Thực trạng thực hiện các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 tại TPHCMx - Pdf 31

Thực trạng thực hiện các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 tại TPHCM

Trong nhiều năm qua, thực tế cho thấy rằng việc áp dụng các công cụ kinh tế
nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường ở nhiều nước đã phát huy hiệu quả. Phần lớn
những công cụ này đã kích thích những người gây ô nhiễm có khả năng hoàn thành
các mục tiêu môi trường bằng những phương tiện có hiệu quả, chi phí hiệu quả nhất.
Với những mức độ khác nhau, chúng sử dụng những nguyên tắc “người gây ô nhiễm
phải trả tiền” và “người hưởng lợi phải trả tiền”.
Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ Môi trường cũng có quy định về việc sử dụng các
biện pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, do điều kiện thực tế và đặc
thù của nền kinh tế nên đến năm 2003, Chính phủ mới ban hành Nghị đính
67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nhằm hạn chế ô nhiễm
môi trường từ nước thải, tiết kiệm nước sạch và tạo nguồn kinh phí cho Qũy bảo vệ
môi trường thực hiện việc bảo vệ, khắc phục ô nhiễm môi trường. Đây là công cụ
kinh tế đầu tiên ở nước ta áp dụng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”,
đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hoạt động quản lý môi trường.
Cũng từ bối cảnh thực tế, nhằm đáp ứng nhiệm vụ quản lý và bảo vệ môi
trường. Quốc hội đã ban hành Luật BVMT năm 2005, trong đó cũng có quy định
một số biện pháp kinh tế như Điều 13, Điều 112 Luật BVMT năm 2005 quy định về
thuế môi trường.
Năm 2010, Quốc hội cũng đã ban hành Luật Thuế bảo vệ môi trường và áp
dụng từ 01/01/2012. Các văn bản dưới luật gồm có Nghị định số 174/2007/NĐ-CP
ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn;
Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25/08/2011 về phí BVMT đối với khai thác
khoáng sản và Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg ngày 29/05/2008 của Thủ tướng
Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác
khoáng sản.
Chính phủ đã ban hành chính sách thu phí bảo vệ môi trường và ký quỹ cải tạo,
phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản là một bước tiến quan
trọng và phù hợp với xu hướng chung của thế giới trong công tác quản lý môi
trường. Tuy nhiên việc áp dụng các công cụ kinh tế này để bảo vệ môi trường sao

- Hiệu quả đạt được:
+ Có được nguồn tài chính để đầu tư cải thiện, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
tại thành phố.
+ Các đối tượng nộp phí đã quan tâm nhiều hơn trong việc hạn chế xả các chất
ô nhiễm ra môi trường và sử dụng nước tiết kiệm. Một số đối tượng nộp phí đã quan
tâm đến việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải để làm giảm thiểu các chất ô
nhiễm trước khi thải ra môi trường bên ngoài.
+ Một số đối tượng nộp phí đã chủ động hơn trong việc kê khai, nộp phí
BVMT đối với nước thải.
- Nguyên nhân:
Được sự chỉ đạo kịp thời của các cấp có thẩm quyền; Được sự quan tâm phối
hợp của các đơn vị có liên quan và sự hỗ trợ tích cực của các đơn vị truyền thông;
Được sự hỗ trợ kinh phí từ Ngân sách Nhà nước để đánh giá, lấy mẫu, phân tích
nước thải lần đầu phục vụ thẩm định tờ khai nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước
thải công nghiệp; Các đơn vị trực tiếp thu phí và các đơn vị phối hợp có bộ phận
chuyên trách.
Sở Tài nguyên và Môi trường đã sáng tạo kết hợp công tác thu phí với công tác
quản lý tài nguyên khoáng sản để yêu cầu các cơ sở công nghiệp phải kê khai nộp
phí; Việc thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt theo hóa đơn tiền nước là phù
hợp, các đối tượng nộp phí đã thực hiện nghiêm chỉnh. Đối với nước thải công
nghiệp: Việc thực hiện công tác thu phí môi trường đã dần đi vào nề nếp.
- Khó khăn – tồn tại:
Còn nhiều Doanh nghiệp chưa nhận thức được đầy đủ về vai trò của phí
BVMT và trách nhiệm của mình tỏng việc thực hiện đóng phí theo Nghị định
67/2003/NĐ-CP do đó nhiều doanh nghiệp chưa tự kê khai, hoặc kê khai không
đúng với thực tế xả thải.
Việc xác định lưu lượng và nồng độ chất ô nhiễm của từng doanh nghiệp rất
khó khăn. Chưa có các quy định xử lý cụ thể đối với các doanh nghiệp đã di dời,
giải thể còn nợ phí. Việc xử lý những doanh nghiệp cố tình không thực hiện việc kê
khai nộp phí gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Cho đến nay các trường hợp vi phạm

địa bàn đang diễn ra.
- Khó khăn – tồn tại:
Hiện nay, công tác này đã và đang triển khai, nhưng toàn bộ các giấy phép khai
thác khoáng sản đều nằm trên biển, việc lập Dự án cải tạo, phục hồi môi trường và
xác định kinh phí cho công tác cải tạo phục hồi môi trường đang khó khăn. Trong
khi đó khai thác cát trên sông và biển là quá trình tự phục hồi sau khai thác
- Giải pháp:
Để giải quyết khó khăn này, đề nghị Bộ tài nguyên môi trường có hướng dẫn
về Dự án cải tạo, phục hồi môi trường cho các trường hợp đặc thù nêu trên ( khai
thác khoáng sản trên sông và biển)
Lưu ý thêm: Luật khoáng sản mới có thêm “Phí cấp quyền khai thác khoáng
sản’ và dự thảo luật Tài nguyên nước cũng sẽ có “ Phí cấp quyền khai thác nước”;
các phí này có trùng lắp về các loại phí giữa các luật BVMT, TNKS và TNN cần có
sự nghiên cứu để hoàn thiện tốt hơn.
3. Đối với chất thải rắn:
- Thực trạng:
Tổng số phí vệ sinh và phí bảo vệ môi trường đã thu trong năm 2011 là 169,8
tỷ trong đó đã nộp Ngân sách là 33,2 tỷ đồng, bao gồm phí vệ sinh là là 25,7 tỷ và
phí bảo vệ môi trường là 7,5 tỷ đồng.
Mặc dù việc thực hiện thu phí vệ sinh và phí bảo vệ môi trường chưa thu đúng
và thu đủ tại tất cả các chủ nguồn thải và số lượng chủ nguồn thải mà các quận
huyện báo cáo chưa đúng với thực tế thống kê, tuy nhiên, bước đầu thực hiện đã thu
được phí và nộp vào ngân sách thàng phố bù đắp một phần chi phí thành phố đã chi
ra.
- Khó khăn – tồn tại:
Hiện nay, phí vệ sinh đang áp dụng theo Quyết định 88/2008/QĐ-UBND đã lạc
hậu và không còn phù hợp so với thực tế do tiền lương căn bản và giá nhiên liệu
tăng nhiều so với thời điểm xây dựng mức phí năm 2007 – 2008. Chi phí hiện nay
trả lại cho công tác thu gom tại nguồn theo Quyết định 88/2008/QĐ-UBND đã
không đảm bảo được cuộc sống của người thu gom.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status