng thiết kế khác nhau: thiết kế đô thị nằm giữa thiết kế quy hoạch chi tiết và thiết
kế xây dựng, tỷ lệ xích là 1/1000 hoặc 1/2000 (lớn nhất 1/500).
Thiết kế kiến trúc thuộc về phạm trù thiết kế xây dựng sửa chữa, bản vẽ của nó chỉ
đạo trực tiếp thi công.
- Độ sâu thiết kế khác nhau: thiết kế đô thị xác định mô hình phát triển không gian
cụ thể của khu vực qui hoạch, từ khu cây xanh, đường giao thông, và tất cả các đối
tượng trong không gian đô thị như tượng đài, quảng cáo, chiếu sáng v.v nhằm tạo
ra môi trường không gian đô thị hoàn chỉnh, hoàn mỹ và hài hoà. Thiết kế kiến trúc
nhằm mục tiêu thiết kế kỹ thuật thi công xây dựng công trình.
- Thiết kế đô thị là cầu nối giữa QHXD và KT, là cơ sở cho thiết kế kiến trúc về các
mặt:
+ Xác định tính chất, vị trí, lối ra vào chủ yếu v.v của công trình kiến trúc trong
không gian đô thị;
+ Xác định yêu cầu về hình thái, không gian màu sắc, phong cách, v.v của công
trình kiến trúc phù hợp với KTCQ khu vực;
Thiết kế đô thị tạo lập bô khung không gian cảnh quan cho sáng tạo kiến trúc công
trình. Trong sáng tạo kiến trúc đòi hỏi nhận thức đúng về không gian cảnh quan noi
công trình kiến trúc hình thành để nghiên cứu và xử lý tốt mối quan hệ giữa công
trình kiến trúc và không gian đô thị.
2.5. TKĐT trong hệ thống QHXD
Hệ thống các dự án quy hoạch xây dựng hiện nay gồm có:
a/ Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị và khu dân cư Việt Nam đến năm
2020.
triển đô thị.
3.1.3. Ngoài ra, để tạo ra nguồn lực phát triển đô thị, chính quyền Nhà nước còn áp dụng
đồng bộ những biện pháp như : xã hội hoá việc cung cấp phục vụ lợi ích công cộng,
phân phối lưu thông ; trả tiền khi sử dụng các dịch vụ hạ tầng công cộng, đất đai,
nhà xưởng,v.v huy động các nguồn vốn thực hiện các dự án BOT, BT,v.v , tạo
điều kiện để mọi thành phần kinh tế tham gia vào các chương trình phát triển đô
thị.
3.2. Quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị
3.2.1. Quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất
của công tác quản lý đô thị nhằm quản lý quá trình hình thành và phát triển môi
trường vật thể của đô thị đảm bảo cho đô thị phát triển hiệu qủa, phục vụ tốt nhất
cho nhu cầu vật chất và tình thần của con người. Nội dung quản lý Nhà nước về quy
hoạch và xây dựng đô thị gồm:
a/ Ban hành các quy định về quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị;
b/ Lập, xét duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị;
c/ Quản lý việc đầu tư cải tạo và xây dựng các công trình trong đô thị theo quy hoạch
đô thị được duyệt;
d/ Phát triển văn hoá kiến trúc kết hợp bảo vệ các di sản văn hoá, lịch sử cảnh quan và
môi trường đô thị;
e/ Quản lý việc sử dụng và khai thác cơ sở hạ tầng đô thị;
7
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
f/ Giải quyết tranh chấp, thanh tra và xử lý vi phạm những quy định về quản lý trật tự
xây dựng đô thị.
3.2.2. Nội dung quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị trong thực tế được cụ thể hoá
thành những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Tồn tại của khuynh hướng này là thiếu định hướng phát triển lâu dài, làm nẩy sinh
mâu thuẫn, xung đột về nhiều mặt trong đời sống của xã hội đô thị và tình trạng
khó kiểm soát đối với những đô thị có qui mô lớn, làm cho đô thị phát triển không
bền vững.
b/ Khuynh hướng phân khu
8
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
Được hình thành từ những năm đầu thập kỷ 20, xuất phát từ quan điểm của Hiệp
hội kiến trúc sư quốc tế CIAM (1928 - 1959), thường được gọi là quan điểm qui
hoạch xây dựng đô thị công năng, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến qui hoạch xây dựng
đô thị trên thế giới trong suốt thế kỷ XX, đến nay vẫn là một phương pháp qui
hoạch xây dựng chủ yếu của nhiều nước.
Đô thị được thiết kế thành các không gian theo chức năng riêng biệt, gồm khu ở,
khu sản xuất, khu trung tâm công cộng, cây xanh, giải trí thể dục thể thao, cơ sở hạ
tầng kỹ thuật, vv thông qua qui hoạch mặt bằng phân khu chức năng, qui hoạch sử
dụng đất và các sơ đồ tổ chức kiến trúc-cảnh quan.
Do chỉ thiên về tổ chức công năng, XD đô thị đạt hiệu quả thấp về thẩm mỹ, tinh
thần, bộ mặt kiến trúc đô thị đơn điệu, thiếu bản sắc và và chưa kế thừa những giá
trị văn hoá lịch sử của đô thị truyền thống.
c/ Khuynh hướng tầng bậc và tiếp cận hệ thống
Đô thị được tổ chức theo cấu trúc tầng bậc gồm hệ thống các không gian, từ nhóm
công trình đến tổng thể đô thị, vùng lãnh thổ. Quan điểm này gắn quá trình xây
dựng và phát triển đô thị hiện đại thế giới với sự ra đời các đô thị ở các dạng chuỗi,
tuyến tính, hướng tâm, đa tâm, đô thị vệ tinh, vv vào những năm giữa thế kỷ XX.
Tuy nhiên chưa phản ánh và đáp ứng được những yêu cầu phát triển đa dạng của xã
hội. Do đó vào những năm của thập kỷ 60-70 của thế kỷ XX, cấu trúc phi tầng bậc
đai, địa hính, khí hậu,vv ); tài nguyên kinh tế, xã hội, văn hoá, vật thể và phi vật thể
( công nghiệp, dịch vụ, nhà ở, hạ tầng, vệ sinh môi trường, truyền thống văn hoá,
lịch sử,vv ). Thiết kế đô thị là tạo lập hệ sinh thái đô thị thông qua tổ chức không
gian vật thể trên cơ sở giải quyết mọi mâu thuẫn, tác động tiêu cực giữa phát triển
và môi trường, trong việc sử dụng các tài nguyên, nhằm phát triển ổn định và bảo
đảm môi trường bền vững; đô thị phải có vị trí, chức năng phù hợp với sự phát triển
chung của cả nước, vùng và khu vực; phát triển cân đối với tiềm năng của hệ tài
nguyên sinh thái, tài nguyên kinh tế-xã hội; cơ cấu chức năng, không gian đô thị
phải bảo đảm sự cân bằng, mối quan hệ hài hoà giữa các yếu tố nhân tạo với cảnh
quan thiên nhiên, bảo đảm gìn giữ, phục hồi tài nguyên môi trường, sinh thái; coi
trọng tính đa dạng, giữ gìn bản sắc, truyền thống, kết hợp hài hoà giữa cải tạo và
xây dựng mới; áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển, giảm thiểu
tác động của con người lên môi trường sinh thái và ngược lại,vv
Nguyên tắc thiết kế môi trường còn được áp dụng đối với thiết kế công trình kiến
trúc. Là bộ phận hữu cơ của cảnh quan, môi trường, một tiểu hệ sinh thái, công trình
được thiết kế theo nguyên tắc cân bằng sinh thái sẽ hạn chế tác động đến môi
trường, khai thác tài nguyên hợp lý và góp phần bảo đảm phát triển đô thị bền vững.
1.2. Vấn đề quản lý kiến trúc và cảnh quan đô thị
1.2.1. Quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị
a/ Hệ thống đồ án QHXD:
Mọi mô hình phát triển không gian đô thị đều thông qua hệ thống các đồ án thiết kế
qui hoạch xây dựng đô thị. Nhìnchung các quốc gia đều áp dụng 3 cấp qui hoạch:
- Cấp toàn quốc, gồm các qui hoạch tổng thể, chính sách hoặc chiến lược, chương
trình phát triển đô thị, khu dân cư;
- Cấp vùng, định hướng, chiến lược hoặc sơ đồ phát triển vùng;
- Cấp địa phương, qui hoạch đô thị hoặc khu đô thị, gồm các loại qui hoạch xây
dựng: Qui hoạch chung hoặc qui hoạch cơ cấu ( structure plan) đối với toàn đô thị
hoặc một khu đô thị; qui hoạch sử dụng đất đai hoặc qui hoạch chi tiết khu vực (
Local plan) để cụ thể hoá và hướng dẫn thực hiện qui hoạch chung, qui hoạch cơ
cấu.
Bao gồm:
- Phân vùng quản lý phát triển
Đối với đa số các nước trên thế giới, hệ thống phân khu ( zonning) được áp dụng là
cơ sở lập các qui định kiểm soát phát triển không gian đô thị. các thành phần quản
lý kiến trúc-cảnh quan đô thị được xác định gồm một số thành phần chủ yếu, tuỳ
thuộc vào tính chất, qui mô đô thị, ví dụ tại thành phố Melbourne, Australia gồm
11 thành phần:
+ Mạng đường phố;
+ Một số phố đặc thù;
+ Tuyến cảnhquan ven sông;
+ Trung tâm giao dịch,thương mại (CBD);
+ Hệ thống đường xe điện nội đô;
+ Các công trình tượng đài, quảng cáo, tranh hoành tráng;
+ Hệ thống đường đi bộ, đường dạo;
+ Các công trình có giá trị sử dụng, kiến trúc, nghệ thuật nổi bật;
+ Quảng trường;
+ Công viên, cây xanh;
+ Di tích lịch sử, khu bảo tồn.
Không gian kiến trúc các đô thị Mỹ thường được chia thành 16 thành phần.
Nói chung việc phân vùng quản lý ở một số nước đều được xác định ở các qui mô,
từ vùng lãnh thổ, như đô thị, khu dân cư nông thôn, công nghiệp, lâm nghiệp, khai
khoáng, vùng cảnh quan, du lịch, vùng bảo tồn sinh thái, di tích lịch sử; đến qui mô
đô thị gồm bộ khung công năng-kiến trúc-cảnh quan như hệ thống giao thông (
đường đô thị, đường đối ngoại, cao tốc, hệ thống đường đi bộ); hệ thống không gian
trống, khu cây xanh, cảnh quan; các tuyến, trục bố cục không gian chính, cửa ô (
lối vào) chính của đô thị; khu vực ngoại thành; khu phố cổ, di tích lịch sử; và các
yếu tố kiến trúc nhỏ như ghế ngồi, trạm điện thoại công cộng; hệ thống biển báo chỉ
dẫn, quảng cáo, tranh hoành tráng, tượng đài; các khu đặc biệt khác, vv
- Các qui định quản lý kiến trúc-cảnh quan đô thị
trong quá trình cấp phép xây dựng.
Nói chung cấp phép qui hoạch là điều kiện quan trọng để công trình được xây dựng
theo qui hoạch. Nội dung để cơ quan quản lý nhà nước, thường là cấp địa phương,
xem xét khi cấp phép qui hoạch là về vị trí công trình, đặc thù kiến trúc, mốiquan hệ
công trình với xung quanh về cảnh quan, môi trường, tính chất sử dụng, bảo tồn di
tích, hiệu quả về kinh tế, xã hội, văn hoá, môi trường của công trình và điều kiện,
yêu cầu về cơ sở hạ tầng.
d/ Quản lý hành nghề kiến trúc và bảo hộ quyền tác giả
Vai trò cá nhân kiến trúc sư và những người sáng tác kiến trúc, thiết kế cảnh quan
đô thị rất quan trong trong thiết kế, cải tạo và xây dựng các công trình kiến trúc,
cảnh quan, di tích lịch sử phù hợp với qui hoạch và luật pháp, bảo đảm an toàn, gìn
giữ cảnh quan, môi trường, văn hoá, lịch sử. Chất lượng của kiến trúc, kiến trúc,
cảnh quan đô thị phụ thuộc vào chất lương jsáng tác của họ. Do đó để kiểm soát và
bảo đảm phát huy sự sáng tạo của giới KTS, nhiều nước đã ban hành luật về kiến
trúc, luật hành nghề kiến trúc, luật về quyền tác giả như Trung Quốc, Thái Lan,
Nga, Nhật, vv
12
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
Các bộ luật về kiến trúc, hành nghề kiến trúc, luật về quyền tác giả qui định điều
kiện về thiết kế, xây dựng các công trình kiến trúc, nội dung hành nghề của kiến
trúc sư trong sáng tác kiến trúc, cảnh quan đô thị, trách nhiện, quyền hạn, bảo vệ
quyền tác giải đối với tác phẩm kiến trúc, quản lý nhà nước, xã hội đối với cá nhân
kiến trúc sư và hoạt động hành nghề kiến trúc.
2. Những vấn đề đặt ra đối với quản lý KTCQĐT
- Tính chất đô thị về xã hội, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, giải trí v.v
của đô thị hiện đại ngày càng phức tạp, đòi hỏi nhiệm vụ QLĐT càng nặng nề phức
1.1. Về phát triển kiến trúc
1.1.1. Ở khu vực đô thị
13
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
Đô thị là địa bàn thuận lợi nhất để thu hút các nguồn đầu tư. Tại đây, kiến trúc đã
phát triển khá mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu quan trọng thể hiện ở các mặt
sau:
a/ Phạm vi hoặc địa bàn phát triển kiến trúc đã không ngừng được mở rộng cùng với
quá trình đô thị hoá, tăng trưởng và phát triển đô thị.
Năm 1995, cả nước có trên 400 đô thị với dân số đô thị là 11,8 triệu người, chiếm
20% số dân toàn quốc, nhưng đến nam 2000 mạng lưới đô thị đã được phát triển và
mở rộng với 646 đô thị cùng với khoảng 18 triệu người, chiếm khoảng 24% dân số
toàn quốc. Sự phát triển các đô thị trong thời gian qua chủ yếu dựa trên cơ sở các đô
thị hiện có và các đô thị mới được hình thành từ các thị tứ, khu công nghiệp và các
hoạt động dịch vụ ở các vùng đang phát triển, các khu kinh tế cửa khẩu và khoảng
70 khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao.
Quá trình mở rộng mạng lưới đô thị đã tạo cơ sở mở rộng địa bàn phát triển kiến
trúc trên phạm vi cả nước.
b/ Kiến trúc ở các đô thị đã phát triển với quy mô lớn, làm thay đổi cấu trúc không
gian và hình ảnh đô thị.
Tại các đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn, nhiều công trình kiến trúc mới có quy mô
lớn, nhiều tầng đã được xây dựng. Nhiều đường phố mới, khu đô thị, khu công
nghiệp mới có cơ sở hạ tầng đồng bộ đã được hình thành. Ngoài ra, một số các khu
nhà ổ chuột trên kênh rạch hoặc các xóm liều cũng được cải tạo nâng cấp đã làm
cho quy mô, cấu trúc không gian, hình ảnh và mỹ quan đô thị được cải thiện, góp
phần tích cực phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.
nhiều thành phố trên miền Bắc. Đến thập kỷ 70 - 80, tại các đô thị miền Bắc, miền
Trung đã xây dựng hàng loạt nhà bằng kết cấu lắp ghép lớn hoặc bằng kết cấu gạch
kết hợp với tấm lớn, kiểu bố cục căn hộ: một phòng và 2 phòng khép kín, bếp và
khu vệ sinh riêng hoàn chỉnh. Kiến trúc nhà ở phát triển trong thời kỳ bao cấp và
trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài đã có những đóng góp nhất định của các kiến
trúc sư trong việc tìm kiếm một hình thái không gian kiến trúc phù hợp với điều
kiện thiên nhiên và vật chất, kỹ thuật còn khó khăn, nhờ đó đã phản ánh được tính
hiện thực của một thời kỳ phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Từ những năm 90, nhà ở đô thị đã phát triển rất mạnh mẽ. Sự ra đời của hàng loại
các khu nhà ở, đặc biệt là nhà ở do dân tự xây đã nâng chỉ tiêu diện tích nhà ở bình
quân từ 2,5m2 sàn/người(1990) lên 5,8m2 sàn/người (năm 1999). Chất lượng không
gian nhà ở đã có tiến bộ rõ rệt. Các căn hộ cũ có chung nhau khu phụ đã được thay
bằng các căn hộ mới khép kín với diện tích các phòng thích hợp, sử dụng tiện lợi.
Nếu như việc phát triển nhà ở trước đây chỉ dựa vào một vài mẫu căn hộ điển hình
thì nay đã được thay thế bằng nhiều mẫu căn hộ đẹp, có mức tiện nghi khác nhau.
Sự xuất hiện nhiều loại nhà ở: biệt thự, chung cư, nhà liền kề do nhà nước xây dựng
hoặc nhân dân tự xây dựng có sự quản lý của nhà nước về mặt quy hoạch xây dựng
và sử dụng đất đai đã góp phần làm phong phú thêm kiến trúc khu ở nói riêng và đô
thị nói chung. Nhà ở 4-5 tầng đã có hình khối đơn giản hơn, với hình thức đã đạt
được sự thống nhất. Giải pháp bố cục quy hoạch chi tiết một số khu ở khá sinh
động, trên cơ sở kết hợp hài hoà giữa nhà nhiều tầng với nhà thấp tầng. Các khu nhà
ở mới hình thành tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, thành phố Vũng
Tàu và một số đô thị khác được xây dựng gần đây dựa trên cơ sở những quan điểm
mới về quy hoạch xây dựng và cơ chế đầu tư phát triển, đã đáp ứng được nhu cầu
người tiêu dùng. Các hệ thống kết cấu xây dựng nhà ở cũng đã phong phú hơn, bao
gồm hệ tường gạch chịu lực, xây tay đến kết cấu khung, nhà bê tông cốt thép hoặc
lắp ghép với các công nghệ, trang thiết bị thi công được cơ giới hoá đảm bảo được
các yêu cầu về tiến độ và chất lượng công trình.
b/ Đối với kiến trúc các công trình công cộng
Từ những năm 60, các công trình công cộng như nhà trẻ, trường học, trạm y tế, cửa
luợng và chất lượng. Một số khu công nghiệp cũ trong thành phố là nguồn gây ô
nhiễm môi trường đã được cải tạo hoặc di dời nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và
cải thiện điều kiện vệ sinh môi truờng. Khoảng 70 khu chế xuất, khu công nghiệp
tập trung, khu công nghệ cao mới đã được thành lập với sự đầu tư của nước ngoài
và trong nước. Hình thức kiến trúc các công trình sản xuất đã hướng tới tính giản dị,
tính chân thực, nhẹ nhàng và khoáng đạt hơn cùng với việc sử dụng hệ thống kết
cấu xây dựng chủ yếu bằng thép. Nhà nước đã tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng ngoài hàng rào các khu công nghiệp như cầu, đường, cảng biển, cảng hàng
không,v.v tạo điều kiện cho các khu công nghiệp phát triển và nhờ vậy kiến trúc
các công trình công nghiệp đã có bước tiến đáng kể, trở thành một bộ phận quan
trọng của nền Kiến trúc nước nhà.
1.2. Về quản lý kiến trúc
1.2.1. Công tác quy hoạch xây dựng
Quy hoạch xây dựng là cơ sở để quản lý phát triển các đô thị, khu dân cư nông thôn,
tạo lập môi trường sống thích hợp cho dân cư và là tiền đề hình thành và phát triển
kiến trúc, cảnh quan. Do vị trí và tầm quan trọng của quy hoạch xây dựng, trong
những năm qua, công tác này đã được nhà nước quan tâm đầu tư, chỉ đạo đạt kết
quả tốt.
Trong hơn10 năm, từ 1990 đến nay, 86 thành phố, thị xã và gần 30 đô thị mới đã có
quy hoạch chung đến năm 2010 được duyệt, trong đó đã có nhiều đồ án quy hoạch
chung đến năm 2020 đã được điều chỉnh. Quy hoạch chung 560 thị trấn về cơ bản
đã và đang được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức
lập, xét duyệt. Quy hoạch chi tiết 70 khu công nghiệp, các quận và các khu chức
năng chính trong đô thị đã được lập, xét duyệt để làm cơ sở triển khai đầu tư xây
dựng và quản lý đô thị.
Đối với vùng đô thị lớn, do tính chất đa ngành và liên vùng ngoài quy hoạch chung
nhà nước đã cho lập quy hoạch xây dựng chuyên ngành. Gần 9000 xã trên địa bàn
cả nước cũng đang được chỉ đạo lập quy hoạch xây dựng, trong số đó nhà nước đặc
biệt quan tâm ưu tiên và có chương trình riêng cho các dự án quy hoạch xây dựng
qui định kiểm soát phát triển không gian kiến trúc cảnh quan đô thị, gồm những chỉ
tiêu về phân khu chức năng, hệ số sử dụng đất, mật độ xây dựng, lộ giới, hạn tuyến,
tầng cao, yêu cầu kiến trúc cảnh quan, bảo tồn, hạ tầng kỹ thuật,vv
Các văn bản pháp quy chủ yếu có liên quan đến nội dung quản lý kiến trúc-cảnh
quan đô thị được ban hành hiện nay gồm: các văn bản về kiểm soát sự phát triển đô
thị theo quy hoạch: giới thiệu địa điểm, cấp chứng chỉ quy hoạch, lập, xét duyệt các
dự án đầu tư; giao đất, cho thuê đất, lập, thẩm định các thiết kế xây dựng, cấp giấy
phép đầu tư, cấp giấy phép xây dựng đô thị, kiểm tra giám định chất lượng công
trình; lập hồ sơ hoàn công; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu
công trình; các văn bản về thanh tra, kiểm tra, xử phạt hành chính trong quản lý trật
tự xây dựng đô thị; phát triển nhà và đất, các văn bản về quy định về chức năng,
nhiệm vụ của cơ quan, bộ máy quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị; các văn bản
hướng dẫn chuyên môn và nghiệp vụ kỹ thuật; quy chuẩn, quy trình kỹ thuật, tiêu
chuẩn kỹ thuật, chỉ dẫn thiết kế, v.v.v có liên quan.
Nói chung hệ thống các văn bản pháp luật đã qui định cụ thể nội dung về kiểm soát
xây dựng đô thị theo quy hoạch như giới thiệu địa điểm, cấp chứng chỉ quy hoạch,
lập, xét duyệt các thiết kế xây dựng, cấp giấy phép đầu tư, cấp giấy phép xây dựng
đô thị, kiểm tra giám định chất lượng công trình; lập hồ sơ hoàn công; thanh tra,
17
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
kiểm tra, xử phạt hành chính trong quản lý trật tự xây dựng đô thị; quản lý hành
nghề kiến trúc sư; chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, bộ máy quản lý quy hoạch và
xây dựng đô thị; các văn bản hướng dẫn chuyên môn và nghiệp vụ kỹ thuật; quy
chuẩn, quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật, chỉ dẫn thiết kế, v.v
1.2.3. Các mô hình quản lý đầu tư và phát triển đô thị
Nhiều mô hình đầu tư và xây dựng mới như: mô hình dự án các khu công nghiệp
đã tạo tiền đề thu hút nhiều nhân tài, vật lực vào sự nghiệp phát triển đô thị, khu dân
cư nông thôn, trong đó có sự tham gia tích cực của nhân dân vào quá trình sáng tạo,
kiểm soát phát triển, tạo lập môi trường sống và sự cố gắng lớn lao của giới kiến
trúc sư có vốn sống, giầu lòng yêu nghề, giữ được phẩm chất đạo đức, kiên định
quan điểm sáng tạo phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp cách mạng, đã đóng góp
cho nước nhà những tác phẩm kiến trúc có giá trị.
2. Những tồn tại và yếu kém
18
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
Bên cạnh những thành tựu đạt dược, công tác phát triển và quản lý kiến trúc trong
thời gian qua còn bộc lộ nhiều tồn tại và yếu kém;
2.1. Kiến trúc phát triển còn thiếu trật tự, đa dạng nhưng không thống nhất và chưa có
bản sắc riêng
Tại các đô thị, trật tự kiến trúc của toàn đô thị nói chung và từng đường phố, khu
phố nói riêng chưa được thiết lập. Sự phát triển thiếu một định hướng thống nhất và
sự thiếu kiểm soát chặt chẽ đã làm bộ mặt kiến trúc công trình được tạo lập riêng
lẻ theo yêu cầu của chủ đầu tư hoặc theo sở thích riêng của người thiết kế, của
người quản lý đã làm cho mỹ quan kiến trúc đô thị bị xuống cấp. Kiến trúc của từng
đô thị, từng khu dân cư nhìn chung chưa có được bản sắc riêng.
Cảnh quan đô thị là một tổng thể các công trình kiến trúc, công trình cơ sở hạ tầng
kỹ thuật và thiên nhiên có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên vẻ đẹp cuả kiến trúc đô
thị. Song nhìn chung, việc cải tạo và xây dựng đô thị vẫn nặng về chắp vá không
đồng bộ, cơ sở hạ tầng thiếu, xuống cấp, thiên nhiên bị xâm phạm, môi trường bị ô
nhiễm, nên không có được tính thống nhất trong tổng thể kiến trúc.
2.2. Trong thiết kế sáng tác kiến trúc chưa có tác phẩm lớn, đạt đỉnh cao về chất lượng
tương xứng với tầm vóc của thời kỳ đổi mới.
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
hoạch, xây dựng không phép và trái phép còn khá phổ biến. Lực lượng sáng tác
kiến trúc và quản lý kiến trúc- xây dựng trong các đô thị - nông thôn còn yếu. Việc
cấp phép xây dựng còn khá nhiều phiền hà và tiêu cực. Các chính sách, biện pháp,
cơ chế hành nghề kiến trúc sư và tạo vốn phát triển kiến trúc còn thiếu. Các thủ tục
hành chính trong giao đất, cấp giấy phép xây dựng và thẩm định các dự án đầu tư
còn rườm rà, phức tạp. Các tồn tại lịch sử trong quản lý nhà và đất đô thị chưa được
giải quyết dứt điểm đang là trở ngại lớn trong việc thiết lập lại trật tự kỷ cương và
tạo nguồn lực phát triển đô thị. Quan hệ giữa quy hoạch, thiết kế đô thị và thiết kế
kiến trúc công trình còn thiếu phối hợp chặt chẽ. Thiết kế đô thị chưa được thể chế
hoá và chưa có chuyên gia về lĩnh vực này. Công nghệ thiết kế còn bất hợp lý.
Thiết kế sơ bộ, thiết kế sơ phác là khâu mang tính sáng tạo cốt lõi nhất lại bị lồng
ghép trong nội dung quản lý đầu tư nên bị lu mờ, coi nhẹ. Giá thiết kế thấp cũng là
nguyên nhân của chất lượng thiết kế kém. Mối quan hệ giữa thiết kế và thi công
chưa hợp lý đã gây ra sự lộn xộn trong quản lý đô thị và có ảnh hưởng xấu tới kiến
trúc, cảnh quan. Quản lý kiến trúc nông thôn còn bị buông lỏng. Nhà nước chưa có
chính sách động viên thích đáng các kiến trúc sư đi vùng sâu, vùng xa nên sự phân
bổ lực lượng sáng tác kiến trúc không đều trên địa bàn cả nước.
2.5. Lĩnh vực lý luận phê bình sáng tác kiến trúc, nghiên cứu, đào tạo và hành nghề kiến
trúc sư chưa được coi trọng
Tình hình kém lý luận và thiếu thông tin trong lĩnh vực lý luận phê bình kiến trúc đã
có ảnh hưởng đến chất lượng sáng tác kiến trúc.
Hệ thống tiêu chuẩn ISO về xây dựng; những quy chuẩn về quy hoạch, về xây
dựng, về phòng cháy, chữa cháy và hệ thống tiêu chuẩn của các nước phát triển là
nguồn chất xám và trí tuệ quý báu của cộng đồng thế giới chưa được khai thác là trở
ngại lớn đối với chủ trương xuất khẩu thiết kế, thi công ra các nước và hội nhập thế
giới.
Bước vào Thế kỷ XXI, tri thức và thông tin đang trở thành động lực của sự phát
triển. Tuy nhiên, việc thu thập và trao đổi thông tin với các nước còn rất hạn chế.
3.2. Về mặt chủ quan
3.2.1. Trình độ dân trí và nhận thức về quản lý và phát triển kiến trúc chưa cao. Công tác
thông tin, tuyên truyền, phổ cập các tri thức về văn hoá, kiến trúc chưa làm được
nhiều và còn thiếu những biện pháp thiết thực.
Nhà nước còn thiếu cơ chế tạo điều kiện để cho dân tham gia vào quá trình tạo lập,
phát triển kiến trúc và bảo vệ môi trường sống.
3.2.2. Trong đội ngũ sáng tác kiến trúc còn thiếu nhân tài, thiếu những khuynh hướng có
tầm chiến luợc.
Đội ngũ chuyên gia hành nghề thiết kế kiến trúc chưa được trang bị những kiến
thức cần thiết về pháp luật và các thông tin cập nhật về tiến bộ khoa học kỹ thuật có
liên quan đến nghề nghiệp chuyên môn và về một phương pháp thiết kế kiến trúc
mới.
Một bộ phận kiến trúc sư còn coi trọng lợi ích kinh tế thuần tuý, chưa đề cao đạo
đức nghề nghiệp, nên đã chạy theo thị hiếu thị trường.
3.2.3. Trong quản lý kiến trúc còn có những biểu hiện buông lỏng, né tránh, hữu huynh;
thiếu định hướng phát triển lâu dài và thiếu văn bản quy phạm pháp luật, khung và
các cơ chế, chính sách tạo điều kiện phát triển kiến trúc.
Quy trình kiểm soát phát triển kiến trúc lồng ghép trong quản lý đầu tư và xây dựng
còn chưa hợp lý. Tổ chức bộ máy quản lý kiến trúc, quy hoạch ở các cấp, các ngành
còn thiếu hệ thống. Năng lực cán bộ, công chức quản lý kiến trúc và quy hoạch ở
các cấp nhìn chung còn bất cập.
3.2.4. Công tác đào tạo kiến trúc sư chưa được đổi mới. Chất lượng đào tạo kiến trúc sư
chưa cao, vẫn còn nặng nề về số lượng. Nội dung chương trình giảng dạy còn chậm
được cải tiến; trình độ đội ngũ cán bộ giảng dạy còn hạn chế; cơ sở vật chất phục vụ
giảng dạy còn thiếu thốn. Việc đào tạo sau đại học, thạc sĩ, tiến sĩ còn tràn lan, trình
độ chưa tương xứng với bằng cấp, chưa coi trọng đào tạo chuyên gia làm công tác
nghiên cứu, lý luận, phê bình và đào tạo lại cho các chuyên gia đang công tác.
4. Phương hướng và nhiệm vụ phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2020
4.1. Mục tiêu
4.1.1. Mục tiêu tổng quát
hoá, hiện đại hoá đất nước
Thành quả phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong 15 năm đổi mới đã tạo ra
tiền đề phát triển kiến trúc, làm cho các đô thị, khu dân cư nông thôn phát triển
mạnh mẽ, khối lượng xây dựng các loại công trình gia tăng, bộ mặt kiến trúc cảnh
quan đô thị - nông thôn được cải thiện rất đáng kể.
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chủ trương tiếp tục phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa
đang mở ra những nhu cầu và khả năng to lớn cho sự phát triển kiến trúc, tạo ra
những cơ hội mới cho sự sáng tạo của các kiến trúc sư trong việc xây dựng chỗ ở và
tạo lập môi trường sống của con người.
Tuy nhiên, kiến trúc không chỉ là kết quả của kinh tế, mà còn là động lực của sự
phát triển kinh tế. Sự phát triển của kiến trúc đã góp phần thúc đẩy ngành công
nghiệp, xây dựng nước nhà đã giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân,
chiếm tỷ lệ 36,6% trong tổng giá trị sản lượng quốc dân.
4.2.2. Phát triển kiến trúc phải phù hợp với đường lối của Đảng về xây dựng và phát
triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Nền văn hoá, nghệ thuật của nước ta được hình thành và phát triển qua nhiều năm
lịch sử do công lao to lớn cuả 54 dân tộc đã vun đắp nên. Vì thế nó rất đa dạng,
phong phú và có bản sắc riêng.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ V của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII và
Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ "Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội,
22
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá". Kiến trúc là hiện thân của văn hoá, là tấm gương phản ánh trình độ văn
minh của một xã hội, vì vậy, phát triển kiến trúc phải quán triệt quan điểm của
Xuất phát từ đặc điểm trên, công tác phát triển kiến trúc phải bắt nguồn từ yêu cầu
cuộc sống, các hoạt động của con người, xã hội, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh
tế, trình độ khoa học - kỹ thuật và văn hoá để xây dựng môi trường vật chất và tổ
chức chỗ ở, làm việc nghỉ ngơi giải trí phù hợp. Trong môi trường đó, những công
trình kiến trúc có giá trị toàn diện về các mặt công năng, nghệ thuật, giá thành phù
hợp với điều kiện và trình độ kinh tế của từng giai đoạn phát triển sẽ đem lại niềm
tin, hạnh phúc, sự sáng tạo cho các thành viên xã hội.
4.2.5. Phát triển kiến trúc trên cơ sở áp dụng có chọn lọc các tiến bộ khoa học công
nghệ hiện đại và thích hợp.
23
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
Khoa học kỹ thuật là cơ sở cho sự sáng tạo kiến trúc, giúp cho kiến trúc những bước
phát triển mới. Sự giao lưu văn hoá, kinh tế thúc đẩy công nghệ xây dựng ở nước ta
phát triển, cho phép sử dụng vật liệu xây dựng, kết cấu mới, trang thiết bị và công
nghệ thi công hiện đại trong sáng tạo kiến trúc.
Việc ứng dụng các thành quả khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại của thế giới
vào Việt Nam cần được cân nhắc nhiều mặt để chọn được công nghệ xây dựng phù
hợp, tránh nguy cơ huỷ hoại môi trường. Ngoài ra, sự áp dụng rộng rãi công nghệ
mới thiếu cân nhắc trong xây dựng và kiến trúc của thế giới có thể sẽ dẫn tới mất đi
bản sắc địa phương trong xu thế "toàn cầu hoá kiến trúc". Vì vậy, việc du nhập khoa
học công nghệ xây dựng của thế giới vào nước ta cần được nghiên cứu, áp dụng có
chọn lọc vừa đảm bảo tính hiện đại, vừa không làm mờ nhạt đi bản sắc dân tộc của
kiến trúc nước nhà.
Do đặc điểm của thời đại có nhiều kỹ thuật cùng tồn tại, nên trong phát triển kiến
trúc cần áp dụng đồng thời các giải pháp thích hợp với địa phương gồm kỹ thuật
truyền thống, công nghệ thích hợp (appropriate technology) và kỹ thuật cao (high
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
TS.KTS. LÊ TRỌNG BÌNH
mục tiêu gắn kết các công trình kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên tạo thành một
chỉnh thể hài hoà, một hình ảnh đô thị đặc trưng đa dạng trong sự thống nhất.
Phát triển tổng thể kiến trúc là một quá trình tái hoà nhập giữa quá khứ, hiện tại với
tương lai bao gồm việc cải tạo, nâng cấp giá trị làm hồi sinh các khu vực đô thị hiện
có, đồng thời phát triển các công trình và khu đô thị mới, hiện đại, có cơ sở hạ tầng
đồng bộ, sao cho giữa cải tạo và xây dựng mới được kết hợp hài hoà, môi trường
văn hoá kiến trúc truyền thống được đổi mới, song vẫn không mất đi bản sắc của
riêng mình.
Trong tổng thể kiến trúc, mỗi một công trình phải là một bộ phận cấu thành bố cục
chung không gian đô thị. Do đó, việc tạo lập và hình thành một công trình kiến trúc
trong tổng thể kiến trúc đô thị phải tuân thủ nguyên tắc kết hợp chung với riêng, cá
nhân với cộng đồng, quá khứ với hiện tại và tương lai, nói một cách tổng quát là
mọi việc cải tạo, xây dựng trong đô thị phải tuân thủ các quy tắc quản lý quy hoạch
và xây dựng đô thị theo một cơ chế kiểm soát chặt chẽ từ khâu địa điểm, cấp chứng
chỉ quy hoạch, thiết kế, đầu tư, giao đất, xây dựng đến khâu đăng ký nhà đất nhằm
tạo nên một trật tự kiến trúc phù hợp với không gian và thời gian; từng bước giảm
tỷ lệ xây dựng các công trình không có thiết kế, không phép, trái phép, xây dựng tự
phát manh mún để tăng dần tỷ lệ xây dựng phù hợp với quy hoạch và pháp luật.
4.3.2. Thiết kế và phát triển Kiến trúc các thể loại công trình
a/ Thiết kế và phát triển Kiến trúc nhà ở
- Tạo ra môi trường cư trú phù hợp với nhu cầu tâm sinh lý của cư dân, coi trọng việc
bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái.
- Thoả mãn nhu cầu đa dạng, đảm bảo cung cấp nhà ở cho xã hội với nhiều loại hình
với các tiêu chuẩn và giải pháp phù hợp.
- Sử dụng tiết kiệm đất xây dựng phù hợp với quy định của quy hoạch xây dựng.
- Công nghiệp hoá phát triển nhà ở phù hợp với điều kiện của từng địa phương, nhằm
thu hút các nguồn lực phát triển, sử dụng vật liệu, áp dụng hợp lý kỹ thuật truyền