Tài liệu Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể. - Pdf 10

Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô
thị – các trường hợp cụ thể
1 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể

GIỚI THIỆU VỀ CUỐN SÁCH

Cuốn sách dành cho những an quan tâm đến việc thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực Quản lý

2 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể

Cuốn sách này sẽ được bắt đầu bằng việc giải thích khung phân tích giới được xây dựng cụ thể
cho dự án SEA-UEMA. Khung này đưa ra những khái niệm và lĩnh vực quan tâm nhằm tiến
hành phân tích giới, và đây được coi như là những chỉ dẫn cho việc tiến hành phân tích giới.
Các chương tiếp theo là những trường hợp cụ thể trong đời sống từ bảy quốc gia Đông Nam Á và
được chia thành ba tiểu lĩnh vực: nước và vệ sinh, ô nhiễm không khí và quản lý rác thải. Và
cuối cùng của từng trường hợp nghiên cứu sẽ đưa ra một số câu hỏi gợi ý.
Chúng tôi cũng đề xuất rằng những người sử dụng cuốn sách này nên đọc kĩ phần khung phân
tích giới trước, sau đó xem xét các trường hợp nghiên cứu cụ thể. Những trường hợp được sắp
xếp ngẫu nhiên và không cần thiết phải đi qua các trường hợp này một cách thứ tự. Người sử
dụng có thể thoải mái lựa chọn những trường hợp liên quan đến quốc gia của mình hay lựa chọn
những trường hợp trong cùng bối cảnh lĩnh vực. Khi đã có ý tưởng cụ thể về khung phân tích,
chúng tôi cũng khuyến khích người sử dụng phân tích giới cho các trường hợp. Người sử dụng
cũng nên suy nghĩ về các câu hỏi được đưa ra ở phần cuối của các trường hợp, những câu hỏi
này nhằm giúp đỡ người sử dụng trong việc đào sâu hoặc mở rộng những phân tích.
Lời cuối
Một điều quan trọng đó là phân tích giới là một quá trình khám phá và tìm hiểu, xác định đường
đi đến với mục tiêu bình đằng giới và trao quyền cho phụ nữ. Khung khái niệm phân tích giới và
những câu hỏi hướng dẫn, tất cả đều hướng đến mục đích này. Cung cấp những câu trả lời cho
những câu hỏi này hay đưa ra một khung phân tích sẵn có sẽ làm hạn chế suy nghĩ của người sử
dụng và do đó, chúng tôi không cung cấp một câu trả lời nào.
Những người làm công tác đào tạo có thể sử dụng cuổn sách này, và có thể tự điều chỉnh độ dài
của các trường hợp nhằm làm cho chúng dễ dàng được sử dụng trong các chương trình tập huấn.

ĐƯA GIỚI VÀO CÁC DỰ ÁN

Nhiều dự án phát triển gặp phải những vấn đề tương tự trong việc thiếu nhận thức về giới, thiếu
năng lực cho việc phân tích giới, thiếu số liệu và thống kê để tiến hành phân tích giới v.v… Một
trong những chiến lược chính được sử dụng trong việc lồng ghép giới đó là việc tạo ra các khung
phân tích giới và bảng kê kiểm tra các vấn đề giới (Moser và Moser 2005; Levy 1992). Có một
nhu cầu thực sự từ những người thực hiện dự án trong việc học “làm thế nào” để “đưa giới” vào
dự án nhằm lồng ghép những khía cạnh giới vào dự án (Warren 2007). Các khung phân tích giới
được giả định sẽ giúp người làm dự án “đưa giới” vào dự án. Nhưng cụ thề một khung phân tích
giới là cái gì? ADB (2003) đã chỉ ra rằng một khung phân tích giới là
4 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể

“Một công cụ linh động với những mục đích cụ thể để hỗ trợ việc xây dựng và thực hiện
các chương trình và dự án làm tăng tối đa hiệu quả và sự tham gia của phụ nữ và nam
giới, và bao gồm những sắp xếp thực hiện hiệu quả các chiến lược, chính sách, can thiệp
và dự án”
Định nghĩa này đã chỉ ra rằng khung phân tích giới là một công cụ nhằm cung cấp những ý
tưởng và thông tin cụ thể cho một mục đích cụ thể của một dự án. Tuy nhiên, nhiều bàn luận về
khung phân tích giới lại chỉ ra một cách khác. Khung phân tích giới tồn tại không phải để đưa
vào dự án, mà để chỉ ra những cách nhìn khác nhau vào hiện tượng. Và mục đích cuối cùng
không phải để cho dự án hiệu quả mà là thay đổi các cách và giá trị vẫn thường được làm để đạt
được bình đẳng giới. Và như thế, Kabeer chỉ ra rằng không có một cách chính sách để “làm các
vấn đề giới” và:
Mục đích chính của khung phân tích đó là gây nên chú ý vào các quá trinh mà ở đó sự
khác biệt giới tính đã được chuyển thành sự bất bình đẳng xã hội về giới tính trong các xã
hội khác nhau (Kabeer, 1999:11).
Hai định nghĩa này từ hai phương hướng khác nhau dựa trên những giá trị khác nhau. Như
Warren (2007) đã lập luận, khung phân tích giới dựa trên những giá trị và hệ tư tưởng và không
thể hiểu được nó nếu không hiểu về những giá trị đã hướng đến việc xây dựng khung phân tích.
Tuy nhiên, khi các khung phân tích được ứng dụng tại thực địa, hai cách suy nghĩ này không cần

Hướng dẫn trong phân tích về nước và vệ sinh do Wendy Wakerman xây dựng (1995) trong quá
trình ESCAP (2003) xây dựng một loạt những chỉ số giới sử dụng những thống kê kinh tế vĩ mô.
Cũng đã có những khung phân tích đã được xây dựng hoàn thiện và được ứng dụng như khung
phân tích Harvard, Moser, Khung ma trận phân tích giới, Khung trao quyền của Lơngwe, và cách
tiếp cận quan hệ xã hội của Naila Kabeer. Khung phân tích giới cho lĩnh vực QLMTĐT ở ĐNA
đã được xây dựng vì:
“Không có một tiêu chuẩn lý thuyết nào về phát triển, giới và môi trường, nhưng có
khung phân tích bối cảnh về sự phát triển, phụ nữ và môi trường phản ứng và tương tác
với nhau. Điều đó để nói rằng, quan hệ giữa phụ nữ và môi trường chỉ có thể được hiểu
thông qua phân tích thể chế, mà ở đó hai yếu tố này tương tác với nhau, nơi mà ở đó sự
phát triển diễn ra” (Zein-Elabdin, 1996, p.930).
Do đó, để cho kết quả tốt nhất, một khung phân tích tách biệt phải được xây dựng cụ thể cho
từng bối cảnh và vấn đề cụ thể. Hơn nữa, khung phân tích giới được ứng dụng tại thực địa trong
quá trình xây dựng dự án sẽ không phải lúc nào cũng do những chuyên gia giới thực hiện. Mục
đích của việc phát triển khung phân tích giới thực sự đã cho phép những chuyên gia không thuộc
lĩnh vực giới tham gia vào việc phân tích giới. Theo nghĩa này, cần thiết phải xây dựng khung
phân tích giới mà ở đó cần hoàn cảnh hoá rõ rang, thậm chí khó có thể thực hiện trong từng và
mỗi bối cảnh cụ thể.
QLMTĐT là một lĩnh vực tương đối mới. Tổng quan nghiên cứu về phụ nữ/những khía cạnh giới
và môi trường chỉ ra rằng vai trò phụ nữ, trách nhiệm và việc sử dụng nguồn lực như đất, rừng và
nước. Những nhấn mạnh về nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường thường đi đôi với tài
nguyên thiên nhiên. Levy (1992:144) chú ý “cách đơn giản nhất gắn giới và môi trường là việc
sử dụng nguồn tài nguyên của phụ nữ và nam giới”, nhận ra những hệ thống sản xuất và tiêu thụ
nơi họ đang vận hành trong những bối cảnh cụ thể”.
6 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể


Trong bối cảnh QLMTĐT, sản xuất và tiêu thụ không trực tiếp với nhau, chúng phụ thuộc lẫn
nhau. Do đó, ngoài sản xuất và tiêu thụ, chúng ta cần chú ý đến lao động và những dịch vụ cung
cấp. Vai trò của thị trường và nhà nước như là những người giữ cổng hay những rào cản của lao


1
16.000VNĐ = 1 Đôla Mỹ
7 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể

như quản lý chất thải rắn là những gánh nặng cho phụ nữ do phân chia lao động giới truyền
thống. Phụ nữ thường là người quản lý tài chính trong gia đình, và điều này là những gánh nặng
cho họ vì việc mua nước sẽ làm cho kinh tế của gia đình khó khăn hơn, điều này dẫn đến việc họ
phải làm việc dài hơn và ít tiền hơn cho việc mua thức ăn. Ở Philippine, người dân thường có xu
hướng sử dụng nước bị ô nhiễm làm nước uống nếu như nguồn cung cấp nước uống bị cắt cho
việc chưa trả tiền (Rivetra-Santander, 2004).
Là những người phải đi lấy nước, phụ nữ và trẻ em gái thường bị ảnh hưởng nhiều hơn. Ngoài
tiền, sức khỏe và thời gian bỏ ra nhiều hơn, sức khỏe thể chất của phụ nữ cũng bị ảnh hưởng cho
việc thiếu các dịch vụ môi trường đô thị. Ở Surabaya, 66.6% người trong nhóm được nghiên cứu
sử dụng lòng sông cho việc đi vệ sinh và sử dụng nước sông hồ để tắm, mặc dù những hoạt động
này gây nên những vấn đề không an toàn cho phụ nữ (Wisinubroto, 2007).
Nhà xí ở trường học cũng gây ra những ảnh hưởng giới, đặc biệt ở những học sinh lớn.
Syphoxay (2005) nghiên cứu tại một trường cấp ba ở Vientianne, Lào tìm ra rằng 68% học sinh
nữ về nhà để đi vệ sinh trong khi chỉ có 38% học sinh nam làm điều này. Điều này bởi vì nhà xí
ở trường học rất bẩn thỉu, và học sinh nữ cảm thấy ngượng ngùng khi sử dụng những nhà xí gần
trường học. Trang thông tin điện tử về giới phát hiện ra rằng học sinh nữ, đặc biệt là học sinh
mới lớn bỏ trường học vì thiếu những trang bị vệ sinh đúng cách.
Nhà vệ sinh thường được nam giới thiết kế, trong khi những người này thường không nhạy cảm
với những nhu cầu cụ thể của các trẻ em gái. Nhà vệ sinh của trẻ em trai và trẻ em gái thường
được xây dựng quá gần nhau. Chỗ đi tiểu cho các bé trai thường quá cao nên thường xuyên chạy
sang chỗ vệ sinh của các bé gái để đi vệ sinh. Trích dẫn trong một báo cáo của UNICEF của một
nhóm làm việc liên tổ chức về nước và giới (2004) chỉ ra rằng một dự án về vệ sinh cho các
trường học với những trang thiết bị riêng rẽ cho các trẻ em trai và trẻ em gái giúp đẩy nhanh việc
đi học của trẻ em trai và gái đã giúp tăng số lượng trẻ em gái đi học tăng 11% qua các năm từ
năm 1992 đến 1999.

và nam giới. Ở Yogyakarta, Indonesia, dịch vụ thu gom chất thải rắn chỉ phục vụ được khoảng
25% các hộ gia đình (Sumiarani và Ayum, 2005). Phụ nữ thường có xu hướng bị thiệt thòi nhiều
hơn do việc thiếu các dịch vụ do họ phải chịu trách nhiệm về việc vứt rác của gia đình.
Ở Đông Timo, đã có báo cáo rằng vai trò của phụ nữ trong việc quản lý chất thải rắn đã gây cho
họ không chỉ những nguy hiểm sức khỏe khi tiếp cận đến những nơi dổ rác ngoài trời, mà còn
tạo nên những nguy hiểm cho họ khi những nơi vứt rác thải thường ở ngoài cộng đồng và đường
đi đến nơi đổ rác thường không an toàn
2
. Phụ nữ và trẻ em thường ở nhà nhiều hơn nam giới,
và ở những khu vực nông thôn nghèo, những phụ nữ làm việc tại gia đình thường có phải làm
việc ở những nơi có điều kiện vệ sinh không an toàn vì nhà và nơi làm việc là mộ
Ngamnetr (2005) báo cáo rằng những người lao động làm công việc tại gia đình thường làm việc
dưới điều kiện không đảm bảo sức khỏe, không thông thoáng, nóng, chất độc hại hóa học và bụi,
hệ thống rác thải nghèo nàn, và thời gian làm việc lâu tại nhà. Mạng lưới HomeNet ở Thái Lan
đã và đang giới thiệu một công nghệ sạch cho những người làm việc tại gia đình nhằm cải thiện
điều kiện làm việc của họ.
Một điều quan trọng đó là phụ nữ phải được tham gia vào việc lên kế hoạch quản lý chất thải rắn.
Ở những nơi như Lào và Thái lan, chất thải được ném trực tiếp xuống kênh, rạch và làm ô nhiễm
kênh, rạch. Chounlemountry (2007) báo cáo rằng các cộng đồng ở ven các kênh ở Vientiane, phụ

2
Đối thoại cá nhân với Gabrielle Groves
9 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể

nữ nhạy cảm hơn nam giới về tầm quan trọng của việc quản lý chất rắn hơn nam giới (55% phụ
nữ, 46% nam giới).
Trong những người làm công nhân rác thải, phụ nữ thường là người thu lượm rác, trong khi nam
giới thường là người vận chuyển
3
. Do đó, phụ nữ dễ bị tổn thương hơn nam giới khi tiếp xúc với

qutét và thu lượm rác, trong khi đó nam giới vận chuyển rác. Việc thu lượm rác được thực hiện bằng tay, do đó có
những nguy cơ sức khoẻ cao hơn. Họ cũng không được đào tạo hiệu quả trong việc quản lý việc truyền bệnh như thế
nào (Chương trinh quản lý đô thị, 2001)
10 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể

một vài cảnh sát giao thông đã giấu những triệu chứng bệnh của họ do sợ mất việc. Họ cũng chỉ
ra rằng nếu những định kiến như vậy là đúng, sự khác biệt sẽ rõ hơn nhiều.
Phụ nữ và nam giới nghèo cũng phải đối mặt với ô nhiễm khí tại nơi làm việc. Ở Thái Lan, phụ
nữ làm việc trong ngành may mặc bị ảnh hưởng rất nhiều do bệnh phổi nhiễm bụi bông, bệnh
phổi do bụi vải. Hơn ba phần tư công nhân đã đòi chủ lao động phải bồi thường về những thiệt
hại này (trang điện tử CSR. Ngamnetr (2005) cũng chỉ ra nhiều người làm việc tại gia đình phải
làm việc trong những điều kiện không thoáng mát.
Phụ nữ là những người phải chịu thiệt thòi nhiều nhất do ô nhiễm khí trong gia đình do việc nấu
nướng. Trang thông tin của Ngân hàng thế giới Philippine chú ý về một nghiên cứu của Sở Y tế
ở Manila năm 1999 chỉ ra 48% trong 108 hộ gia đình được lựa chọn một cách ngẫu nhiên đã
vượt qua mức ô nhiễm khí cho phép trong gia đình. Nghiên cứu kết luận rằng “ô nhiễm khí có
thể lả một nguyên nhân chính, các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khói trong nhà do đun
bằng dầu hỏa, củi, than cũng là những yếu tố chính dẫn đế việc ô nhiễm trong gia đình.
Ô nhiễm khí trong gia đình do việc nấu nướng bằng dầu cũng có xu hướng ảnh hưởng sức khỏe
nhiều hơn nam giới. Shretha (2006) nghiên cứu tại hai làng ở Phnompenh, Cambodia đã phát
hiện ra rằng hầu hết những người bị bệnh đường hô hấp là phụ nữ. Hơn 90% người nấu nướng
trong gia đình là phụ nữ vì họ phải dùng ít nhất từ 1-2 giờ đồng hồ hàng ngày. Khu bếp thường
nhỏ và ít thông thoáng. Chỉ có khoảng20-25% những người tham gia trong cuộc nghiên cứu sử
dụng gas cho việc đun nấu nhưng gas thường đắt hơn so với các loại chất đốt khác.
PHỤ NỮ LÃNH ĐẠO VÀ TRAO QUYỀN CHO PHỤ NỮ
Do phụ nữ bị những ảnh hưởng khác nhau do môi trường đô thị xuống cấp và vai trò đặc biệt mà
họ đang nắm giữ, nên quan niệm của họ về QLMTĐT cũng khác so với nam giới (Muller và
Schienberg). Phụ nữ không chỉ là nạn nhân mà còn là một tác nhân quan trọng trong việc quản lý
nguồn nước. Chan va Nittivatananon (2006) có ghi lại rằng vai trò của phụ nữ quyết định những
công nghệ tiết kiệm nước ở Malaysia, và nhấn mạnh sự tham gia của phụ nữ trong quản lý nước

2007). Điều này chỉ ra rằng nếu phụ nữ bị phụ thuộc kinh tế vào chồng họ, sự lựa chọn của họ sẽ
rất hạn chế. Họ không có sự lựa chọn nào nhưng vẫn phải tiếp tục các quan hệ không tốt đẹp. Ở
Đông Timo, 50% phụ nữ bị bạo lực trong vòng một năm qua nhưng chỉ có 15% các trường hợp
được ghi lại và báo cáo. Điều này chỉ ra những con số chỉ là bề nổi và vấn đề thực sự có thể còn
nghiêm trọng hơn nhiều (Robertson, 2007).
Sự tham gia hạn chế của phụ nữ sẽ thực sự trở thành vấn đề. Sự tham gia của họ sẽ liên quan trực
tiếp đến sự hiệu quả của dự án, như Wendy Wakeman (1995) đã trích dẫn nghiên cứu của Deepa
Narayan hơn 100 dự án cung cấp nước ở khu vực nông thôn.
Những trường hợp được xem là thành công cũng chỉ ra sự hiệu quả của dự án không phải là do
lao động tự nguyện của phụ nữ, nhưng bởi vì do sự tham gia của phụ nữ, việc thiết kế của dự án
đã thay đổi. UNDP (2003:60) đã báo cáo về một trường hợp ở Indonesia, nơi một nhóm phụ nữ
đã chỉ ra được những vấn đề sai trong việc nghiên cứu và đưa những nhu cầu của phụ nữ vào
chương trình cũng như thành lập các ủy ban để tham gia vào việc thiết kế hệ thống cung cấp
nước mới. Enabor và các đồng nghiệp (1998) đã ghi lại kinh nghiệm ở khu nhà ổ chuột về một
dự án đã được xây dựng để phụ nữ có thể kiểm soát và quản lý đất. Phụ nữ đã thực hiện chương
trình và huy động được sự tham gia của nam giới và nam giới.
Nhóm làm việc liên cơ quan về Giới và nước đã báo cáo về chương trình vận động Aqua-Danone
ở Indonesia, phụ nữ đã tham gia một cách hiệu quả trong việc chia sẻ thông tin với gia đình và
thông qua mạng lưới không chính thức và nam giới trong việc chia sẻ thông tin ngoài gia đình và
thông qua mạng lưới chính thức. Thông qua sự tham gia trong chương trình dự án vận động, chia
sẻ những thông tin tập trung vào mảng vận động và thảo luận những vấn đề một cách hiệu quả
với các thành viên khác.
biệt gì về địa vị của họ và chỉ làm tăng thêm gánh nặng cho họ. Nhưng nếu một cách khác, nếu
điều đó được nhìn nhận là công việc chính thức của cộng đồng với vai trò lãnh đạo, điều đó sẽ
thấy được địa vị của họ trong gia đình và cộng đồng. Thậm chí việc tham gia của phụ nữ vào
hoạt động của cộng đồng có thể hạn chế ở cấp cao, và ở một số nơi, phụ nữ đã nhìn nhận như là
một người lãnh đạo gia đình và cộng đồng.
Ở Indonesia, một nhóm phụ nữ ở cộng đồng đã lãnh đạo một dự án quản lý chất thải rắn. Ở
Penang, những người lãnh đạo nữ đã thực hiện thành công việc thực hiện một mô hình về quản
lý chất rắn đã có từ trước. (Khor, 2006). Những người phụ nữ thu lượm phế thải ở Phnom pênh
12 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể

13 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể

đã cùng nhau họp và cải thiện hệ thống thoát nước mưa và điều kiện vệ sinh ở nơi làm việc
(Kusakabe, 2006). Điều phổ biến ở những trường hợp này đó là định nghĩa về phụ nữ và công
việc của phụ nữ đã thay đổi.
Phụ nữ sẽ không còn được nhìn nhận như là những người nghe tuân thủ và thực hiện mà là
những nhà lãnh đạo. Phụ nữ không còn bị nhìn nhận là những người thu lượm phế thải bị động
mà còn là những người quản lý thị trường. Công việc thu lượm rác của phụ nữ không còn được
nhìn nhận là việc thêm vào công việc gia đình của họ nhưng còn là một dự án về quản lý chất
thải rắn cho cộng đồng của họ.
KHUNG PHÂN TÍCH GIỚI TRONG VIỆC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ Ở ĐÔNG
NAM Á
Tổng quan lý thuyết về giới và QL MT ĐT tập trung vào khu vực Châu á, đặc biệt là khu vực
ĐNA đã chỉ ra những lĩnh vực chính sau:
1. Những tác động khác biệt giới do sự xuống cấp của môi trường đô thị.
2. Những khác biệt giới trong việc tiếp cận đến các dịch vụ liên quan đến môi trường đô thị
và,
3. Khác biệt giới trong động lực và khả năng trong việc tạo nên những thay đổi.
Những ảnh hưởng khác biệt giới do sự xuống cấp của môi trường đô thị
Như một kết quả của việc phân công lao động theo giới, phụ nữ và nam giới nghèo thường phải

phụ nữ và nam giới định vị và xác định họ ở những nơi và khu vực cụ thể và hạn chế/di chuyển ở
những khu vực công cộng ở Mumbai. Sự di chuyển của phụ nữ và nam giới, cũng như suy nghĩ
về không gian của họ cũng có tác động lên sự tham gia của họ đến môi trường đô thị và việc
quản lý môi trường này. Nếu họ coi những không gian này là không gian của họ, tình hình về vệ
sinh có thể được thay đổi tốt hơn. Người ta quan sát ở các khu nhà ổ chuột phát hiện ra rằng mặc
dù xung quanh ngoài ngôi nhà rất bẩn nhưng trong nhà được lau dọn sạch sẽ. Những người chịu
trách nhiệm về vệ sinh quan niệm rằng ngôi nhà là không gian của bản thân họ, trong khi bên
ngoài là khu vực công cộng và đó là nơi họ không gây được ảnh hưởng.
Trong công việc của mình về cộng đồng rác thải về sự án mìn đã phải hiện ra rằng mọi người
tham gia vào những vấn đề xã hội như là những sở thích riêng. Tuy nhiên cứu này không tách
biệt giới tính, nhưng một điều quan trọng cần ghi lại đó là dự án này có thể được định ra để thiết
lập nên mối liên hệ quan trọng giữa sở thích cá nhân và những quan tâm xã hội và sự phát triển
của cơ chế chia sẻ thông tin hiệu quả. Sẽ có thể xây dựng một quan niệm rằng quản lý rác thải ở
cộng đồng không phải chỉ là trách nhiệm của mọi người mà còn là lợi ích của họ, từ đó có thể
mở rộng quan niệm của nhiều người rằng họ chỉ làm những gì mà họ quan tâm.
Ở Dili, Đông Timo, phụ nữ rất khó trong việc tiếp cận đến nơi thu lượm rác vì con đường đến đó
không an toàn.
4
Sự hạn chế sự di chuyển của phụ nữ có thể hạn chế cơ hội việc làm, và làm cho
họ phải làm những công việc như thu lượm rác. Những không gian đô thị có thể nguy hiểm cho
phụ nữ, và những lo lắng về sự an toàn có thể làm ảnh hưởng đến việc họ sẽ làm gì nhằm đảm
bảo sự an toàn cho họ. Nhưng cần phải chú ý rằng lý do chính của việc hạn chế sự di chuyển của
phụ nữ chính là sự không an toàn. Do đó, cái chúng ta cần phải chú ý ở đây là thiếu sự di chuyển
và thiếu sự an toàn. Phadke (2007) đã lập luận rằng, “bảo vệ” phụ nữ chống lại sự không an toàn

4
Nói chuyện cá nhân với Garbielle Groves
15 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể

sẽ giúp họ tiếp cận đến những không gian công cộng, và điều quan trọng là phụ nữ phải đòi hỏi

có nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ. Một vài người di cư từ nông thôn ra thành thị
vẫn có đăng ký hộ khẩu ở nông thôn, và điều này gây ra những khó khăn cho họ trong việc đòi
hỏi quyền của mình về những cơ sở vật chất tại nơi họ thực sự cư chú. Ở Thái Lan, chỉ có thể
16 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể


tiếp cận 30 bath tiền chi phí sức khỏe nếu đăng ký hộ khẩu
5
. Không phải là công dân chính thức
đã khiến nhiều người công nhân nhập cư không tiếp cận được các dịch vụ sức khỏe tối thiểu.
6

Cơ hội việc làm được tạo nên trong lĩnh vực quản lý môi trường đô thị. Những người phụ nữ
nghèo cũng ít khi nắm được những cơ hội việc làm trong lĩnh vực QLMT ĐT vì họ phải hỗ trợ
cho gia đình và có ít cơ hội cho họ. Muller và Schienberg đã ghi lại rằng phụ nữ vượt qua những
rào cản do khoảng cách và văn hóa nhằm tạo ra những công việc tạo công ăn việc làm như thu
lượm rác. Phụ nữ đã có những nỗ lực lớn trong những công việc liên quan đến rác hơn nam giới
để tìm ra cơ hội việc làm. Fong và các đồng nghiệp (1996:19) báo cáo về thành công của hợp tác
xã của phụ nữ đã quản lý những cây tái sản xuất rác thành phố nhằm sản xuất và bán phân từ rác
này cho người dân địa phương để trồng cây ở Mexico.
Mặc dù thu nhập là rất quan trọng cho phụ nữ, nhưng những nhu cầu của họ thường không được
quan tâm. Phụ nữ thường bị loại trừ khỏi công việc nếu chính quyền thành phố quyết định cần có
thêm công nhân được trả tiền trong việc dọn dẹp. Gupta đã phát hiện ra rằng trong trường hợp
này, 70% những người được thuê là nam giới. Khi những công nghệ mới được giới thiệu, việc
vận hành thường được giao cho nam giới. Trong các dự án nước và vệ sinh ở Thái Lan và
Cambodia, khi máy lọc nước được lắp đặt, nhiều công việc được phân công cho người địa
phương. Do phụ nữ làm rất nhiều công việc tình nguyện trong cộng đồng, nhiều công việc không
được trả lương mới được giao cho phụ nữ như là một sự thêm vào ngoài công việc gia đình. Điều
này cũng có nghĩa là tăng công việc không được trả lương mặc dù mọi người trong cộng đồng
đều được hưởng lợi ích từ việc môi trường được cải thiện trong cộng đồng. Sự tự do này là một

cảm với các vấn đề ô nhiễm khí hơn những người khác.
Tất cả những ví dụ đó chỉ ra tầm quan trọng của việc hiểu và chấp nhận những kiến thức của phụ
nữ trong lĩnh vực môi trường. Mặc dù phụ nữ có đủ kiến thức và có vai trò lớn trong việc quản lý
môi trường đô thị, nhưng họ thường không có những cơ hội để tham gia vào việc ra quyết định
trong các quá trình QLMTĐT. Mặc dù phụ nữ có nhiều kiến thức và có nhu cầu lớn hơn trong
việc cải thiện môi trường đô thị, nhưng họ lại thường thiếu nguồn lực để tạo nên những sự thay
đổi. Trang thông tin của Ngân hàng thế giới về ô nhiễm khí trong nhà đã liệt kê các cách nhằm
cải thiện ô nhiễm khí trong gia đình: ví dụ như thiết kế ống khói tốt hơn, hệ thống thông hơi tốt
hơn, chất đốt sạch hơn, tấm chắn ở nhà để cách biệt nơi nấu ăn và nơi ngủ/sống, và để trẻ em
tránh khỏi khói. Những cách can thiệp này là những biện pháp hiệu quả nhằm giảm ô nhiễm
trong nhà nhưng tất cả những sự thay đổi cần là phân bổ nguồn lực trong gia đình cũng như sự
thay đổi hành vi và vai trò của phụ nữ và nam giới.
Nhằm cung cấp nguồn lực cho phụ nữ để tạo ra sự thay đổi, Ngân hàng thế giới đã rất ủng hộ
việc xây các lò sưởi trong toà nhà như là một cơ hội tạo công ăn việc làm cho phụ nữ. SEWA
cũng đã thành công trong việc cải thiện dịch vụ cung cấp nước thông qua việc kết nối với các
chương trình phát triển doanh nghiệp vi mô và nâng cao năng lực cho phụ nữ. Thời gian tiết
kiệm được từ lấy nước có thể sử dụng cho công việc tạo thu nhập, và điều này sẽ giúp giảm
nghèo ở những vùng khô hạn (tr 2488). Bennett (1998) đã ghi lại rằng thậm chí khi phụ nữ
không tham gia chính thức vào những cơ quan ra quyết định nhưng họ vẫn có thể gây ảnh hưởng
chính sách bằng việc làm cho vấn đề dễ dàng nhận thấy. Bà đã miêu tả mộ trường hợp ở Mexicô
nơi một nhóm phụ nữ đã có chính sách nước quốc gia bằng việc tiếp tục thử nghiệm và làm cho
vấn đề trở nên dễ dàng nhìn nhận.
THẢO LUẬN VÀ KẾT LUẬN
Những thảo luận trên đã được tóm tắt trong Sơ đồ 1. Những nghiên cứu và những trường hợp
trước đó đã chỉ ra những yếu tố giới trong QLMTĐT có thể được chia ra thành những vấn đề lớn
1) Sự dễ bị tổn thương mang yếu tố giới, 2) sự tiếp cận mang yếu tố giới đối với các dịch vụ/cơ
hội công việc/tạo thu nhập, 3) những khả năng mang yếu tố giới nhằm tạo nên sự thay đổi.
Những điều này đều do quan hệ xã hội ảnh hưởng, mà điều này lại được quy định bởi 1) sự phân
18 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể


đồng, phụ nữ thường được coi như là những lao động tình nguyện. Mặc dù sự tham gia này
không làm cho sự đóng góp của họ dễ được nhìn thấy, nó không cần thiết dẫn đến việc vai trò
của phụ nữ sẽ được xác định lại nhằm nhìn nhận đúng hơn. Đã có những trường hợp thành công
nơi phụ nữ đã thoát khỏi những vai trò truyền thống như trường hợp ở Penang (Khor, 2006). Cần
phải có một sự hiểu biết tốt hơn về quá trinh trong đó sự thay đổi nảy sinh.

8
Một điều phố biến đó là khi có một nhận định về giới được đưa ra trong dự án, điều này thường bị bỏ qua với lý do
rằng “Đây không phải là một dự án về giới”. Hẳn do đó, nếu dự án không có một mục tiêu mạnh mẽ về trao quyền
cho phụ nữ, nó sẽ được coi là sự trở lại cho dự án. May là điều này không phải lúc nào cũng xảy ra. Do đó, khung
này đặt giới vào điểm trung tâm nhằm đặt bình đẳng giới là mục tiêu cuối cùng của việc can thiệp vào dự án.
19 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể

Trong mối lien quan này, cách tiếp cận mà Phadke (2007) và Ranade (2007) đã thực hiện để tìm
hiểu sự di chuyển và ý nghĩa đi kèm tới những nơi có những quan điểm quan trọng để khám phá.
Phân tích giới trong QLMTĐT vẫn còn trong quá trình sơ khai để nhìn để xem xét về tính dễ bị
tổn thương và sự tham gia của phụ nữ. Đây là thời điểm quan trọng để làm sâu hơn những phân
tích giới để hiểu về quá trinh trao quyền cho phụ nữ qua các dự án QLMTĐT để phụ nữ không
còn bị đóng đinh với sự dự án về tái sản xuất, trong đó coi phần tham gia của phụ nữ như là một
phần thêm vào công việc gia đình.


phải xếp hàng và chờ đợi khoảng 10 đến 20 phút mới đến lượt mình để lấy nước. Là một người
nội trợ, phụ nữ phải làm hầu hết các công việc gia đình, trong đó có cả việc lấy nước. Việc cãi cọ
có thể thường xuyên xảy ra, chủ yếu giữa phụ nữ với nhau khi chờ đợi lấy nước. Sự yên tĩnh và
những thứ khác bị ảnh hưởng. Đã có một vài báo cáo về những tai nạn do việc cãi cọ. Một số
người dân phải thuê người khác đi lấy nước, nhưng điều đó cũng có những ảnh hưởng tiêu cực vì
khoản tiền họ tiết kiệm cũng sẽ ít đi. Phải chú ý rằng những người được thuê đi lấy nước là nam
giới và được trả tiền, trong đó phụ nữ làm việc này trong gia đình lại không được trả tiền.
Trong đầu những năm 1980, hai giếng nước đã được xây dựng ở làng thông qua chương trình Vệ
sinh và cung cấp đủ nước. Chương trình này được quản lý bởi một nhóm người được tổ chức
thông qua sự hỗ trợ của Cán bộ phát triển cộng đồng thành phố Mandaue. Nước được cung cấp
đủ thông qua hệ thống của xã hay các nhóm. Điều này có nghĩa là ít nhất là 10 gia đình cùng
dùng chung một máy nước. Tiếp cận đến nước sạch đã được nói đến. Giờ có nước cũng được lên
kế hoạch. Những người dân, đặc biệt là phụ nữ, phải dậy sớm hoặc ngủ muộn để lấy đủ nước cho
nhu cầu của gia đình. Rõ ràng, có nguồn nước là không đủ khi nói về vấn đề nước.
Việc cãi nhau, đánh nhau thường xuyên xảy ra trong cộng đồng nơi mà ai cũng muốn mình là
người đầu tiên trong khi xếp hàng lấy nước và lo sợ rằng đến lượt họ thì sẽ không còn có nước.
Cũng có một vài vụ vi phạm khi họ không chịu đóng tiền nước. Việc đóng tiền theo cơ chế cào
21 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể

bằng dường như là không công bằng. Các hộ gia đình có nhiều thành viên cũng chỉ đóng tiền
như những hộ gia đình có ít thành viên hơn.
Năm 1992, một trong hai giếng nước bị vỡ. Điều này là do nhiều sự xô sát của cộng đồng khi đi
lấy nước, hệ thống thu lượm nước không hiệu quả và việc sử dụng nước lãng phí của một số cán
bộ. Cuối cùng, sau 13 năm, Hệ thống nước nông thôn xã Tabok cũng không hoạt động. Tình
trạng nước ở xã Tabok trở nên tồi tệ. Với khoảng 7000 dân, ngôi làng đã phải đối mặt với tình
trạng thiếu nước nghiêm trọng hơn 2 năm. Mọi người lại bắt đầu đi lấy nước ở giếng khoan. Họ
không còn được đảm bảo về nguồn nước an toàn và sạch sẽ. Các vấn đề sức khỏe bắt đầu tăng
cao, đặc biệt là sự kém dinh dưỡng, đi chảy và những ảnh hưởng về da. Sụ yên tĩnh và những
ảnh hưởng xấu như là những cuộc cãi vã về nước lại xuất hiện.
Người dân không còn sự lựa chọn khác và phải chấp nhận chi phí cao của các nhà bán lẻ nước

sinh hoạt được cung c ấp nhưng hiệu quả của việc tiếp cận đến nước mà ảnh hưởng chủ yếu đến
phụ nữ vẫn là một vấn đề cần quan tâm.
Nhìn chung, dự án do TARUWAS cung cấp là:
- cung cấp và phân phối nước
- xử lý nước
- bảo tồn nước và
- vệ sinh bao gồm vệ sinh nhà vệ sinh và đường ống thoát nước mưa.

Năm yếu tố của nhà máy nước được tạo nên bởi giếng nước, máy bơm nước và bể chứa nước
nhằm đảm bảo 31,569 m3 yêu cầu của người cùng cấp. Việc cung cấp nước liên tục và sạch sẽ
trong làng là một trong những yếu tố liên quan đến một vài công ti và nhà máy vận hành trên địa
bàn làng Tabok. TARUWAS là một môi trường thân thiện với môi trường vì nó hạn chế sự tăng
nhanh của những giếng nước nhỏ và ngăn chặn muốn vào nước ngầm. Cebu là một hòn đảo do
đó nước ngầm rất dễ bị nhiễm mặn.
CUỘC SỐNG NHƯ DÒNG NƯỚC ĐANG CHẢY
Phụ nữ như là những người làm nội trợ gia đình, thường nói đến nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em
và vệ sinh, chăm sóc người ốm và sự hạnh phúc của gia đình. Việc tập trung hệ thống nhà máy
nước đã tạo điều kiện cho phụ nữ trong việc chăm sóc người ốm được dễ dàng hơn. Phụ nữ cũng
là những người quản lý tài chính trong gia đình cũng cảm thấy nhẹ nhàng hơn với tiền tiết kiệm
được từ những chi phí nước. Ước chừng hàng tháng tiền tiền đóng phí nước là 198.46 PhP. Theo
một số người dân thì điều kiện sinh sống của người dân nhìn chung đã được cải thiện do có thêm
tiền tiết kiệm và giảm được các chi phí nước. Những trận cãi vã đã giảm hẳn, điều này đã được
chứng thực trong sổ ghi chép của Lupong Tagapamayapa (Ủy ban về An toàn và trật tự của xã).
Những ghi chép cũng chỉ ra rằng phụ nữ thường xuyên liên quan đến những vụ cãi vã. Một hệ
thống các nhà máy nước với những nguyên tắc và quy định rõ ràng đã mang đến những mối quan
hệ tốt đẹp hơn giữa phụ nữ với nhau. Hệ thống quản lý nước thành công đã cho phép phụ nữ sử
dụng thời gian của mình cho những công việc sản xuất, quản lý gia đình, và củng cố quan hệ
giữa các thành viên trong gia đình và đóng góp vào sự lớn mạnh của cộng đồng. TARUWAS
cũng sử dụng phụ nữ vào những vị trí như: Thư ký ủy ban, người trông giữ máy bơm và hai
người làm kế toán. Hệ thống nhà máy nước trong thỏa thuận với Hội đồng xã cũng đã cam kết

sử dụng tối ưu từ sự đóng góp của họ đã đẩy nhanh sự phát triển của làng và hỗ trợ các dự án của
xã.
CÂU HỎI
1). Phụ nữ và nam giới bị ảnh hưởng nhiều như thế nào do việc thiếu dịch vụ nước sạch dẫn đến
gia đình?
2). Những lợi ích nào mà phụ nữ và nam giới có thể có được thông qua dự án ở những giai đoạn
khác nhau trong quá trình thực hiện dự án?
3). Làm sao để xã hội hoá giá nước có lợi cho phụ nữ nghèo hơn là giá cào bằng? Việc xã hội
hoá giá nước không lập tức đảm bảo việc cung cấp nước là thân thiện với người nghèo và bình
24 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể

đẳng giới. Những yếu tố nào cần phải được cân nhắc nhằm đảm bảo những dịch vụ tốt nhất cho
phụ nữ nghèo?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status